Bản án số 23/2025/DS-ST ngày 18/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 23/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 23/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 23/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 23/2025/DS-ST ngày 18/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long |
| Số hiệu: | 23/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 18/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC X- VĨNH LONG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 23/2025/DS-ST
Ngày: 18-9-2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất,
Tranh chấp thừa kế tài sản theo pháp luật
và tiền đền bù giá trị bị thu hồi
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC X- VĨNH LONG - TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Chấm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Bài.
Ông Nguyễn Tuấn Trung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Thi - Thư ký Tòa án nhân dân Khu
vực X- Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực X- Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh
Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Danh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực X-
Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:
123/TLST–DS ngày 12-12-2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, Tranh
chấp thừa kế tài sản theo pháp luật và tiền đền bù giá trị bị thu hồi”; Theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-DS, ngày 03-9-2025,
giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Thạch Thị X, sinh năm 1974; Địa chỉ: Khóm 2, thị trấn
T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Nay là Ấp 2, xã T, tỉnh Vĩnh Long); Chỗ ở hiện nay:
Ấp C, xã T, tỉnh Vĩnh Long, có mặt;
Bị đơn: Bà Thạch Thị X1, sinh năm 1971 vào ông Sơn C1, sinh năm
1971; Địa chỉ: Khóm 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Nay là Ấp 2, xã T,
tỉnh Vĩnh Long);
Người đại diện ủy quyền của bà Thạch Thị X1 và ông Sơn C1: Anh
Nguyễn Thanh H, sinh năm 1975; Địa chỉ: số 200, P, phường N, tỉnh Vĩnh
Long, có mặt;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Bà Thạch Thị S, sinh năm 1964; Địa chỉ: Ấp C2, xã Ph, huyện T, tỉnh
Trà Vinh (Nay là Ấp C2, xã T, tỉnh Vĩnh Long, có mặt);
2. Ông Thạch H1, sinh năm 1967; Địa chỉ: Ấp C, xã Ph, huyện T, tỉnh Trà
Vinh (Nay là Ấp C, xã T, tỉnh Vĩnh Long, có đơn xin vắng mặt);
3. Bà Thạch Thị S1, sinh năm 1969; Địa chỉ: Ấp Đ, xã Ph, huyện T, tỉnh
Trà Vinh (Nay là Ấp Đ, xã T, tỉnh Vĩnh Long, có mặt);
4. Ông Huỳnh Tấn T2- Cán bộ Phòng Kinh Tế xã T, thuộc Ủy ban nhân
dân xã T, tỉnh Vĩnh Long: Địa chỉ: Ấp 4, xã T, tỉnh Vĩnh Long, có đơn xin vắng
mặt;
5. Phòng Kinh Tế xã T, thuộc Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Vĩnh Long: Địa
chỉ: Ấp 4, xã T, tỉnh Vĩnh Long có đơn xin vắng mặt;
6. Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Vĩnh Long: Địa chỉ: Ấp 4, xã T, tỉnh Vĩnh
Long, có đơn xin vắng mặt;
Người phiên dịch: Ông Thạch Thia R- Địa chỉ: Ấp 2, xã T, tỉnh Vĩnh
Long (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa
nguyên đơn bà Thạch Thị X trình bày:
Cha ruột tên Thạch Pr (chết năm 1974), mẹ tên Thạch Thị Cà H3 (chết
năm 2022), cụ Thạch Pr và cụ Thạch Thị Cà H3 có 06 người con chung gồm:
Ông Thạch X1 (Thạch Th quốc tịch Mỹ, đã chết ngày 30/7/2024), bà Thạch Thị
S, ông Thạch H1, bà Thạch Thị S1, bà Thạch Thị X1 và bà Thạch Thị X.
Lúc còn sống cụ Thạch Pr và cụ Thạch Thị Cà H3 có tạo lập được
23.000m
2
công đất đã chia cho các con xong, bà được cho diện tích 2.110m
2
,
thuộc thửa đất 1290, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp C2, xã Ph, huyện T, tỉnh Trà
Vinh (Nay là Ấp C2, xã T, tỉnh Vĩnh Long) cho đất vào năm 2014, không có
làm giấy tờ, cụ Cà H3 chỉ đưa quyền sử dụng thửa đất 1290 cho bà quản lý,
không có làm giấy tờ nào khác, sau khi được cho đất bà không có sử dụng mà
cho bà Thạch Thị X1 thuê lại canh tác, giá thuê mỗi năm bằng 2.000.000
đồng/thửa 1290, không có làm giấy tờ, năm 2021 bà lấy đất lại canh tác bên bà
X1 và ông C1 dành đất lại không cho bà sử dụng, bà X1 có thưa bà ra xã Ph giải
quyết trước, từ đó hai người tranh chấp đến nay.
Sau khi cụ Cà H3 chết bà có liên hệ địa phương để làm lại quyền sử dụng
đất thửa đất 1290, lúc này bà X1 có ký tên vào giấy xác nhận mối quan hệ gia
đình, do còn thiếu nhiều chữ ký của các con cụ Cà H3 nên địa phương không
làm được.
Năm 2022 Nhà nước có chủ trương mở rộng lộ (hương lộ 13), có thu hồi
diện tích 567,5m
2
nằm trong thửa đất 1290 tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp C2, xã
Ph, huyện T, tỉnh Trà Vinh, số tiền Nhà nước đền bù cây trái hoa màu trên đất
và tiền đất bằng 131.206.000 đồng, do quyền sử dụng đất còn tên cụ Cà H3 Nhà
3
nước hỗ trợ cho cụ Cà H3, do đất đang tranh chấp cho nên số tiền đền bù hiện
nay chưa ai được nhận, trước đây số tiền đền bù do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ
tái định cư thuộc Ủy ban nhân dân huyện T quản lý để chờ Tòa án giải quyết,
đến nay đã giải thể cấp huyện bà thống nhất số tiền 131.206.000 đồng do ông
Huỳnh Tấn T2 cán bộ Phòng kinh tế xã T tạm quản lý giùm chờ Tòa án giải
quyết.
Bà không nhớ năm nào, cụ Cà H3 có bán cho bà Thạch Thị X1 02 công
đất ruộng và cho thêm bà X1 02 công đất, thửa đất này kế bên thửa đất 1290, giá
bán bao nhiêu bà không nhớ, tiền là của cụ Cà H3 nhận, sau này bà cũng có ký
tên cùng với cụ Cà H3 để cho bà X1 được đứng tên trọn thửa đất 1289 xong và
đất bà X1 cũng đang quản lý, còn thửa đất 1290 là của cụ Cà H3 tặng cho bà,
thửa đất này cụ Cà H3 không có bán cho bà X1 như bà X1 trình bày.
Bà Thạch Thị X yêu cầu:
1. Công nhận diện tích còn lại 1.862,5m
2
(vị trí khu đất gồm 03 phần B, C,
L), thuộc thửa đất số 1290, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại Ấp C2, xã Ph, huyện T,
tỉnh Trà Vinh (Nay là Ấp C2, xã T, tỉnh Vĩnh Long) là thuộc quyền sử dụng hợp
pháp của bà X, vì thửa đất này bà được cụ Cà H3 cho vào năm 2014.
2. Bà Thạch Thị X yêu cầu được hưởng số tiền Nhà nước đền bù giá trị
đất bị thu hồi đất bằng 131.206.000 đồng.
3. Thửa đất 1290 không còn là di sản thừa kế của cụ Cà H3 nên không
đồng ý chia thừa kế.
4. Qua yêu cầu phản tố của bà Thạch Thị X1 và ông Sơn C1, bà Thạch
Thị X không đồng ý.
Ý kiến của ông Nguyễn Thanh Huy đại diện ủy quyền của bị đơn bà
Thạch Thị X1 và ông Sơn C1 trình bày:
Cha ruột tên Thạch Pr (chết năm 1974), mẹ tên Thạch Thị Cà H3 (chết
năm 2022), cụ Thạch Pr và cụ Thạch Thị Cà H3 có 06 người con chung gồm:
Ông Thạch X1 (Thạch Th quốc tịch Mỹ, đã chết năm 2024), bà Thạch Thị S,
ông Thạch H1, bà Thạch Thị S1, bà Thạch Thị X1 và bà Thạch Thị X. Sau giải
phóng cụ Cà H3 có 02 thửa đất:
Thửa đất số 1290, diện tích 2.110m
2
tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp C2, xã
Ph, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Nay là ấp C2, xã T, tỉnh Vĩnh Long);
Thửa đất số 1289, diện tích 4.080m
2
tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp C2, xã
Ph, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Nay là ấp C2, xã T, tỉnh Vĩnh Long);
Năm 2014 cụ Cà H3 cùng thành viên hộ gia đình có chuyển nhượng cho
vợ chồng bà Thạch Thị X1 thửa đất số 1289, diện tích 4.080m
2
tờ bản đồ số 05,
tọa lạc tại ấp C2, xã Ph, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Nay là ấp C2, xã T, tỉnh Vĩnh
Long), có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và vợ chồng bà X1
đã được đứng tên trọn thửa đất 1289 (tư liệu năm 1991) nay là thửa đất số 91,
diện tích 5.256,7m
2
tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại Ấp C2, xã Ph, huyện T, tỉnh Trà
Vinh).
4
Năm 2022 cụ Cà H3 chết không có để lại di chúc, quá trình thỏa thuận
phân chia thửa đất 1290 nêu trên thì vợ chồng bà X1 phát hiện có việc sai sót vị
trí đã chuyển nhượng của thửa đất 1289 mà vợ chồng bà X1 đã nhận chuyển
nhượng của cụ Cà H3 vào năm 2014, sau khi phát hiện sự nhầm lẫn về vị trí đất
vợ chồng bà X1 thống nhất sẽ điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho đúng với thực tế sử dụng, nhưng bên bà X không đồng ý, bà X cho rằng
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ cụ Cà H3 và của vợ chồng bà X1
được cấp như thế nào thì cứ sử dụng như vậy, vợ chồng bà X1 không đồng ý
nên phát sinh tranh chấp.
Đối với thửa đất 1290 vợ chồng bà X1 cũng có nộp đơn tranh chấp trước
do ông Thạch X1 (Thạch Th quốc tịch Mỹ đã chết) nên Tòa án nhân dân tỉnh
Trà Vinh trả lại đơn khởi kiên cho vợ chồng bà X1, do bà X tranh chấp nên vợ
chồng bà X1 không khởi kiện tiếp mà làm đơn phản tố chung cùng vụ kiện để
yêu cầu Tòa án giải quyết, hiện nay bà X ngăn cản không cho vợ chồng bà X1
sử dụng thửa đất 1290.
Năm 2022 Nhà nước có chủ trương mở rộng lộ (hương lộ 13), cho nên
thửa đất 1290 tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp C2, xã Ph, huyện T, tỉnh Trà Vinh
(Nay là ấp C2, xã T, tỉnh Vĩnh Long) có thu hồi một phần diện tích 567,5m
2
để
mở lộ, số tiền bồi thường bằng 131.206.000 đồng đến nay chưa ai được nhận,
trước đây số tiền đền bù này do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ tái định cư thuộc
Ủy ban nhân dân huyện T quản lý, nay đã giải thể cấp huyện, số tiền đền bù vợ
chồng bà X1 thống nhất để ông Huỳnh Tấn T2 hiện là cán bộ Phòng kinh tế xã T
tạm quản lý chờ Tòa án giải quyết.
Vợ chồng bà X1 có làm đơn phản tố yêu cầu công nhận diện tích
5.256,7m
2
mà vợ chồng bà X1 đã nhận chuyển nhượng của cụ Cà H3 vào năm
2014 trong đó có thửa đất số 1290 (diện tích còn lại 1.852,6m
2
ký hiệu B, C, L)
và dịện tích 3.404,1m
2
thuộc thửa đất 1289, tờ bản đồ số 5, tọa lạc ấp C2, xã Ph,
huyện T, tỉnh Trà Vinh (Nay là Ấp C2, xã T, tỉnh Vĩnh Long), vợ chồng bà X1
xin được hưởng số tiền đền bù giá trị đất bị thu hồi bằng 131.206.000 đồng.
Vợ chồng bà X1 đồng ý chia thừa kế diện tích 1.852,6m
2
, nằm trong thửa
1289 tọa lạc ấp C2, xã T, tỉnh Vĩnh Long cho các con cụ Thạch Thị Cà H3 mỗi
người được hưởng diện tích 308,7m
2
;
Nếu Tòa án không chấp nhận yêu cầu của vợ chồng bà X1, mà xác định
thửa đất 1290 là di sản thừa kế của cụ Cà H3, bà X1 yêu cầu chia thừa kế theo
pháp luật và xin nhận diện tích cặp thửa đất 1289 để tiện cho việc sử dụng đất và
tạo cho vợ chồng bà X1 có đường đi ra lộ.
Ý kiến của ông Thạch H1 trình bày: Cha ruột tên Thạch Pr (chết năm
1974), mẹ tên Thạch Thị Cà H3 (chết năm 2022), cụ Thạch Pr và cụ Thạch Thị
Cà H3 có 06 người con chung gồm: Ông Thạch X1 (Thạch Th, chết năm 2024),
bà Thạch Thị S, ông Thạch H1, bà Thạch Thị S1, bà Thạch Thị X1 và bà Thạch
Thị X.
5
Cụ Cà H3 chết không có để lại di chúc, có để lại thửa đất số 1290, diện
tích 2.110m
2
tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp C2, xã Ph, huyện T, tỉnh Trà Vinh,
thửa đất này cụ Cà H3 chưa có chia cho ai hưởng.
Năm 2022 hoặc 2023 Nhà nước có mở lộ ngang (hương lộ 13) có thu hồi
01 phần diện tích khoảng 567,5m
2
, nằm trong thửa 1290, số tiền nhà nước đền
bù thu hồi đất bằng 131.206.000 đồng do tranh chấp nên chưa ai được nhận. Nay
bà X tranh chấp, ông thống nhất giao thửa đất 1290 cho Thạch Thị X quản lý, sử
dụng, yêu cầu bà Thạch Thị X hoàn lại giá trị thừa kế bằng tiền cho ông hưởng
và ông cũng yêu cầu hưởng 01 suất thừa kế số tiền Nhà nước đền bù giá trị đất
bị thu hồi.
Ý kiến của bà Thạch Thị S trình bày: Bà thống nhất hàng thừa kế của cụ
Thạch Thị Cà H3 như bà Thạch Thị X trình bày là đúng, ngày xưa cụ Thạch Thị
Cà H3 có tổng cộng 23 công đất đã chia cho các con xong. Bà không nhớ ngày,
tháng, năm nào cụ Cà H3 có bán cho bà Thạch Thị X1 02 công đất và cho thêm
02 công đất nữa tổng cộng là 04 công đất, tọa lạc tại ấp C2, xã Ph (kế thửa đất
của bà), gia đình thống nhất làm thủ tục cho bà Thạch Thị X1 đứng tên trọn thửa
đất số 1289 xong, thửa đất bà X1 đang quản lý, sử dụng, còn lại thửa đất 1290
cụ Cà H3 đã cho riêng bà Thạch Thị X sử dụng từ năm 2014 đến nay, do bà X
không thuận tiện canh tác (không có đường nước) cho nên bà X cho bà X1
mướn đất canh tác (việc cho mướn đất do 02 người thỏa thuận). Năm 2021 bà
Thạch Thị X lấy thửa đất 1290 lại canh tác bên Thạch Thị X1 không cho sử
dụng chung đường nước hai bên cũng tranh chấp dần từ đó.
Năm 2022 bà Thạch Thị X có làm giấy xác nhận quan hệ gia đình để làm
bằng khoán đứng tên thửa đất 1290 mà cụ Cà H3 cho, bà với bà X1 có ký tên
vào giấy xác nhận do thiếu chữ ký của các con cụ Cà H3 nên địa phương không
làm bằng khoán đất cho bà X được. Trong năm 2022 Nhà nước mở lộ (hương lộ
13) có thu hồi 01 phần diện tích tại thửa đất 1290 và có bồi thường số tiền bằng
131.206.000 đồng, bà X chưa nhận được tiền do đất còn tên cụ Cà H3 đứng, số
tiền 131.206.000 đồng hiện tại ông Huỳnh Tấn T2 là cán bộ Phòng kinh tế xã T
đang tạm quản lý giùm chờ Tòa án giải quyết.
Đối với thửa đất 1290 cụ Cà H3 đã cho bà Thạch Thị X rồi yêu cầu Tòa
án công nhận cho bà Thạch Thị X hưởng kể cả số tiền bồi thường, bà không
tranh chấp và cũng không yêu cầu chia thừa kế vì thửa đất này không còn là di
sản chia thừa kế của cụ Cà H3. Nếu thửa đất 1290 là di sản thừa kế phần di sản
của bà được hưởng kể cả số tiền bồi thường bà đồng ý cho lại bà X hưởng. Còn
ý kiến trình bày và yêu cầu của bên bà X1 là không đúng, đề nghị không chấp
nhận.
Ý kiến của bà Thạch Thị S1 trình bày: Bà thống nhất hàng thừa kế của
cụ Thạch Thị Cà H3 như bà Thạch Thị X trình bày là đúng, ngày xưa cụ Thạch
Thị Cà H3 có tổng cộng 23 công đất đã chia cho các con xong bà được chia đất
ở ấp Ô Trao, xã Hiếu Tử. Bà không nhớ ngày, tháng, năm nào cụ Cà H3 có bán
cho bà Thạch Thị X1 02 công đất và cho thêm 02 công đất nữa tổng cộng là 04
công đất, tọa lạc tại ấp C2, xã Ph, gia đình thống nhất làm thủ tục cho bà Thạch
6
Thị X1 đứng tên trọn thửa đất số 1289 xong, thửa đất bà X1 đang quản lý, sử
dụng, còn lại thửa đất 1290 cụ Cà H3 đã cho riêng bà Thạch Thị X sử dụng từ
năm 2014 đến nay, do bà X không thuận tiện canh tác (không có đường nước)
cho nên bà X cho bà X1 mướn đất canh tác (việc cho mướn đất do 02 người thỏa
thuận). Năm 2021 bà Thạch Thị X lấy thửa đất 1290 lại canh tác bên Thạch Thị
X1 không cho sử dụng chung đường nước hai bên cũng tranh chấp dần từ đó.
Trong năm 2022 Nhà nước mở lộ (hương lộ 13) có thu hồi 01 phần diện
tích tại thửa đất 1290 và có bồi thường số tiền bằng 131.206.000 đồng, bà X
chưa nhận được tiền do đất còn tên cụ Cà H3 đứng, số tiền 131.206.000 đồng
hiện tại ông Huỳnh Tấn T2 là cán bộ Phòng kinh tế xã T đang tạm quản lý giùm
chờ Tòa án giải quyết.
Đối với thửa đất 1290 cụ Cà H3 đã cho Thạch Thị X rồi yêu cầu Tòa án
công nhận cho bà X hưởng kể cả số tiền bồi thường, bà không tranh chấp và
cũng không yêu cầu chia thừa kế vì thửa đất này không còn là di sản chia thừa
kế của cụ Cà H3. Nếu thửa đất 1290 là di sản thừa kế phần di sản bà được hưởng
kể cả số tiền bồi thường bà đồng ý cho lại bà X hưởng. Còn ý kiến trình bày và
yêu cầu của bên bà X1 là không đúng, đề nghị không chấp nhận.
Ý kiến của ông Huỳnh Tấn T2 trình bày: Ông là công chức Phòng Kinh
tế xã T và ông được đơn vị phân công quản lý số tiền 131.206.000 đồng của hộ
Thạch Thị Cà H3 đã thu hồi đất thuộc dự án xây dựng đường huyện 13 kéo dài
từ giáp đường huyện 9, xã T3 đến giáp tuyến tránh QL 60, xã Ph, huyện T, lý do
đang tranh chấp quyền sử dụng đất và trong thời gian Tòa án thụ lý vụ án, ông
chịu trách nhiệm chi trả lại cho các đương sự trong hộ bà Thạch Thị Cà H3 được
hưởng theo bản án, quyết định của Tòa án.
Tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp cụ thể, nguyên đơn cung
cấp bao gồm: Đơn khởi kiện; hồ sơ hòa giải xã Ph, CCCD, Giấy CNQSD đất
thửa 1290 và giấy chứng tử cụ Cà H3 (đều photo), Bị đơn cung cấp Thông báo
trả lại đơn khởi kiện ngày 24/6/2024, Thông báo yêu cầu sửa đổi bổ sung đơn
khởi kiện ngày 10/5/2023; giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện ngày 08/5/2023;
Đơn khởi kiện ngày 29/7/2024; Bản tự khai ngày 29/7/2024; Đơn yêu cầu hòa
giải về việc tranh chấp quyền sử dụng đất ngày 15/12/2022; trích lục thửa đất số
91, giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 91, phiếu cung cấp thông tin
ngày 13/12/2023; trích lục thửa đất 1290, tờ khai lý lịch ngày 24/4/2023; biên
bản hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất ngày 02/3/2023 của Ủy ban nhân dân
xã Ph (đều photo), Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng thuộc UBND huyện
Tiêu Cần có cung cấp hồ sơ thu hồi đất (photo) và người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan không có cung cấp Tài liệu, chứng cứ.
Những vấn đề các bên đương sự thống nhất:
Thửa đất 1290, diện tích 2.110m
2
tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp C2, xã Ph,
huyện T, tỉnh Trà Vinh (Nay là ấp C2, xã T, tỉnh Vĩnh Long) có nguồn gốc là
của cụ Thạch Thị Cà H3 (đã chết);
7
Số tiền Nhà nước đền bù thu hồi đất 131.206.000 đồng do ông Huỳnh Tấn
T2 công chức Phòng Kinh tế xã T thuộc Ủy ban nhân dân xã T đang quản lý chờ
Tòa án giải quyết.
Những vấn đề các bên đương sự không thống nhất:
Bà Thạch Thị X yêu cầu:
1. Công nhận diện tích còn lại 1.862,5m
2
(vị trí khu đất gồm 03 phần B, C,
L), thuộc thửa đất số 1290, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại Ấp C2, xã Ph, huyện T,
tỉnh Trà Vinh (Nay là Ấp C2, xã T, tỉnh Vĩnh Long) là thuộc quyền sử dụng hợp
pháp của bà X, vì thửa đất này bà được cụ Cà H3 cho vào năm 2014.
2. Bà Thạch Thị X yêu cầu được hưởng số tiền Nhà nước đền bù giá trị
đất bị thu hồi đất bằng 131.206.000 đồng.
3. Thửa đất 1290 không còn là di sản thừa kế của cụ Cà H3 nên không
đồng ý chia thừa kế.
4. Qua yêu cầu phản tố của bà Thạch Thị X1 và ông Sơn C1, bà Thạch
Thị X không đồng ý.
Bà Thạch Thị X1 và ông Sơn C1 yêu cầu:
1. Yêu cầu công nhận diện tích 5.256,7m
2
mà vợ chồng bà X1 đã nhận
chuyển nhượng của cụ Cà H3 vào năm 2014 trong đó có thửa đất số 1290 (diện
tích còn lại 1.852,6m
2
ký hiệu B, C, L) và dịện tích 3.404,1m
2
thuộc thửa đất
1289, tờ bản đồ số 5, tọa lạc ấp C2, xã Ph, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Nay là Ấp
C2, xã T, tỉnh Vĩnh Long), vợ chồng bà X1 xin được hưởng số tiền đền bù đất bị
thu hồi bằng 131.206.000 đồng.
2. Bà Thạch Thị X1 và ông Sơn C1 đồng ý chia thừa kế diện tích
1.852,6m
2
, nằm trong thửa 1289 tọa lạc ấp C2, xã T, tỉnh Vĩnh Long cho các con
cụ Thạch Thị Cà H3 mỗi người được hưởng diện tích 308,7m
2
;
3. Yêu cầu chia thừa kế thửa đất 1290, tờ bản đồ số 5, tọa lạc ấp C2, xã
Ph, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Nay là Ấp C2, xã T, tỉnh Vĩnh Long) theo pháp luật.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải
quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã
chấp hành đúng nhiệm vụ, quyền hạn và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải
quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự tham
gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị
Hội đồng xét xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Thị X
yêu cầu công nhận thửa đất 1290 và số tiền đền bù giá trị đất bị thu hồi.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Thạch Thị X1 và ông Sơn C1.

8
3. Chia thừa kế theo pháp luật thửa đất 1290, diện tích 1.852,6m
2
, tờ bản
đồ số 5, tọa lạc ấp C2, xã Ph, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Nay là Ấp C2, xã T, tỉnh
Vĩnh Long) và số tiền đền bù bồi hoàn giá trị đất bị thu hồi bằng 128.368.500
đồng cho hàng thừa kế của cụ Thạch Thị Cà H3 được hưởng.
Các đương sự liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quy định.
4. Về án phí, chi phí thẩm định, định giá đề nghị xử lý theo quy định của
pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Vị
đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Bà Thạch Thị X khởi kiện yêu cầu công nhận thửa đất 1290, tờ bản đồ
số 5, tọa lạc tại ấp C2, xã Ph, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Nay là ấp C2, xã T, tỉnh
Vĩnh Long) và yêu cầu được hưởng số tiền Nhà nước đền bù giá trị đất bị thu
hồi; Bị đơn bà Thạch Thị X1 và ông Sơn C1 phản tố yêu cầu công nhận thửa đất
1290, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp C2, xã Ph, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Nay là ấp
C2, xã T, tỉnh Vĩnh Long) và yêu cầu được hưởng số tiền Nhà nước đền bù giá
trị đất bị thu hồi, đồng ý chia thừa kế theo pháp luật đối với diện tích 1.852,6m
2
(tương đương thửa đất 1290) nằm trong thửa 1289 tọa lạc ấp C2, xã T, tỉnh Vĩnh
Long cho các con cụ Cà H3 hưởng, các đương sự có yêu cầu chia thừa kế thửa
đất 1290 theo pháp luật. Tài sản tranh chấp và đương sự cư trú tại xã T. Căn cứ
vào các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 1 Luật số
85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật
phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Hội đồng xét xử xác định quan hệ
tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp chia thừa
kế Tài sản theo pháp luật và tiền đền bù giá trị đất bị thu hồi”; vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực X-Vĩnh Long; Người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập; Các đương sự thống
nhất không yêu cầu thẩm định, định giá lại đất tranh chấp;
- Cụ Thạch Thị Cà H3 (chết năm 2022), hàng thừa kế thứ nhất của cụ Cà
H3 gồm có: Ông Thạch X1 (Thạch Th, quốc tịch Mỹ đã chết ngày 30/7/2024),
bà Thạch Thị S, bà Thạch Thị S1, ông Thạch H1, bà Thạch Thị X1 và bà Thạch
Thị X.
- Ông Thạch X1 (Thạch Th đã chết) hàng thừa kế của ông Thạch X1
(Thạch Th) gồm có: Vợ là bà Nguyễn Thị L1 và con là anh Nguyễn H4 đều có
quốc tịch Mỹ, trong quá trình tố tụng Tòa án có đưa bà Nguyễn Thị L1 và anh
Nguyễn H4 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Thạch X1
(Thạch Th) vào tham gia tố tụng, qua làm việc bà Nguyễn Thị L1 và anh
Nguyễn H4 cùng thống nhất thửa đất tranh chấp cụ Cà H3 đã tặng cho bà X rồi,
9
nếu có chia thừa kế bà Nguyễn Thị L1 và anh Nguyễn H4 cũng thống nhất cho
lại bà X hưởng, do điều kiện ở xa và xin từ chối không tham gia tố tụng tại Tòa
án, nên Tòa án không xác định bà Nguyễn Thị L1 và anh Nguyễn H4 là người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
- Ông Thạch H1, ông Huỳnh Tấn T2, Phòng Kinh Tế xã T, thuộc Ủy ban
nhân dân xã T và Ủy ban nhân dân xã T có đơn xin vắng mặt, Hội đồng xét xử
áp dụng Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn xét xử vụ án.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 1290 bà Thạch Thị X đang
quản lý, bà X xác định không có cầm cố, thế chấp cho tổ chức, cá nhân nào
khác.
[2] Về nội dung vụ án: Các đương sự có lời khai thống nhất thửa đất 1290,
tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp C2, xã Ph, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Nay là ấp C2,
xã T, tỉnh Vĩnh Long) đang tranh chấp có nguồn gốc là của cụ Thạch Thị Cà H3
(đã chết); cụ Cà H3 là mẹ ruột của các đương sự, không có ai tranh chấp về
thành viên hộ gia đình.
[3] Bà Thạch Thị X tranh chấp yêu cầu công nhận thửa đất 1290, tờ bản
đồ số 5, tọa lạc ấp C2, xã Ph, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Nay là Ấp C2, xã T, tỉnh
Vĩnh Long), bà được cụ Cà H3 tặng cho vào năm 2014, quá trình giải quyết vụ
án, Tòa án đã giải thích đầy đủ quyền, nghĩa vụ, trong đó có nghĩa vụ cung cấp
chứng cứ của các đương sự, tại phiên tòa ngoài các Tài liệu chứng cứ bà X đã
giao nộp, bà X không cung cấp được Tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh
được thửa đất 1290 là của cụ Cà H3 tặng cho bà vào năm 2014 như bà yêu cầu,
cho nên yêu cầu công nhận đất của bà X không được chấp nhận, thửa đất 1290
do cụ Cà H3 đứng tên quyền sử dụng đất trở thành di sản thừa kế, cụ Thạch Thị
Cà H3 chết không có để lại di chúc, nên di sản này được chia thừa kế theo pháp
luật cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ Cà H3 được hưởng.
[4] Bà Thạch Thị X1 và ông Sơn C1 phản tố cho rằng vào năm 2014 ông,
bà có nhận chuyện thửa đất 1289 của cụ Cà H3, mặc dù thửa đất 1289 bà X1 và
ông C1 được đứng tên quyền sử dụng đất, nhưng vị trí đất lúc chuyển nhượng
đất cụ Cà H3 giao cho bà X1 và ông C1 sử dụng không đúng vị trí, bà X1 và
ông C1 xác định vị trí đất ông, bà nhận chuyển nhượng và sử dụng là trọn thửa
đất 1290 và một phần của thửa 1289 (giáp thửa đất 1290) mới đúng, cho nên bà
X1 và ông C1 yêu cầu công nhận thửa đất 1290 là thuộc quyền sử dụng hợp
pháp của ông, bà theo như vị trí đất ông C1 và bà X1 nhận chuyển nhượng của
cụ Cà H3 vào năm 2014, ông C1 và bà X1 yêu cầu được hưởng số tiền Nhà
nước đền bù đất bị thu hồi bằng 131.206.000 đồng, bà X1 và ông C1 đồng ý
chia thừa kế theo pháp luật diện tích 1.852,6m
2
(tương đương thửa đất 1290)
nằm trong thửa 1289 tọa lạc ấp C2, xã T, tỉnh Vĩnh Long bằng 06 phần cho các
con cụ Thạch Thị Cà H3 mỗi người được hưởng diện tích 308,7m
2
. Trường hợp
Tòa án không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà X1 và ông C1, bà X1 yêu cầu
được hưởng 01 suất thừa kế theo pháp luật tại thửa đất số 1290, bà X1 xin nhận
diện tích đất cặp thửa đất 1289 cho bà tiện sử dụng và đi ra lộ.
10
[5] Xét thấy theo các Tài liệu Tòa án thu thập từ cơ quan cH1 môn thể
hiện vào ngày 20/3/2014 bà Thạch Thị X1 và ông Sơn C1 có nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất của cụ Thạch Thị Cà H3 thửa đất 91, diện tích
5.256,7m
2
, tờ bản đồ số 13 (Tài liệu năm 2006) nhầm thửa đất số 1289, diện tích
4.080m
2
, tờ bản đồ số 5 (Tài liệu năm 1991), tọa lạc ấp C2, xã Ph, huyện T, tỉnh
Trà Vinh (nay là ấp C2, xã T, tỉnh Vĩnh Long), hai bên có lập hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dung đất theo quy định, bà X1 và ông C1 đã được đứng tên
quyền sử dụng thửa đất số 91 (nhầm thửa 1289), cho nên thửa đất 1289 không
còn là di sản của cụ Cà H3. Tại phiên tòa bà X, bà S và bà S1 xác định thửa đất
số 1289 cụ Cà H3 đã chuyển nhượng cho bà X1 vào năm 2014 bà X1 và ông C1
đã được đứng tên quyền sử dụng đất và đang quản lý, sử dụng đất, cho nên thửa
đất 1289 không còn là di sản thừa kế như bà X1 trình bày, quá trình giải quyết
bà X1 và ông C1 không chứng minh được tại thời điểm nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cụ Cà H3 giao đất cho bà X1 và ông C1 sử dụng không đúng
vị trí như bà X1 và ông C1 yêu cầu công nhận đất là không có căn cứ, cho nên ý
kiến trình bày và yêu cầu của bên bà X1 và ông C1 không có căn cứ chấp nhận.
[6] Cụ Thạch Thị Cà H3 (chết) không có để lại di chúc, do đó việc phân
chia thừa kế thực hiện theo pháp luật, căn cứ lời khai của các đương sự, trích lục
khai tử của cụ Cà H3 cùng các Tài liệu khác xác định: chồng cụ Cà H3 chết năm
1974, cha mẹ cụ Cà H3 đã chết, vì vậy hàng thừa kế thứ nhất của Cà H3 gồm có
06 người: Ông Thạch X1 (Thạch Th quốc tịch Mỹ đã chết năm 2024), bà Thạch
Thị S, bà Thạch Thị S1, ông Thạch H1, bà Thạch Thị X1 và bà Thạch Thị X;
Ông Thạch X1 (Thạch Th quốc tịch Mỹ đã chết) hàng thừa kế của ông
Thạch X1 (Thạch Th) gồm: Vợ là bà Nguyễn Thị L1 và con là anh Nguyễn H4
đều có quốc tịch Mỹ.
[7] Đối với thửa đất 1290, năm 2021 Ủy ban nhân dân huyện T có ban
hành Quyết định số: 8207/QĐ-UBND ngày 16/11/2021 thu hồi diện tích
567,5m
2
để thực hiện dự án Xây dựng Đường huyện 13 kéo dài từ giáp Đường
huyện 09, xã T3 đến giáp tuyến tránh Quốc lộ 60, xã Ph, huyện T, tổng cộng giá
trị bị thiệt hại Nhà nước đền bù bằng 131.206.000 đồng, do có tranh chấp nên
Hồi đồng đền bù giải phóng mặt bằng thuộc Ủy ban nhân dân huyện T chưa chi
trả được. Quá trình giải quyết Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng thuộc Ủy
ban nhân dân huyện T có ý kiến xác nhận số 131.206.000 đồng đã thu hồi đất
thuộc dự án xây dựng đường huyện 13 kéo dài từ giáp đường huyện 9, xã T3
đến giáp tuyến tránh QL 60, xã Ph, huyện T của hộ Thạch Thị Cà H3 chưa chi
trả được, lý do đang tranh chấp quyền sử dụng đất và trong thời gian Tòa án thụ
lý vụ án, Hội đồng sẽ chịu trách nhiệm chi trả lại theo bản án, quyết định của
Tòa án.
Tuy nhiên từ ngày 01/7/2025 Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh đã
kết thúc hoạt động, số tiền đền bù giá trị đất bị thu hồi bằng 131.206.000 đồng
không làm thủ tục ký gửi do không còn con dấu để thực hiện giao dịch, cho nên
các đương sự thống nhất tạm giao số tiền bằng 131.206.000 đồng cho ông
Huỳnh Tấn T2 quản lý, do trước khi kết thúc hoạt động ông TÀI cũng là thành
11
viên của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ tái định cư Xây dựng Đường huyện 13 kéo
dài từ giáp Đường huyện 09, xã T3 đến giáp tuyến tránh Quốc lộ 60, xã Ph,
huyện T công tác tại Phòng Kinh tế Hạ tầng và Đô thị huyện T, hiện nay ông
TÀI đang công tác tại Phòng Kinh tế xã T thuộc Ủy ban nhân dân xã T, qua làm
việc ông TÀI có ý kiến ông được giao quản lý số tiền Nhà nước đền bù đất bị
thu hồi của hộ Thạch Thị Cà H3 bằng 131.206.000 đồng, do các đương sự còn
đang tranh chấp nên chưa chia trả số tiền trên cho hộ Thạch Thị Cà H3, ông chịu
trách nhiệm thực hiện việc chi trả lại cho hộ Thạch Thị Cà H3 được hưởng theo
bản án, quyết định của Tòa án.
[8] Tại phiên tòa bà Thạch Thị X khai lúc còn sống cụ Cà H3 có cho bà
diện tích 01 nền nhà và 02 công đất tại thửa đất số 1290 đang tranh chấp, đối với
diện tích đất nền nhà bà đã làm thủ tục và đứng tên quyền sử dụng đất xong, còn
lại thửa đất 1290 cụ Cà H3 có giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà
giữ và canh tác đất, bà nghỉ cụ Cà H3 đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất bà cũng yên tâm không sợ ai tranh chấp, sau khi cụ Cà H3 chết bà mới đi
làm thủ tục để được đứng tên quyền sử dụng đất, lúc này bà X1 cũng có ký tên
vào giấy xác nhận quan hệ gia đình để cho liên hệ cơ quan cH1 môn để làm thủ
tục cấp lại bằng khoán mới, do con cụ Cà H3 không ký tên đủ nên Nhà nước
không làm thủ tục được cho bà, năm 2022 Nhà nước mở lộ có thu hồi đất nên bà
với bà X1 tranh chấp đến nay. Tại thời điểm Nhà nước thu hồi đất, thì thửa đất
1290 bà cho bà X1 thuê canh tác cho nên lúa trên đất là của bà X1.
Xét thấy ý kiến trình bày của bà X cho rằng bà được cụ Cà H3 tặng cho
đất vào năm 2014 lúc cụ Cà H3 còn sống, trong suốt quá trình sử dụng đất bà X
không thực hiện quyền của chủ sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất
đai, cụ thể bà không kê khai đăng ký thửa đất 1290 với cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền, trong khi phần diện tích đất nền nhà bà được cụ Cà H3 tặng cho
như bà trình bày bà đã thực hiện kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất xong, cho nên ý kiến trình bày và yêu cầu của bà X là không
phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận
yêu cầu của bà X.
[9] Sau khi thu hồi diện tích 567,5m
2
để mở lộ, thửa đất 1290 còn lại diện
tích 1.862,5m
2
(vị trí khu đất gồm 03 phần B, C, L), tọa lạc tại Ấp C2, xã Ph,
huyện T, tỉnh Trà Vinh (Nay là Ấp C2, xã T, tỉnh Vĩnh Long). Theo khoản 2
Điều 651 của Bộ luật Dân sự thì người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di
sản bằng nhau, vì vậy hàng thừa kế thứ nhất của cụ Cà H3 các đương sự xác
định gồm có 06 người gồm: Ông Thạch X1 (Thạch Th (đã chết), bà Thạch Thị
S, bà Thạch Thị S1, ông Thạch H1, bà Thạch Thị X1 và bà Thạch Thị X, do đó
thửa đất 1290 diện tích còn lại 1.852,6m
2
xác định 01 suất thừa kế theo pháp
luật bằng 308,7m
2
. Quá trình giải quyết bà Thạch Thị X1 yêu cầu được hưởng
01 suất thừa kế và xin nhận vị trí đất nằm cặp thửa đất 1289 bà đang sử dụng để
thuận tiện cho việc canh tác đất, kể cả tiền Nhà nước đền bù, ông Thạch H1 yêu
cầu hưởng 01 suất thừa kế, ông thống nhất giao đất cho bà X quản lý, sử dụng
yêu cầu bà X hoàn lại giá trị cho ông H1 hưởng kể cả tiền Nhà nước đền bù.
Còn bà Thạch Thị S và bà Thạch Thị S1 có ý kiến thống nhất thửa đất 1290 cụ
12
Cà H3 đã cho bà X từ năm 2014 đề nghị Tòa án công nhận thửa đất cho bà X
hưởng, nếu thửa đất còn là di sản của cụ Cà H3, bà S và bà S1 thống nhất giao
suất thừa kế của 02 bà được hưởng lại cho bà X hưởng kể cả tiền Nhà nước đền
bù, không yêu cầu gì khác. Ông Thạch X1 (Thạch Th đã chết) hàng thừa kế của
ông Thạch Th gồm: vợ là bà Nguyễn Thị L1 và con là anh Nguyễn H4 cùng có ý
kiến xác nhận thửa đất 1290 có nguồn gốc là của cụ Cà H3, lúc còn sống cụ Cà
H3 đã cho bà Thạch Thị X rồi, bà Nguyễn Thị L1 và anh Nguyễn H4 không có
tranh chấp, nếu thửa đất còn là di sản của cụ Cà H3, bà Nguyễn Thị L1 và anh
Nguyễn H4 thống nhất cho lại bà X hưởng. Cho nên thửa đất 1290 bà X được
hưởng 04 suất thừa kế theo pháp luật, qua thẩm định trên đất không có Tài sản
của cụ Cà H3 chết để lại và cũng không có Tài sản của ai khác.
[10] Xét thấy ý kiến của bà Thạch Thị X1 xin hưởng phần diện tích đất
cặp thửa đất 1289 để tiện việc sử dụng đất và đi ra lộ, theo sơ đồ khu đất tranh
chấp bà X1 đang quản lý, sử dụng diện tích (phần D, A) thuộc thửa đất 1289 (tư
liệu 2006 là thửa 91) mặt giáp lộ là (Phần E, F) thuộc thửa đất 167 của chủ sở
hữu khác, bà X1 sử dụng đất bên trong không có đường ra lộ, cho nên yêu cầu
của bà X1 là có căn cứ chấp nhận. Đối với 01 suất thừa kế của bà X1 được
hưởng bằng 308,7m
2
, nằm trong thửa đất 1290, Hội đồng xét xử chia cho bà X1
được hưởng diện tích 45,7m
2
(phần B1) và diện tích 256,6m
2
(phần C1), thuộc
thửa đất số 1290 (vị trí đất được nhận nằm cặp thửa đất 1289), như vậy tổng
diện tích đất bà X1 được nhận là 302,3m
2
, so với diện tích đất được hưởng còn
thiếu diện tích 6,4m
2
, phần diện tích đất thiếu buộc bà X hoàn trả thêm giá trị
cho bà X1 hưởng bằng 8.320.000 đồng;
[11] Đối với 01 suất thừa kế của ông Thạch H1 được hưởng bằng
308,7m
2
, nằm trong thửa đất 1290, quá trình giải quyết ông H1 thống nhất giao
đất cho bà Thạch Thị X quản lý, sử dụng, ông H1 yêu cầu bà X hoàn lại giá trị
thừa kế cho ông H1 hưởng bằng 401.310.000 đồng (DT 308,7m
2
x 1.300.000
đồng/m
2
).
[12] Đối với số tiền Nhà nước đền bù đất bị thu hồi bằng 131.206.000
đồng, trong đó có số tiền cây trồng (lúa) bằng 2.837.500 đồng, bà X xác định tại
thời điểm thu hồi đất, thửa đất 1290 là do bà X1 canh tác, lúa trên đất chưa thu
hoạch cho nên số tiền thu hồi đất sẽ được trừ lại tiền cây trồng cho bà X1 bằng
2.837.500 đồng, số tiền còn lại 128.368.500 đồng được chia thừa kế thành 06
phần bằng nhau, mỗi phần bằng 21.394.750 đồng cho hàng thừa kế của cụ Cà
H3 hưởng, theo nhận định trên bà Thạch Thị X1 được hưởng 01 suất thừa kế và
tiền cây trồng trên đất tổng cộng bằng 24.232.250 đồng (21.394.750 đồng +
2.837.500 đồng), ông Thạch H1 được hưởng 01 suất thừa kế bằng 21.394.750
đồng, bà Thạch Thị X được hưởng 04 suất thừa kế bằng 85.579.000 đồng
(21.394.750 đồng x 04).
[13] Về giá đất: Qua kết quả định giá của Hội đồng định giá, thì thửa đất
số 1289 và 1290 có giá 1.300.000 đồng/m
2
; Như vậy tổng giá trị Tài sản bà X
được hưởng bằng 1.726.819.000 đồng; Bà Thạch Thị X1 được hưởng bằng
425.542.250 đồng; Ông Thạch H1 được hưởng bằng 422.704.750 đồng;

13
Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Thị X; Không chấp nhận yêu cầu phản tố
của bà Thạch Thị X1 và ông Sơn C1; Chia thừa kế thửa đất 1290 theo quy định
của pháp luật.
[14] Về án phí sơ thẩm: Buộc các đương sự được hưởng di sản thừa kế
phải chịu theo quy định; Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[15] Về chi phí thẩm định, định giá: Buộc các đương sự được hưởng di
sản thừa kế phải chịu theo quy định.
[16] Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng
xét xử chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 26 khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, 147, 157, 165, 273,
227, 228, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 1 Luật số 85/2025/QH15
ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố
tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa
giải, đối thoại tại Tòa án;
Áp dụng các Điều 611, 618, 623, 649, 650, 651 và 652 Bộ luật Dân sự
năm 2015;
Áp dụng các Điều 100, 179, 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 236 Luật
đất đai năm 2024;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Thị X
yêu cầu công nhận thửa đất 1290 và số tiền đền bù giá trị đất bị thu hồi.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Thạch Thị X1 và ông Sơn C1.
3. Chia thừa kế theo pháp luật thửa đất 1290, diện tích còn lại 1.852,6m
2
,
tờ bản đồ số 5, loại đất lúa, tọa lạc ấp C2, xã Ph, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Nay là
Ấp C2, xã T, tỉnh Vĩnh Long) và số tiền đền bù giá trị đất bị thu hồi cho hàng
thừa kế của cụ Thạch Thị Cà H3 được hưởng.
4. Công nhận cho bà Thạch Thị X1 được hưởng diện tích 45,7m
2
(phần
B1) và diện tích 256,6m
2
(phần C1), thuộc thửa đất số 1290, tờ bản đồ số 5, loại
đất lúa, tọa lạc ấp C2, xã Ph, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Nay là Ấp C2, xã T, tỉnh
Vĩnh Long, có sơ đồ khu đất kèm theo).
5. Công nhận cho bà Thạch Thị X được hưởng diện tích 1.550,3m
2
(phần
B2, B3, B4, C2, C3, C4, L1, L2), thuộc thửa đất số 1290, tờ bản đồ số 5, loại đất
14
lúa, tọa lạc ấp C2, xã Ph, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Nay là Ấp C2, xã T, tỉnh Vĩnh
Long, có sơ đồ khu đất kèm theo).
6. Buộc bà Thạch Thị X có trách nhiệm thanh toán cho bà Thạch Thị X1
số tiền bằng 8.320.000 đồng là tiền chênh lệnh diện tích 6,4m
2
.
7. Buộc bà Thạch Thị X có trách nhiệm thanh toán cho ông Thạch H1 số
tiền bằng 401.310.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn
yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án), cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải
thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468
Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
8. Buộc ông Huỳnh Tấn T2 cán bộ Phòng Kinh tế xã T có trách nhiệm chi
trả số tiền bằng 24.232.250 đồng cho bà Thạch Thị X1 hưởng theo Quyết định
số: 8207/QĐ-UBND ngày 16/11/2021 thu hồi diện tích 567,5m
2
để thực hiện dự
án Xây dựng Đường huyện 13 kéo dài từ giáp Đường huyện 09, xã T3 đến giáp
tuyến tránh Quốc lộ 60, xã Ph, huyện T của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Trà
Vinh.
9. Buộc ông Huỳnh Tấn T2 cán bộ Phòng Kinh tế xã T có trách nhiệm chi
trả số tiền bằng 21.394.750 đồng cho Thạch H1 hưởng theo Quyết định số:
8207/QĐ-UBND ngày 16/11/2021 thu hồi diện tích 567,5m
2
để thực hiện dự án
Xây dựng Đường huyện 13 kéo dài từ giáp Đường huyện 09, xã T3 đến giáp
tuyến tránh Quốc lộ 60, xã Ph, huyện T của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Trà
Vinh.
10. Buộc ông Huỳnh Tấn T2 cán bộ Phòng Kinh tế xã T có trách nhiệm
chi trả số tiền bằng 85.579.000 đồng cho bà Thạch Thị X hưởng theo Quyết định
số: 8207/QĐ-UBND ngày 16/11/2021 thu hồi diện tích 567,5m
2
để thực hiện dự
án Xây dựng Đường huyện 13 kéo dài từ giáp Đường huyện 09, xã T3 đến giáp
tuyến tránh Quốc lộ 60, xã Ph, huyện T của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Trà
Vinh.
11. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc bà Thạch Thị X phải chịu 57.152.760 đồng án phí. Nhưng được
trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.550.000 đồng theo biên lai thu tiền số
0006478 ngày 04-12-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Trà
Vinh (Nay là phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12- Vĩnh Long) và số tiền tạm
ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002141 ngày 21-8-
2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà Thạch Thị X còn phải nộp tiếp
số tiền 53.302.760 đồng.
- Buộc bà Thạch Thị X1 và ông Sơn C1 phải chịu 300.000 đồng án phí
phản tố không được chấp nhận. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã

15
nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002141 ngày 21-8-2025 tại Thi hành
án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà Thạch Thị X1 và ông Sơn C1 đã nộp đủ án phí.
- Buộc bà Thạch Thị X1 phải chịu 20.908.190 đồng án phí chia thừa kế;
- Buộc ông Thạch H1 phải chịu 20.908.190 đồng án phí chia thừa kế;
12. Về chi phí thẩm định, định giá bằng 13.500.000 đồng:
- Buộc bà Thạch Thị X1 phải chịu 2.250.000 đồng để hoàn trả lại cho bà
Thạch Thị X.
- Buộc ông Thạch H1 phải chịu 2.250.000 đồng để hoàn trả lại cho bà
Thạch Thị X.
- Buộc bà Thạch Thị X phải chịu 9.000.000 đồng, số tiền này bà X đã nộp
và chi xong.
13. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng
mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để xin Tòa án nhân dân tỉnh
Vĩnh Long xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
14. Khi án có hiệu lực pháp luật, người sử dụng đất được quyền liên hệ cơ
quan có thẩm quyền để đăng ký kê khai việc sử dụng đất và cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
15. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Vĩnh Long; THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND KVX- Vĩnh Long;
- Phòng THADS KVX- Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án. Dương Thị Mỹ Chấm
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm