Bản án số 255/2020/DS-ST ngày 08/09/2020 của TAND Q. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thi công

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 255/2020/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 255/2020/DS-ST ngày 08/09/2020 của TAND Q. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thi công
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Q. Thủ Đức (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 255/2020/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/09/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

A ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
QUẬN THỦ ĐỨC
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
[
Bản án số: 255/2020/DS-ST
Ngày: 08/9/2020
V/v “Tranh chấp hợp đồng thi công”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Thành Vinh
2/ Bà Nguyễn Thị Hương
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Trí - Thư Tòa án nhân dân
quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phHồ Chí
Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2020, ti tr s Tòa án nhân dân qun Th
Đc, Thành ph Hồ Chí Minh xét x sơ thm công khai v án th lý s
645/2019/TLST- DS ngày 28 tháng 8 năm 2019, vviệc Tranh chp hp
đng thi công” theo Quyết đnh đưa vụ án ra xét x s
391/2020/QĐXXST-HN ngày 19 tháng 8 năm 2020 và Quyết đnh thay
đi ngưi tiến hành t tng s 51/2020/DS - TĐNTHTT ny
31/8/2020 giữa c đương s:
1/ Nguyên đơn: Ông Lê Văn T - sinh năm 1973
Chủ cơ sở L
Địa chỉ: khu phố A, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương
Người đại diện theo u quyền: Ông Phạm Trương Hồng T2 - sinh năm
1979
Địa chỉ: đường E, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Công ty luật TNHH
C)
(có mặt)
2
(Văn bản u quyền số công chứng 00002025, quyển số 07TP/CC-
SCC/HĐGD do Văn phòng công chứng N, Thành phố Hồ Chí Minh chứng
nhận ngày 26/7/2019)
2/ Bị đơn: Bà Trần Thị T1 - sinh năm 1948
Địa chỉ: phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/8/2019 lời trình bày của người đại diện
theo u quyền của ông Lê Văn T - Chủ cơ sở L trong quá trình tham gia tố tụng
và tại phiên tòa:
Ngày 18/7/2016, ông Lê Văn T - Chủ s L (sau đây gọi ông T) đã
hợp đồng với Bà Trần Thị T1 (sau đây gọi là bà T1) về vic thi công hệ
thống cửa gỗ gồm ca cnh, cửa s cho ng tnh xây dựng nhà của bà
T1 tại phường B, quận T, Thành ph Hồ Chí Minh. Cơ s L là hộ kinh doanh
th do ông T làm ch ông T hợp đồng với bà T1 với cách Ch
sở L. Tổng số tiền theo hợp đồng 272.098.000 đồng. Điều kiện giao
ng là giao khung bao trước ny 11/8/2016, thời gian giao cửa hoàn thiện
là 04 tháng k từ ny ký hợp đồng. Phương thức thanh toán lần 1 tm ứng
tớc 50% tổng g trị hp đồng, lần 2 30% giá trị hợp đồng sau khi
chuyển hàng vào công trình lắp rắp (giao cửa), lần 3 thanh tn phần n li
là 20% giá tr hợp đồng trong vòng 10 ngày k từ ngày bên cơ sở L hoàn
thiện công trình. sở L đã thực hiện giao ca xong trong thời hạn hợp
đồng. Khi giao cửa, bà T1 cũng không ý kiến v sản phm đã giao. Tuy
nhiên, bà T1 chưa thực hiện xong nga v thanh toán. T1 chỉ thanh tn
tin như sau: đợt 1 ngày 18/7/2016 thanh tn 18.000.000 đng, đợt 2 ngày
19/7/2016 thanh tn 118.000.000 đồng, đt 3 ngày 28/11/2016 thanh toán
26.000.000 đồng, tổng cộng stiền bà T1 đã thanh toán là 162.000.000 đồng.
Số tiền còn li 110.098.000 đồng bà T1 kng thanh tn mặc ông T đã
nhiều lần yêu cầu.
Về nội dung ghi: “ngày 18/7/2016 đưa 18.000.000 đồng, ngày 19/7/2016
đưa 118.000.000 đồng thể hiện trên 02 hợp đồng thi công ngày 18/7/2016 do 02
bên cung cấp thì ông T không biết là ai ghi, không xác định được là chữ của ai”.
Tuy nhiên, ông T xác nhận đã nhận số tiền này.
Do đó, nay ông T khởi kiện yêu cầu T1 trả số tiền gốc còn lại
110.000.000 đồng (số tiền 98.000 đồng còn lại ông T tự nguyện không yêu cầu)
tiền lãi chậm thanh toán theo quy định của pháp luật tính từ ngày 05/6/2017
đến ngày Tòa án giải quyết xong vụ án. Thời gian T1 vi phạm nghĩa vụ trả
tiền trước ngày 05/6/2017 thì ông T không yêu cầu tiền lãi.
Ông T chỉ yêu cầu cá nhân bà T1 trả tiền không liên quan đến ai khác.
Đối với yêu cầu phản tố của T1 thì ông T không đồng ý số tiền
26.000.000 đồng nhận ngày 28/11/2016 tiền thanh toán cho hợp đồng thi
công chứ không phải tiền T1 đưa thêm sau hợp đồng ông T cũng đã xác
3
nhận nhận số tiền này tiền thanh toán đợt 3, tổng cộng cả 03 lần thanh toán
thì T1 mới thanh toán được 162.000.000 đồng, số tiền còn lại 110.098.000
đồng bà T1 không thanh toán cho đến nay.
* Tại đơn phản tố ngày 18/12/2019 lời trình y của bị đơn Trần
Thị T1 trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà:
Về việc ký kết, thỏa thuận hợp đng như phía ông T trình bày là đúng.
Vic thực hin hợp đồng các n đã thực hiện xong, ông T đã giao cửa xong
bà ng đã trđủ tin theo hợp đồng. Bà xác định khi hợp đồng đã
ng 50% giá trị hợp đồng, tương đương số tiền 136.000.000 đồng, tuy nhiên
do chủ quan trong hợp đồng có ghi nội dung này nên khi giao số tiền 50%
giá tr hợp đồng không u cầu ông T viết giấy bn nhận. 30% giá trị hợp
đồng bà giao sau đó 10 ny và 20% giá trị hợp đồng đã thanh toán nng bà
không nh c th ngày giao và cũng không giy biên nhận. Do vic giao
nhận cửa đã xong nên kng cần bảo quản chứng tviệc giao nhận tiền.
xác nhận chữ trên hợp đồng thi công ngày 18/7/2016 do ông T
cung cấp đúng chữ và chữ viết của bà. Bản chính hợp đồng do cung
cấp đã bị thất lạc, nên chỉ có bản photo để cung cấp cho Tòa án.
Về nội dung ghi: “ngày 18/7/2016 đưa 18.000.000 đồng, ngày 19/7/2016
đưa 118.000.000 đồng” thhiện trên 02 hợp đồng thi công ngày 18/7/2016 do
02 bên cung cấp thì bà không biết là ai ghi, không xác định được là chữ của ai.
Sau khi thực hiện xong hợp đồng, ông T dẫn giang hồ đến gây áp lực
buộc bà tiếp tục trả tiền, vì bất ngờ không chuẩn bị kịp hồ sơ nên ngày
28/11/2016 bà đã giao cho ông T 26.000.000 đồng và thỏa thuận số tiền đã đưa
còn phải xem xét lại, để tìm tài liệu chứng cứ chứng minh cho việc đã trả
tiền, nếu bà trả dư thì ông T phải trả lại cho bà gấp 4 lần số tiền bà đã trả dư. Do
đó, với yêu cầu khởi kiện của ông T thì không đồng ý và đơn phản tố
yêu cầu ông T trả lại cho số tiền 104.000.000 đồng (là số tiền gấp 4 lần của
số tiền 26.000.000 đồng bà đã trả vào ngày 28/11/2016) tiền lãi theo lãi suất
17%/tháng tính từ ngày 28/11/2016 cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án.
Số tiền 26.000.000 đồng bà giao cho ông T của nhân bà, không
liên quan đến ai khác. Việc giao số tiền y cho ông T xuất phát từ việc
hai bên đã hợp đồng thi công trước đó với s L do ông T làm chủ nên
nay bà yêu cầu ông T trả tiền với cách Chcơ sở L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận ThĐức tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến: Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết
vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của
Thẩm phán, Hội đồng t xđúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án
vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 nên đề nghTòa án rút kinh nghiệm. Về nội dung: đề ngh
Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T; không chấp nhận yêu cầu phản tố
của T1.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp thẩm quyền giải quyết của Tòa
án: Đây là tranh chấp dân svề hợp đồng thi công giữa một bên s
đăng kinh doanh nhưng không cách pháp nhân một bên nhân
nên căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Trần Thị T1 i ttại quận Thủ
Đức nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
quận Thủ Đức, Thành phHồ Chí Minh.
[2] V cách tham gia ttụng của các đương sự: Theo quy định ti
khoản 1 Điều 66 Ngh định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính
ph quy định về đăng doanh nghiệp thì h kinh doanh cá th không có
ch pháp nhân. Mọi hoạt động ca hkinh doanh cá thdo nời đại diện
hộ kinh doanh thể thực hin. Căn c theo giy chng nhận đăng ký h
kinh doanh cá thể s 46G8010634 do y ban nhân dân thD (nay là thành
ph D), tỉnh Bình ơng cấp t đại diện s L là ông Lê Văn T. Do đó,
ông Lê Văn T quyền đại diện cho Cơ sL tham gia tố tụng. vy, Hội
đồng t xc định lại tư cách tham gia t tng của nguyên đơn trong v
án cho chính xác ông n T - Chủ sL.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Đối với yêu cầu về số tiền gốc 110.000.000 đồng:
Các bên đương sự thống nhất về các nội dung thỏa thuận tại hợp đồng.
Từ đó, có cơ sở khẳng định ngày 18/7/2016, ông T và bà T1 đã ký hợp đồng thi
công. Theo đó, ông T nhận thi công hệ thống cửa gỗ cho công trình y dựng
nhà của T1 tại phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Giá trị hợp
đồng 272.098.000 đồng. Điều kiện giao hàng giao khung bao trước ngày
11/8/2016, thời gian giao cửa hoàn thiện 04 tháng kể từ ngày ký hợp đồng.
Phương thức thanh toán lần 1 tạmng trước 50% tổng giá trị hợp đồng, lần 2 là
30% giá trị hợp đồng sau khi chuyển hàng vào công trình lắp rắp (giao cửa), lần
3 thanh toán phần còn lại 20% giá trị hợp đồng trong vòng 10 ngày kể từ
ngày bên cơ sở L hoàn thiện công trình. Các bên đương sự thống nhất, ông T đã
thực hiện xong nghĩa vụ, đã giao cửa xong. Các bên đương sự có tranh chấp về
việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán của T1. Ông T cho rằng bà T1 chưa thực
hiện hết nghĩa vụ thanh toán, còn nợ 110.000.000 đồng, trong khi T1 trình
bày đã thanh toán đầy đủ theo hợp đồng, hơn nữa còn trả dư 26.000.000 đồng.
Căn cứ hợp đồng thi công ngày 18/7/2016 do các bên cung cấp (hợp
đồng do T1 cung cấp mặc không bản chính để đối chiếu nhưng nội
dung cũng tương đồng như hợp đồng do ông T cung cấp đại diện theo u
quyền của ông T cũng đồng ý bản hợp đồng này) thì giá trị hợp đồng
5
272.098.000 đồng, thoả thuận về điều khoản thanh toán được thể hiện tại Điều
3 của hợp đồng. Trên cả 02 hợp đồng đều ghi thêm nội dung sau: “ngày
18/7/2016 đưa 18.000.000 đồng, ngày 19/7/2016 đưa 118.000.000 đồng”, cả
ông T T1 đều xác định không biết ai ghi chữ viết của ai. Ngoài ra,
hợp đồng do T1 cung cấp ông T xác nhận ngày 28/11/2016 nhận của
T1 26.000.000 đồng. Cả 03 lần nhận tiền này ông T đều thừa nhận nhận
với tổng số tiền 162.000.000 đồng. Ngoài ra, không còn mt tài liệu chứng
cứ nào chứng minh T1 đã trả và ông T đã nhận thêm khoản tiền nào khác
trong khi ông T đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình. Do đó, yêu cầu khởi kiện
của ông T yêu cầu T1 trả số tiền còn lại 110.000.000 đồng là s
chấp nhận.
Ghi nhận sự tự nguyn của ông T không yêu cầu bà T1 trả số tiền 98.000
đồng còn lại của hợp đồng thi công ngày 18/7/2016.
[3.2] Đối với yêu cầu về tiền lãi chậm thanh toán theo quy định của pháp
luật tính từ ngày 05/6/2017 đến ngày Tòa án giải quyết xong vụ án:
Các bên thỏa thuận thanh toán lần 3 thanh toán phần còn lại 20% giá
trị hợp đồng trong vòng 10 ngày kể từ ngày bên sở L hoàn thiện công trình.
Tuy nhiên, sau ngày giao tiền 28/11/2016 T1 không trả thêm khoản tiền nào
khác là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với ông T.
Theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì bên
nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trlãi đối với số tiền chậm trtương
ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định
theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá 20%/năm của số tin
phải trả; nếu không thỏa thuận thì mức lãi suất không vượt quá 10%/năm
của số tiền phải trả.
Do T1 đã vi phm nga vụ thanh toán với ông T các bên không
thoả thuận v việc tr lãi nên ông T yêu cầu T1 trsố tin i chậm
thanh tn từ ngày 05/6/2017 đến ny a án xét x (ngày 08/9/2020) là có
sở chấp nhận với mức lãi suất theo quy định 10%/năm của số tiền phải
trả.
Cụ thể số tiền lãi T1 phải trả cho ông T tính từ ngày 05/6/2017 đến
ngày 08/9/2020 là:
110.000.000 đồng x 10%/năm x 1192 ngày = 35.923.288 đồng.
Tổng cộng số tiền gốc lãi T1 phải trả cho ông T 110.000.000
đồng + 35.923.288 đng = 145.923.288 đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông T không yêu cầu T1 trả số tiền lãi của
thời gian bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán trước ngày 05/6/2017.
[4] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn:
[4.1] Đối với số tiền 104.000.000 đồng:
6
Số tiền 104.000.000 đồng bà T1 yêu cầu ông T trả số tiền gấp 4 lần
của số tiền 26.000.000 đồng T1 đã trcho ông T vào ngày 28/11/2016.
Số tiền 26.000.000 đồng bà T1 trả ngày 28/11/2016 và ông T thừa nhận đã nhận
nhưng là lần thanh toán thứ ba theo như phân tích trên. Xét trên cả 02 bản
hợp đồng do 02 bên cung cấp T1 đều ghi thêm nội dung: Số tiền đã trả
còn phải xem xét lại, nếu trả phải trả lại gấp 4 lần. Tuy nhiên, T1
không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã trả đủ tiền theo hợp đồng cho
ông T, số tiền 26.000.000 đồng trả ngày 28/11/2016 là bà T1 trả . Do đó,
không có cơ sở chấp nhận yêu cầu phản tố này của bà T1.
[4.2] Đối với tiền lãi theo lãi suất 17%/tháng tính từ ngày 28/11/2016 cho
đến ngày Tòa án giải quyết xong vụ án:
Số tiền lãi T1 yêu cầu tính từ ngày 28/11/2016 đến ngày 08/9/2020 là:
104.000.000 đồng x 17%/tháng x 1381 ngày = 802.720.438 đồng
Do số tiền gốc bà T1 yêu cầu không được chấp nhận nên số tiền lãi bà T1
yêu cầu cũng không có cơ sở chấp nhận.
Tổng cộng số tiền gốc và lãi bà T1 không được chấp nhận là 104.000.000
đồng + 802.720.438 đồng = 906.720.438 đồng.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
T1 phải chịu án phí đối với yêu cầu khởi kiện của ông T được chấp
nhận 7.296.164 đồng, án phí của yêu cầu phản tố không được chấp nhận
39.201.613 đồng. Tổng cộng số tiền án phí bà T1 phải chịu là 46.497.777 đồng.
Tuy nhiên, T1 đơn yêu cầu miễn án phí do thuộc đối tượng người cao
tuổi. Hội đồng xét xử n cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
chấp nhận yêu cầu miễn án phí cho bà T1.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khon 1 Điều 39,
Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ Điều 357, Điều 385, Điều 388, Điều 398, Điều 401, Điều 468
Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 66 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015
của Chính phủ quy định về đăng ký doanh nghiệp;
- Căn c Luật Thi hành án dân s năm 2008, đã đưc sa đi b sung năm 2014;
- Căn cứ Luật phí và lệ phí Toà án năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
7
Tuyên xử:
1/ Buộc bà Trần Thị T1 trả lại cho ông Lê n T - Chủ cơ sở L số tiền còn
nợ của hợp đồng thi ng ngày 18/7/2016 110.000.000 (một trăm mười triệu)
đồng tiền i từ ngày 05/6/2017 đến ngày 08/9/2020 35.923.288 (ba mươi
lăm triệu chín trăm hai mươi ba ngàn hai trăm tám mươi tám) đồng. Tổng cộng
số tiền Trần Thị T1 phải trả 145.923.288 (một trăm bốn mươi lăm triệu
chín trăm hai mươi ba ngàn hai trăm tám mươi tám) đồng.
Kể từ ngày ôngn T - Ch sở L đơn yêu cầu thinh án cho đến
khi thi hành án xong, Trần ThT1n phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi
nh án theo mức i suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật n snăm
2015, trtrường hợp pháp luật có quy định khác.
2/ Ghi nhận sự tnguyện của ông Văn T - Chcơ sở L không yêu cầu
Trần Thị T1 trả số tiền n lại của hợp đồng thi công ngày 18/7/2016 là 98.000
(cn mươi tám ngàn) đồng tiền lãi do Trần ThT1 đã vi phạm nghĩa vụ
thanh tn trước ngày 05/6/2017.
3/ Không chấp nhận yêu cầu phản tcủa Trần Thị T1 về việc yêu cầu
ông n T - Chủ sở L trlại số tiền 104.000.000 (mt trăm lbốn triệu)
đồng (là số tiền gấp 4 lần của stiền 26.000.000 đồng bà T1 đã trả vào ngày
28/11/2016) tiền lãi theo lãi suất 17%/tháng tính từ ngày 28/11/2016 đến
ngày 08/9/2020 802.720.438 (tám trăm lẻ hai triệu bảy trăm hai mươi ngàn
bốn trăm ba mươi tám) đồng.
4/ Án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Trần Thị T1.
Hoàn lại cho ông Văn T - Chủ s L số tiền tạm ứng án phí
3.465.000 (ba triệu bốn trăm sáu mươi lăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu
tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0003740 ngày 28/8/2019 của Chi cục Thi hành
án dân sự quận Thủ Đức.
5/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự quyền làm đơn kháng cáo bản
án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi
hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi hành án dân sự m 2008, đã
được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung
năm 2014.
Nơi nhận:
- TAND TP.HCM;
-VKSND TP.HCM;
- VKSND quận Thủ Đức;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
8
- Chi cục THADS quận Thủ Đức;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Lệ Thủy
Tải về
Bản án số 255/2020/DS-ST Bản án số 255/2020/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất