Bản án số 26/2024 ngày 29/11/2024 của TAND huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
  • Bản án số 26/2024

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

  • Bản án số 26/2024

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 26/2024

Tên Bản án: Bản án số 26/2024 ngày 29/11/2024 của TAND huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Hương Khê (TAND tỉnh Hà Tĩnh)
Số hiệu: 26/2024
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/11/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn NGUYỄN THỊ MAI VUI- NGUYỄN TRỌNG KHUÊ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯƠNG K
TỈNH HÀ TĨNH
ơ
Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29/11/2024
V/v “Xin ly hôn tranh chấp
quyền nuôi con”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Trọng Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Tiến và ông Trịnh Xuân Minh.
- Thư ký phiên toà:Lê Thị Bích Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Huơng Khê, tỉnh Tĩnh tham
gia phiên toà: Không.
Ngày 29/11/2024, tại Hội trường xét xử số 1, Toà án nhân dân huyện Hương
Khê, tỉnh Hà Tĩnh xét x sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 62/2024/TLST-
HNGĐ ngày 01/10/2024 về việc “Xin ly hôn tranh chấp quyền nuôi contheo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/11/2024, giữa
các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mai V, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn T, G,
tỉnh H (có mặt).
Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng K, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn T, xã G, huyện H,
tỉnh H (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị
Mai V bày:
Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị Mai V anh Nguyễn Trọng K đăng ký kết hôn
vào ngày 04/06/2018, tại UBND G, huyện H, tỉnh H. Trên cở sở tự do tìm hiểu,
tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc
được một thời gian thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, do mâu thuẫn do vợ chồng
không hiểu tính nhau, thường xuyên cãi vã, vợ chồng không yêu thương giúp đỡ
nhau, sống không hạnh phúc. Mặc chị V đã cố gắng duy tcuộc sống hôn nhân
nhưng không thế chung sống với nhau được. Vợ chồng sống ly thân với nhau từ năm
2020 đến nay. Chị V cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được tình nghĩa vợ
chồng không còn. vậy chị V làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với
anh Nguyễn Trọng K.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung; Nguyễn Trọng Hoàng D, sinh ngày
12/11/2019; chị V nguyện vọng nhận trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu
anh K cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
2
Về tài sản chung: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Trọng K trình bày: Anh K thừa nhận về thời gian, địa điểm
kết hôn, quả trình chung sống đúng như lời trình bày của chị V, vợ chồng có xẩy ra
mâu thuẫn trong cuộc sống, bản thân mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng chị V nhất
quyết làm đơn yêu cầu ly hôn, bản thân tôi là người Công giáo nên tôi đề nghị Toà
án giải quyết cho chị V đơn phương ly hôn.
Về con chung: Bản thân cũng nguyện vọng nuôi con nhưng con từ nhỏ
đến nay sống chung với chị V, hơn nữa con còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ
nên Tôi đồng ý nhường quyền nuôi con cho chị V. Tuy nhiên, chị V phải để tôi đi lại
thăm nom, chăm sóc con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ý kiến của vị đại diện VKSND huyện Hương Khê tham gia phiên tòa: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
toà. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Vthủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Mai V đơn đề nghị Tòa án nhân dân
huyện Hương Khê giải quyết ly hôn, được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố
tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Trọng K có địa chỉ cư trú thôn Thượng Hải, xã Gia
Phố, huyện Hương Khê nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố
tụng dân sự, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện
Hương Khê.
[2] Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị Mai Vanh Nguyễn Trọng K kết
hôn với nhau trên sở hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức đăng ký kết hôn tại UBND
G, huyện H, tỉnh H, theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia
đình nên quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh K là hợp pháp. Trong thời kỳ hôn nhân
do hai bên bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau.
Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc mất tình cảm vợ chồng, sống không đem
lại hạnh phúc cho nhau nên chị V anh K sống ly thân nhau từ năm 2020 cho đến
nay. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy suốt một thời gian dài vợ chồng không còn quan
tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không
thể đạt được. Việc chV làm đơn xin ly hôn anh K là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ,
phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên HĐXX chấp nhận yêu
cầu ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Mai Vanh Nguyễn Trong K.
[3] Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Trọng
Hoàng D, sinh ngày 12/11/2019. Tại phiên hòa giải ngày 12/11/2024, chị V anh
K đồng ý thỏa thuận giao con chung Nguyễn Trọng Hoàng D cho chị V trực tiếp nuôi
con cho đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi), chị V không yêu cầu anh K cấp dưỡng
tiền nuôi con. Xét thấy việc tự nguyên thỏa thuận giữa anh K chị V phù hợp,
chị V đảm bảo đầy đủ điều kiện về mọi mặt để nuôi con. Vì vậy, HĐXX căn cứ vào
Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia
đình nên giao con cho chị V nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Chị V không yêu
cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét. Anh K quyền, nghĩa
3
vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cấm theo quy định tại Điều
83 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên
HĐXX không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mai V nhận chịu toàn bộ án phí ly hônthẩm
theo quy định ca pháp lut.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57; Điều 58; Khoản 1, 2 Điều 81;
khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a
khoản 1 điều 35; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24;
điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý
sdụng án phí lệ phí Tòa án số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội. Tuyên xử:
1. Về quan hệ tình cảm: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mai V được
ly hôn với anh Nguyễn Trọng K.
2. Về quan hệ con chung: Chấp nhân sự thỏa thuận giao con Nguyễn Trọng
Hoàng D, sinh ngày 12/11/2019 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ
18 tuổi. Chị V không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Trọng K được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai
quyền ngăn cản anh K không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây
ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Ván phí: Chị Nguyễn Thị Mai V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn
đồng) án phí ly hôn, chị V đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số:
0003929 ngày 30/09/20224 tại Chi cục thi hành án dân shuyện Hương Khê, nay
không phải nộp nữa.
4.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn quyền kháng cáo bản án này
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Hà Tĩnh;
- VKSND huyện Hương Khê;
- Các đương sự;
- UBND xã Gia Phố;
- Chi cục THADS huyện Hương Khê;
- Lưu hồ sơ +VP-TA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Trọng Hùng
Tải về
Bản án số 26/2024 Bản án số 26/2024

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 26/2024 Bản án số 26/2024

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất