Bản án số 22/2026/HC-PT ngày 10/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 22/2026/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 22/2026/HC-PT ngày 10/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 22/2026/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/09/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: người khởi kiện yêu cầu hủy GCNQSD đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 22/2026/HC-PT Bản án số 22/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 22/2026/HC-PT Bản án số 22/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 22/2026/HC-PT
Ngày 10 – 9 – 2026.
V/v Kiện quyết định hành chính
trong lĩnh vực quản lý đất đai.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thu Hường.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Trang, ông Trần Minh Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Loan - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà
Đặng Thị Mỹ Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 19/2026/TLPT-HC ngày
10/8/2026, về việc “Kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do bản án hành chính sơ thẩm số: 06/2026/HC-ST ngày 16/6/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử phúc thẩm số: 17/2026/QĐ-PT ngày 10/8/2026, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1960; địa chỉ: Khu phố
P, phường P, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
2. Người bị kiện: Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh K; địa chỉ:
Số B T, phường T, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện pháp luật của người bị kiện: Ông Phạm Hoài P, chức vụ:
Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh K; Có đơn xin xét xử
vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Võ Thị B, sinh năm 1983; địa chỉ: Khu phố P, phường P, tỉnh Đắk
Lắk; Có mặt.
3.2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1951; địa chỉ: Khu phố P, phường P, tỉnh
Đắk Lắk (vắng mặt).
3.3. Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh K; địa chỉ: Khu phố C,
phường Đ, tỉnh Đắk Lắk.
2
Người đại diện pháp luật: Ông Nguyễn Đình T1, chức vụ: Giám đốc Văn
phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh K; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Người khởi kiện ông Nguyễn Ngọc T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông
Nguyễn Ngọc T trình bày:
Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại khu phố P, phường
P, tỉnh Đắk Lắk hiện nay tôi đang quản lý, sử dụng là được nhận thừa kế của cha
mẹ tôi (ông Nguyễn X, bà Đặng Thị C) theo đúng quy định pháp luật. Tại Bản án
số 02/2021/DSST ngày 07/01/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên giải quyết
yêu cầu chia thừa kế của bà Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị B1, Nguyễn Thị N1,
Nguyễn Thị N cũng công nhận tài sản đó thừa kế cho tôi, chỉ khi tôi đồng ý cho bà
N phần đất đó thì tôi sẽ cùng bà N liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì bà
N mới được phân chia đất, cấp đất. Tôi không kháng cáo Bản án trên vì bản án
công nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Viết tắt: GCNQSDĐ) của tôi là
đúng pháp luật. Sau đó, bà N tự ý liên hệ và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai thị xã Đ (Viết tắt: CNVPĐKĐĐ thị xã Đ) cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho bà Võ Thị B, trên giấy chứng nhận ghi là nhận chuyển nhượng đất
được thực hiện bản án của Toà án là trái pháp luật.
Tôi khởi kiện yêu cầu Toà án huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
DO 441676, vào sổ cấp GCN số 04683, do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
thị xã Đ cấp ngày 24/6/2024 cho bà Võ Thị B.
Người bị kiện Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh K trình
bày:
Ngày 24/5/2024, Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã Đ tiếp nhận, giải quyết hồ sơ
đăng ký biến động đất đai của bà Võ Thị B do nhận chuyển nhượng QSDĐ của bà
Nguyễn Thị N thửa đất số 556, tờ bản đồ số 35, tại thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú
Yên. Thành phần hồ sơ gồm: Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa bà Nguyễn
Thị N và bà Võ Thị B được Văn phòng C1 chứng nhận ngày 28/3/2024, số công
chứng 01165 quyển số 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD; GCNQSDĐ số DL 380828
do UBND thị xã Đ, tỉnh Phú Yên cấp ngày 01/02/2024; Đơn đăng ký biến động đất
đai, tài sản gắn liền với đất. Xét thấy hồ sơ đã đủ theo quy định tại khoản 2 Điều 9
Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014, được sửa đổi, bổ sung tại
khoản 2 Điều 7 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT và không thuộc trường hợp từ
chối hồ sơ đề nghị đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được quy định tại Điều 11a Thông tư số
24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 11 Điều 7
Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017.
3
Quá trình giải quyết hồ sơ của bà Võ Thị B, Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã Đ
không nhận được bất kỳ văn bản nào của Cơ quan Thi hành án dân sự hoặc Văn
phòng Thừa phát lại yêu cầu tạm dừng hoặc dừng việc cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, hoặc văn bản thông báo về việc kê biên tài sản
thi hành án; văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc đã tiếp nhận đơn đề nghị
giải quyết tranh chấp đất đai, tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 556, tờ bản
đồ số 35, tại thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã Đ đã
tiến hành giải quyết hồ sơ đăng ký biến động đất đai của bà Võ Thị B theo đúng
trình tự thủ tục đã được quy định tại khoản 2 Điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CP
ngày 15/5/2014. Do đó, ông Nguyễn Ngọc T yêu cầu huỷ GCNQSDĐ số DO
441676 do Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã Đ cấp ngày 24/6/2024 cho bà Võ Thị B là
không có cơ sở.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Bà Võ Thị B: Tôi nhận chuyển nhượng đất của bà Nguyễn Thị N đúng quy
định pháp luật và tôi đã được cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ hợp pháp.
Tôi không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc T về việc huỷ
GCNQSDĐ số DO 441676 do Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã Đ cấp ngày 24/6/2024
cho tôi.
- Bà Nguyễn Thị N: Tôi được nhận QSDĐ hợp pháp theo bản án có hiệu lực
pháp luật của TAND tỉnh Phú Yên. Sau đó, tôi làm GCNQSDĐ và chuyển nhượng
hợp pháp cho bà Võ Thị B. Vì vậy, tôi không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
ông Nguyễn Ngọc T.
Tại bản án hành chính sơ thẩm số: 06/2026/HC-ST ngày 16/6/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, Điều 31, điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 157,
Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 348 của Luật tố tụng hành chính năm
2015; các Điều 100, Điều 167, Điều 188 của Luật đất đai năm 2013; điểm đ
khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc T về huỷ Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số DO 441676, vào sổ cấp GCN số 04683, do Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Đ cấp ngày 24/6/2024 cho bà Võ Thị B.
2. Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc T được miễn nộp tiền án phí hành chính sơ
thẩm.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo cho các đương sự theo
quy định của pháp luật.
4
Ngày 18/6/2026, ông Nguyễn Ngọc T có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với
nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm để chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi
kiện và nội dung đơn kháng cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia
tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.
- Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ
vụ án thì UBND thị xã Đ cấp GCNQSDĐ số DL 380828 ngày 01/02/2024, cho bà
Nguyễn Thị N đối với thửa số 556, tờ bản đồ số 35, diện tích 577,1m
2
, tại thôn P,
xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên với nguồn gốc sử dụng: “Thực hiện quyết định của
Tòa án công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất” là đúng đối tượng,
đúng diện tích. Do đó, bà N có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau khi
được cấp GCNQSD đất, bà Nguyễn Thị N chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho
bà Võ Thị B. Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã Đ tiếp nhận, giải quyết hồ sơ đăng ký
biến động đất đai của bà Võ Thị B do nhận chuyển nhượng QSDĐ của bà Nguyễn
Thị N và cấp GCNQSDĐ số DO 441676 ngày 24/6/2024 cho bà Võ Thị B là đúng
quy định pháp luật. Cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án có căn cứ, phù hợp với sự thật
khách quan nên kháng cáo của người khởi kiện là không có cơ sở để chấp nhận, đề
nghị Hội đồng xét xử bác đơn kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Ngọc T;
Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 06/2026/HC-ST ngày 16/6/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ
vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng
cứ, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến kháng cáo đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, HĐXX tiến hành xét
xử vắng mặt các đương sự trên.
[2] Về nội dung:
Xét nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc T yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện, huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số DO 441676 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Đ cấp ngày
24/6/2024 cho bà Võ Thị B, thấy rằng:
[2.1] Về nguồn gốc đất:
5
Thửa đất số 556, tờ bản đồ số 35, diện tích 577,1m
2
, tại thôn P, xã H, thị xã
Đ, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố P, phường P, tỉnh Đắk Lắk) có nguồn gốc nằm
trong thửa số 637, tờ bản đồ số 04 của vợ chồng ông Nguyễn X, bà Đặng Thị C,
theo GCNQSDĐ số B 521702 do UBND huyện T (Cũ) cấp ngày 13/3/1995 cho
ông Nguyễn X. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2021/DS-ST ngày 07/01/2021
của Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên, đã xác định: Tờ văn bản phân chia di sản thừa
kế ngày 17/7/2017 có nội dung ông T được nhận toàn bộ di sản do cha mẹ là ông
X, bà C để lại là không có hiệu lực pháp luật do không có đầy đủ chữ ký của hàng
thừa kế thứ nhất của ông X, bà C. Việc UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số CB
362093 ngày 30/7/2015, thửa số 210, tờ bản đồ số 35 (Thửa cũ số 637, tờ bản đồ
số 04), diện tích 1.888m
2
(gồm 250m
2
đất ở nông thôn và 1.638m
2
đất trồng cây
hàng năm khác) cho ông T dựa vào Văn bản chia thừa kế ngày 17/7/2017 là không
đúng đối tượng sử dụng đất, vi phạm trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ. Do đó, ông
T cho rằng ông đã được cấp GCNQSD đất hợp pháp là không phù hợp với nhận
định của Bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.
Bản án số 02/2021/DS-ST ngày 07/01/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Phú
Yên còn thể hiện: Quá trình giải quyết vụ án chia thừa kế, các đồng thừa kế đồng ý
cho ông T được hưởng thừa kế đối với thửa số 446 (đã chuyển nhượng và cấp
GCNQSDĐ cho ông V, bà H) và một phần thửa số 447 đã cho bà L, ông A xây nhà
ở. Án sơ thẩm tuyên xử chia cho bà Nguyễn Thị N được quyền quản lý, sử dụng
diện tích 577,1m
2
(Gồm 50m
2
đất ở và 527,1m
2
đất trồng cây hàng năm khác), nằm
trong thửa số 447, tờ bản đồ số 35. Bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ thanh toán lại giá
trị phần thừa kế cho 05 chị em gồm bà Nguyễn Thị B1, Nguyễn Thị M, Nguyễn
Thị N1, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị S. Ông T có mặt tại phiên tòa sơ thẩm ngày
07/01/2021 và không có kháng cáo.
Ngày 20/4/2023, THADS tỉnh P có biên bản làm việc với ông Nguyễn Ngọc
T. Ông T đồng ý giao diện tích 577,1m
2
, tại thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên
như án sơ thẩm đã tuyên cho bà N (BL 160). Ngày 25/4/2023, THADS tỉnh P lập
biên bản giao tài sản thi hành án là diện tích đất nêu trên cho bà N (BL 161).
Sau đó, ông T có đơn đề nghị xem xét lại bản án Dân sự sơ thẩm nêu trên.
Tại Thông báo số 105 ngày 03/5/2024 của TANDCC tại Đà Nẵng đã trả lời: Tòa
án cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án có cơ sở, đảm bảo đúng quy định của pháp luật
nên không có căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm (BL 166).
Căn cứ Bản án số 02/2021/DS-ST đã có hiệu lực pháp luật, bà N làm đơn
xin cấp GCNQSDĐ. Ngày 01/02/2024, UBND thị xã Đ cấp GCNQSDĐ số DL
380828 cho bà Nguyễn Thị N đối với thửa số 556, tờ bản đồ số 35, diện tích
577,1m
2
, tại thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên với nguồn gốc sử dụng: “Thực
6
hiện quyết định của Tòa án công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng
đất”.
Như vậy, UBND thị xã Đ cấp GCNQSDĐ số DL 380828 cho bà Nguyễn
Thị N là đúng thẩm quyền, đúng đối tượng, đúng diện tích như án sơ thẩm số
02/2021/DS-ST của TAND tỉnh Phú Yên đã tuyên.
[2.2] Sau khi được cấp GCNQSD đất, bà Nguyễn Thị N mới ký Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Võ Thị B. Ngày 24/5/2024, Chi nhánh
VPĐKĐĐ thị xã Đ tiếp nhận, giải quyết hồ sơ đăng ký biến động đất đai của bà Võ
Thị B do nhận chuyển nhượng QSDĐ của bà Nguyễn Thị N. Trong quá trình giải
quyết hồ sơ đăng ký biến động QSDĐ từ bà N sang bà B, không có văn bản của cơ
quan có thẩm quyền yêu cầu tạm dừng hoặc dừng việc cấp Giấy chứng nhận đối
với tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hoặc văn bản thông báo về
việc kê biên tài sản thi hành án; văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc đã tiếp
nhận đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai, tài sản gắn liền với đất đối với thửa
đất số 556, tờ bản đồ số 35. Do đó, bà Nguyễn Thị N đủ điều kiện chuyển quyền sử
dụng thửa đất số 556, tờ bản đồ số 35 cho bà Võ Thị B theo quy định tại khoản 1
Điều 167, Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-
CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ. Việc Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã Đ cấp
GCNQSDĐ số DO 441676 ngày 24/6/2024 cho bà Võ Thị B là đúng quy định
pháp luật.
[2.3] Quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk là phù hợp với nhận
định của Hội đồng xét xử. Vì vậy, ông T kháng cáo cho rằng bà N muốn phân chia,
cấp GCNQSD đất đối với diện tích 577,1m
2
đất thì phải được sự đồng ý của ông T,
đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông T là không có căn cứ chấp nhận.
[3] Thiếu sót của cấp sơ thẩm: Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã Đ cấp GCNQSD
đất số DO 441676 ngày 24/6/2024 cho bà Võ Thị B trên cơ sở giải quyết hồ sơ
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà B và bà N. Thửa đất số 556, tờ bản đồ
số 35 được UBND thị xã Đ đã cấp GCNQSDĐ số DL 380828 ngày 01/02/2024
cho bà Nguyễn Thị N theo Bản án giải quyết tranh chấp đất đai. Trường hợp này,
phải đưa người kế thừa quyền, nghĩa vụ của UBND thị xã Đ - Cơ quan cấp
GCNQSD đất cho bà N - vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan để đánh giá việc cấp GCNQSD đất cho bà N đã đảm bảo đúng
đối tượng, diện tích như án dân sự sơ thẩm đã tuyên hay chưa. Cấp sơ thẩm không
đưa Cơ quan cấp GCNQSD đất cho bà N vào tham gia tố tụng là thiếu sót. Tuy
nhiên, cấp sơ thẩm đã thu thập đầy đủ hồ sơ cấp GCNQSD đất cho bà N, giải quyết
nội dung vụ án có căn cứ nên không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ
quan đã cấp GCNQSD đất cho bà N. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
7
[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Ngọc T
phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Tuy nhiên, ông T sinh năm 1960, là người
cao tuổi, nên Hội đồng xét xử miễn án phí phúc thẩm cho ông T theo quy định
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính;
Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Ngọc T. Giữ nguyên bản án
hành chính sơ thẩm số 06/2026/HC-ST ngày 16/6/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 11 – Đắk Lắk.
[2] Về án phí:
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hành chính phúc
thẩm cho ông Nguyễn Ngọc T.
[3] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC (Vụ GĐKT 3);
- VKSNDTC;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 11 – Đắk Lắk;
- Phòng THADS Khu vực 11 – Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Lưu Thị Thu Hường
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 22/2026/HC-PT Bản án số 22/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 22/2026/HC-PT Bản án số 22/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất