Bản án số 23/2024/LĐ-ST ngày 31/12/2024 của TAND huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 23/2024/LĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 23/2024/LĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 23/2024/LĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 23/2024/LĐ-ST ngày 31/12/2024 của TAND huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Cần Giuộc (TAND tỉnh Long An) |
Số hiệu: | 23/2024/LĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 31/12/2024 |
Lĩnh vực: | Lao động |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Hồ Thị Ngọc S "hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội" Hồ Thị Ngọc Hân |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NH DÂN
HUYỆN CẦN GIUỘC
TỈNH LONG AN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 23/2024/LĐ – ST
Ngày: 31 - 12 - 2024
V/v tranh chấp hợp đồng lao động,
bảo hiểm xã hội.
NH DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tô Cẩm Hương;
Các Hội thẩm nH dân:
1. Ông Đặng Văn Vững, từng công tác tại Phòng Lao động Thương binh và
Xã hội huyện Cần Giuộc;
2. Ông Phạm Minh Hiếu, công tác tại Liên đoàn Lao động huyện Cần
Giuộc;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nH dân
huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nH dân huyện Cần Giuộc tham gia phiên tòa:
Bà Phan Thị Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nH dân huyện Cần Giuộc,
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2024/TLST- LĐ ngày 08 tháng 10
năm 2024 về tranh chấp hợp đồng lao động và bảo hiểm xã hội theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST – LĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Ngọc S, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Bà Hồ Thị Ngọc H, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Ấp B xã T, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty trách nhiệm hữu hạn Túi xách S1 Việt Nam;
Địa chỉ trụ sở chính: Lô A02, đường số D, khu công nghiệp Đ, xã E, huyện
C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông M, chức danh: Tổng giám đốc;
2
2. Bảo hiểm xã hội tỉnh L.
Địa chỉ: Số X, Y, phường Z, thành phố U, tỉnh Long An.
(Các đương sự vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hồ Thị Ngọc S trình bày: Năm
2009, bà có mượn giấy tờ tùy thân của bà Hồ Thị Ngọc H để xin việc làm tại
Công ty trách nhiệm hữu hạn Túi xách S1 Việt Nam (sau đây viết là Công ty S1).
Công ty S1 có tham gia bảo hiểm xã hội (sau đây viết là BHXH) cho bà, với tên
của bà Hồ Thị Ngọc H, theo sổ BHXH mã số 8009031075 cấp ngày 16/11/2009
tại Bảo hiểm xã hội tỉnh L, thời gian tham gia BHXH từ tháng 10/2009 đến
tháng 12/2010 thì bà nghỉ việc. Vài tháng sau, bà sử dụng thông tin thật của bà
để tiếp tục xin việc tại Công ty S1, bà được Công ty S1 tham gia BHXH, hiện tại
bà đã nghỉ việc, sổ BHXH trong thời gian này cũng đã bị lạc.
Tháng 01/2009, bà Hồ Thị Ngọc H làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu
hạn Q, được Công ty tham gia BHXH theo sổ BHXH mã số 8009003265 do
BHXH tỉnh L cấp ngày 12/5/2009. Gần đây, bà H nghỉ việc thì phát hiện bà H bị
trùng thời gian tham gia BHXH giữa sổ BHXH mã số 8009031075 và sổ BHXH
mã số 8009003265, thời gian trùng là từ tháng 10/2009 đến tháng 12/2010. Việc
bà sử dụng thông tin nhân thân của bà H để xin việc là sai nên bà khởi kiện bà
Hồ Thị Ngọc H, yêu cầu Tòa án giải quyết:
Tuyên bố vô hiệu hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty S1 với bà (trên
hợp đồng ghi tên người lao động là Hồ Thị Ngọc H). Bà không có hợp đồng lao
động này nên không cung cấp cho Tòa án được.
Điều chỉnh sổ BHXH mã số 8009031075 mang tên Hồ Thị Ngọc H làm việc
tại Công ty S1, thời gian tham gia bảo hiểm từ tháng 10/2009 đến tháng 12/2010
thành tên của bà Hồ Thị Ngọc S. Bà không yêu cầu gộp sổ BHXH mã số
8009031075 đã được điều chỉnh sang tên bà với sổ BHXH trong thời gian bà
làm việc tại Công ty S1 bằng thông tin thật của bà, vì hiện tại bà đã thất lạc sổ
BHXH trong thời gian này. Bà sẽ tự liên hệ cơ quan BHXH để giải quyết hoặc
khởi kiện bằng vụ án khác.
Bà tự nguyện chịu toàn bộ án phí lao động và xin được vắng mặt trong quá
trình giải quyết vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Hồ Thị Ngọc H trình bày: Năm 2009,
bà có cho bà Hồ Thị Ngọc S mượn giấy tờ tùy thân của để bà S xin việc tại
Công ty S1, Công ty có tham gia BHXH cho bà S với tên của bà theo sổ BHXH
mã số 8009031075. Tháng 01/2009, bà thực tế làm việc tại Công ty trách nhiệm
hữu hạn Q, được Công ty tham gia BHXH theo sổ BHXH mã số 8009003265 do
BHXH tỉnh L cấp ngày 12/5/2009. Nay, bà đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của bà S, đồng ý điều chỉnh sổ BHXH mã số 8009031075 mang tên Hồ Thị Ngọc
H làm việc tại Công ty S1, thời gian tham gia bảo hiểm từ tháng 10/2009 đến tháng

3
12/2010 thành tên của bà Hồ Thị Ngọc S, để bà và bà S được hưởng các chế độ
BHXH theo quy định. Bà xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm
xã hội tỉnh Long An có ý kiến: Tháng 10/2009, Công ty S1 có kê khai đóng BHXH,
BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN cho người lao động tên Hồ Thị Ngọc H, sinh năm
1989, số sổ BHXH được cấp là 8009031075, quá trình đóng BHXH, BHTN từ
tháng 10/2009 đến tháng 12/2010, hiện chưa được duyệt hưởng trợ cấp BHXH và
BHTN. Bảo hiểm xã hội tỉnh L xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty S1 đã được Tòa án tống đạt
các văn bản và quyết định tố tụng hợp lệ nhưng Công ty vắng mặt trong toàn bộ
quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, không có ý kiến phản hồi đối với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham
gia tố tụng dân sự là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, tuyên bố vô hiệu hợp đồng lao động được xác lập giữa Công ty
S1 với bà Hồ Thị Ngọc S nhưng hợp đồng lao động ghi tên người lao động là
Hồ Thị Ngọc H; điều chỉnh sổ BHXH mã số 8009031075 mang tên Hồ Thị Ngọc
H làm việc tại Công ty S1, thời gian tham gia bảo hiểm từ tháng 10/2009 đến tháng
12/2010 thành tên của bà Hồ Thị Ngọc S. Bà S và bà H được hưởng chế độ
BHXH theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền của Tòa án: Bà Hồ Thị Ngọc S khởi kiện bà Hồ Thị
Ngọc H, yêu cầu vô hiệu hợp đồng lao động và điều chỉnh sổ BHXH. Hợp
đồng lao động được thực hiện tại Công ty S1, địa chỉ tại xã E, huyện Cần Giuộc,
tỉnh Long An. Căn cứ vào Khoản 5 Điều 32, điểm c Khoản 1 Điều 35, điểm g
Khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
[1.2] Sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn và Bảo hiểm xã hội
tỉnh L có ý kiến xin xét xử vắng mặt. Công ty S1 đã được Tòa án tống đạt các
văn bản tố tụng, giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng
vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều
228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự
trong vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Yêu cầu vô hiệu hợp đồng lao động: Bà Hồ Thị Ngọc S và bà Hồ Thị
Ngọc H thống nhất trình bày vào năm 2009 bà H có cho bà S mượn giấy tờ tùy
4
thân để bà S giao kết hợp đồng lao động với Công ty S1, thời gian làm việc từ
tháng 10/2009 đến tháng 12/2010. Công ty S1 đã được Tòa án tống đạt các văn
bản tố tụng liên quan nhưng không có ý kiến phản hồi về toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của bà S. Do đó, căn cứ theo Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015, xác định lời trình bày của bà S và bà H là đúng sự thật. Vào tháng
10/2009, bà Hồ Thị Ngọc S đã sử dụng thông tin nhân thân của bà Hồ Thị Ngọc
H để giao kết hợp đồng lao động với Công ty S1. Trên hợp đồng lao động thì tên
người lao động là bà Hồ Thị Ngọc H nhưng thực tế người ký hợp đồng lao động
và người làm việc tại Công ty S1 là bà Hồ Thị Ngọc S. Do đó, bà S mới là người
lao động thật sự và có tồn tại quan hệ lao động, hợp đồng lao động với Công ty
S1 theo quy định tại Điều 7, 27 Bộ luật lao động năm 1994, sửa đổi, bổ sung
năm 2002.
Tuy nhiên, bà S sử dụng thông tin của bà H để giao kết hợp đồng lao động
với Công ty S1 là không đảm bảo nguyên tắc trung thực khi giao kết hợp đồng
lao động theo quy định tại Điều 9 Bộ luật lao động năm 1994, sửa đổi, bổ sung
năm 2002. Công ty S1 sử dụng lao động là bà S nhưng lại giao kết hợp đồng lao
động theo thông tin của bà H nên Công ty S1 chưa thực hiện đúng quy định về
việc tuyển dụng người lao động theo Điều 8 Bộ luật lao động năm 1994, sửa đổi,
bổ sung năm 2002 và Điều 7, 8 Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật
lao động về việc làm.
Vậy nên, khi giao kết hợp đồng lao động, bà S và Công ty S1 đều vi phạm
quy định của pháp luật lao động. Nay bà S yêu cầu vô hiệu hợp đồng lao động là
có cơ sở. Căn cứ theo Khoản 4 Điều 166 Bộ luật lao động năm 1994, sửa đổi, bổ
sung năm 2002, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Hồ Thị Ngọc S (trên hợp đồng lao động ghi
tên bà Hồ Thị Ngọc H) với Công ty S1 trong thời gian từ tháng 10/2009 đến
tháng 12/2010 bị vô hiệu toàn bộ.
[2.2] Yêu cầu điều chỉnh sổ BHXH: Bảo hiểm xã hội tỉnh Long An xác định
vào tháng 10/2009, Công ty S1 có kê khai đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ,
BNN cho người lao động tên Hồ Thị Ngọc H, sinh năm 1989, số sổ BHXH được
cấp là 8009031075, quá trình đóng BHXH, BHTN từ tháng 10/2009 đến tháng
12/2010, hiện chưa được duyệt hưởng trợ cấp BHXH và BHTN.
Tuy nhiên, bà S và bà H xác định từ tháng 10/2009 đến tháng 12/2010, bà
Hồ Thị Ngọc S mới là người lao động được Công ty S1 tham gia BHXH theo sổ
BHXH mã số 8009031075. Thời điểm tháng 10/2009, bà S đã đủ 15 tuổi theo
quy định tại Điều 6 Bộ luật lao động năm 1994, sửa đổi, bổ sung năm 2002.
Nay, bà S và bà H thống nhất điều chỉnh sổ BHXH nêu trên thành tên của bà Hồ
Thị Ngọc S là có cơ sở, phù hợp với thực tế. Việc điều chỉnh này là bảo đảm
đúng đối tượng lao động thật sự, phù hợp với quy định về BHXH tại Điều 140
Bộ luật lao động năm 1994, Điều 15, 16, 20 của Luật bảo hiểm xã hội năm
2006, Điều 18, 23 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, nên được chấp nhận,

5
điều chỉnh sổ BHXH số 8009031075 từ tên Hồ Thị Ngọc H thành tên Hồ Thị
Ngọc S. Bà S được hưởng chế độ BHXH theo hợp đồng lao động được xác lập
giữa bà S với Công ty S1; bà H được hưởng chế độ BHXH theo hợp đồng lao động
được xác lập giữa bà H với Công ty trách nhiệm hữu hạn Q. Bà Hồ Thị Ngọc S
không yêu cầu giải quyết về gộp sổ BHXH nên Hội đồng xét xử không xem xét,
giải quyết về vấn đề này.
[3] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
nguyên đơn và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.
[4] Về án phí: Bà Hồ Thị Ngọc S tự nguyện chịu toàn bộ án phí lao động sơ
thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 5 Điều 32, điểm c Khoản 1 Điều 35, điểm g Khoản 1
Điều 40, Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015; Điều 6, 7, 9, 27, 140, 166 của Bộ luật lao động năm
1994, sửa đổi, bổ sung năm 2002; Điều 15, 16, 20 của Luật bảo hiểm xã hội năm
2006; Điều 18, 23 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; Điều 7, Điều 8 của Nghị
định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về việc làm; điểm a Khoản
1 Điều 12, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị Ngọc S
với bị đơn bà Hồ Thị Ngọc H.
Tuyên bố Hợp đồng lao động được giao kết giữa bà Hồ Thị Ngọc S (trên
hợp đồng lao động ghi tên bà Hồ Thị Ngọc H) với Công ty trách nhiệm hữu hạn
Túi xách S1 Việt Nam, trong thời gian từ tháng 10/2009 đến tháng 12/2010, bị
vô hiệu toàn bộ.
Điều chỉnh sổ bảo hiểm xã hội mã số 8009031075 cấp ngày 16/11/2009 cho
bà Hồ Thị Ngọc H do Công ty trách nhiệm hữu hạn Túi xách S1 Việt Nam nộp từ
tháng 10/2009 đến tháng 12/2010 tại Bảo hiểm xã hội tỉnh L thành tên bà Hồ Thị
Ngọc S.
Bà Hồ Thị Ngọc S được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội theo theo hợp
đồng lao động được xác lập giữa bà Hồ Thị Ngọc S với Công ty trách nhiệm hữu
hạn Túi xách S1 Việt Nam theo sổ bảo hiểm xã hội mã số 8009031075 đã được
điều chỉnh.
Bà Hồ Thị Ngọc H được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội theo hợp đồng lao
động được xác lập giữa bà Hồ Thị Ngọc H với Công ty trách nhiệm hữu hạn Q.
6
2. Về án phí: Bà Hồ Thị Ngọc H tự nguyện chịu 300.000 đồng án phí lao
động sơ thẩm. Tạm ứng án phí bà Hồ Thị Ngọc H có nộp 300.000 đồng theo
Biên lai thu số 0013343 ngày 30/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện
Cần Giuộc, tỉnh Long An, chuyển sang án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án
này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án được tống đạt hợp lệ.
4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- TAND tỉnh Long An;
- VKSND huyện Cần Giuộc;
- Chi cục THA huyện Cần Giuộc;
- Lưu./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Tô Cẩm Hương
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 26/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 26/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 26/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 21/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 18/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 17/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 17/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 17/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 17/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 17/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 12/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 10/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 07/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 07/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 07/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 06/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm