Bản án số 213/2023/DS-PT ngày 15-05-2023 của TAND TP. Hà Nội về yêu cầu chia di sản thừa kế và đòi quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
213_2023_DS_PT_ HA NOI
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
213_2023_DS_PT_ HA NOI
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 213/2023/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 213/2023/DS-PT ngày 15-05-2023 của TAND TP. Hà Nội về yêu cầu chia di sản thừa kế và đòi quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hà Nội |
| Số hiệu: | 213/2023/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 15/05/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ông Nguyễn Đăng B yêu cầu chia di sản thừa kế và đòi quyền sử dụng đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Số: 213/2023/DS-PT
Ngày: 15/5/2023
V/v: “Yêu cầu chia di sản thừa kế và đòi
quyền sử dụng đất”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Tiến Dũng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Lan Anh
Ông Trương Chí Anh
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Ngô Phương Liên -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 15 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở TAND Thành phố Hà Nội, xét xử phúc
thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 613/2022/TLPT-DS ngày 26 tháng 12 năm
2022 về việc “chia di sản thừa kế và đòi quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 147/2022/DS - ST ngày 28/9/2022 của Toà án
nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2023/QĐ-PT ngày 17 tháng 4 năm
2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
1. Ông Nguyễn Đăng B, sinh năm 1953; Có mặt
Địa chỉ: PX, TT X Quỳnh Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
2. Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1957; Có mặt
Địa chỉ: Số x xóm Quang Trung 1, đường Bê Tông, Thôn C, xã Đức Giang,
huyện Hoài Đức, Hà Nội.
Bị đơn: Ông Nguyễn Đăng T, sinh năm 1971; Có mặt
Địa chỉ: Số 5 Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của Ông T: Ông Lê Tiến T1, sinh năm 1974; địa
chỉ: Cụm x, xã Thọ An, huyện Đan Phượng, Hà Nội; Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1952; Có mặt
2
Địa chỉ: PX, TT XQuỳnh Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
2. Ông Nguyễn Đăng M, sinh năm 1964; Có mặt
Địa chỉ: Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Hà Nội.
3. Ông Nguyễn Đăng Đ, sinh năm 1966; Có mặt
Địa chỉ: Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Hà Nội.
4. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1950; Vắng mặt
Địa chỉ: Số x Vũ Tông Phan, phường Khương Trung, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
5. Bà Đặng Thị S, sinh năm 1972; Vắng mặt
6. Anh Nguyễn Đăng T, sinh năm 1992; Vắng mặt
Cùng địa chỉ: Số 5 Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của Bà S, Anh T là Ông Nguyễn Đăng T.
Do có kháng cáo của bà Nguyễn Đăng B, Bà Nguyễn Thị Q là nguyên đơn và
Bà Nguyễn Thị H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là Ông Nguyễn
Đăng B và Bà Nguyễn Thị Q thống nhất trình bày:
Bố mẹ của Ông B và Bà Q là cụ Nguyễn Đăng T1 chết năm 2004 và cụ Nguyễn
Thị M1 chết năm 2013. Cụ T1 và cụ M1 sinh được 05 người con chung gồm: Ông
Nguyễn Đăng B, Bà Nguyễn Thị Q, Ông Nguyễn Đăng Đ, Ông Nguyễn Đăng M và Ông
Nguyễn Đăng T. Ngoài ra, các cụ không còn người con riêng hay con nuôi nào khác. Cụ
T1, cụ M1 chết không để lại di chúc, và có để lại nhiều di sản, tuy nhiên trong vụ án
này nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của các cụ để lại là thửa đất số
x khu Gò Đống, Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, diện
tích 215m
2
, (diện tích đo thực tế hiện nay 220m
2
), loại đất nông nghiệp.
Năm 1960, thực hiện chính sách của nhà nước, HTX Đức Giang cấp đất 5% cho
xã viên và những nhân khẩu có mặt và đang sinh sống ở địa phương. Tại thời điểm cấp
đất 5% gia đình Ông B, Bà Q có 4 khẩu, gồm: cụ Nguyễn Đăng T1, cụ Nguyễn Thị
M1, Ông Nguyễn Đăng B và em gái là Bà Nguyễn Thị Q, mỗi người được 1,7 thước,
tổng 04 khẩu là 6,8 thước (tương đương 164m
2
) ở xứ đồng Cầu Buộm.
Năm 1974, Ông B xây dựng gia đình với Bà Nguyễn Thị H là người cùng
Thôn C, sau khi cưới, Bà H về chung sống với Ông B và cụ T1, cụ M1. Năm 1981,
theo chủ trương, chính sách của Hợp tác xã đổi đất 5% từ đồng trước (Cầu Buộm) về
đồng sau (đường Thanh Niên Mả Nội), phần đất được chia năm 1960 đã trả lại Hợp
tác xã, phần đất này đã phân cho gia đình khác, gia đình tôi từ Cầu Buộm chuyển về
góc Đường Thanh Niên Mả Nội. Lúc này đất 5% được chia là 5 khẩu, vì có thêm
khẩu của vợ Ông B là Bà Nguyễn Thị H gộp vào, tổng là 8,5 thước (tương đương
204m2).
3
Năm 1987, Hợp tác xã tiếp tục chuyển đất từ Đường Thanh Niên Mả Nội về xứ
Đồng Gò Đống, nhưng đó là miếng đất chia 5 khẩu ở góc Đường Thanh Niên Mả Nội
chuyển về xứ Đồng Gò Đống. Mảnh đất của gia đình Ông B nằm ở cuối cùng nên thừa
ra thành 9,1 thước (theo chính sách thừa không rút ra, thiếu thì bù thêm). Như vậy, của
cụ T1, cụ M1 có 4 thước đất, của Ông Nguyễn Đăng B, em gái Nguyễn Thị Q, và vợ
Nguyễn Thị H có 5,1 thước.
Theo quy định, người được cấp bổ sung đất 10% thì phải nộp tiền vào Hợp tác
xã để hợp thức phần đất được bổ sung (trừ người cao tuổi không phải nộp) nên cụ T1,
cụ M1 không phải nộp. Còn phần Ông Nguyễn Đăng T do các cụ không nộp nên Ông
T không được chia đất bổ sung. Do đó, Ông Nguyễn Đăng T không có đất 5% và
cũng không được cấp đất bổ sung ở thửa 49.
Năm 2004 cụ T1 chết, năm 2013 cụ M1 chết. Khi chết, cả cụ T1 và cụ M1 đều
không để lại di chúc. Diện tích đất 5% của các cụ và của Ông B, Bà Q, Bà H, đất này
hiện nay Bà Q đang quản lý. Năm 2018, Ông B và Bà Q có thuê người đổ đất hết
4.000.000đồng, khi đang đổ thì Ông Nguyễn Đăng T ra ngăn cản và xảy ra tranh
chấp.
Do đó Ông B, Bà Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
1. Xác định và trả lại quyền sử dụng đất 5% mà Nhà nước cấp cho Ông
Nguyễn Đăng B, Bà Nguyễn Thị H và Bà Nguyễn Thị Q tại thửa 49 khu Gò Đống,
Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, mỗi người 1,7 thước,
tương đương 41m
2
.
2. Chia di sản thừa kế theo pháp luật phần diện tích đất 5% mà Nhà nước cấp
cho cụ T1, cụ M1 ở thửa 49 khu Gò Đống, Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức,
thành phố Hà Nội cho nguyên đơn bằng hiện vật.
3. Bà Q yêu cầu Ông B, Bà H, Ông T, Ông Đ, Ông M có trách nhiệm đối với
công quản lý, duy trì giá trị tài sản là di sản thừa kế và tài sản đồng sở hữu là 10m
2
4. Ông B, Bà Q yêu cầu tính công sức tôn tạo đất là 5m
2
Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm Ông B, Bà Q rút yêu cầu đối với công tôn tạo
hết 4.000.000 đồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết, các đồng thừa kế không phải
trả phần tôn tạo này.
Bị đơn Ông Nguyễn Đăng T trình bày:
Bố mẹ Ông T là cụ Nguyễn Đăng T1 chết năm 2004, cụ Nguyễn Thị M1 chết
năm 2013. Khi còn sống, cụ T1, cụ M1 sinh được 05 người con chung gồm: Ông
Nguyễn Đăng B, Bà Nguyễn Thị Q, Ông Nguyễn Đăng Đ, Ông Nguyễn Đăng M và
Ông Nguyễn Đăng T. Ngoài ra, các cụ không còn người con riêng hay con nuôi nào
khác.
4
Năm 1987, Hợp tác xã nông nghiệp Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức,
thành phố Hà Nội cấp đất cho gia đình Ông T gồm 3 có nhân khẩu: Cụ Nguyễn Đăng
T1 (bố Ông T), cụ Nguyễn Thị M1 (mẹ Ông T) và Ông T là 09 thước ở khu Cây Hôi,
trong đó có 03 khẩu là 06 thước đất 10% còn lại là ruộng khoán 2 của gia đình gồm
cụ T1, cụ M1 và Ông T.
Năm 1991, Ông T lập gia đình với Bà Đặng Thị S và có con là Nguyễn Đăng
Thắng, sinh năm 1992. Cũng năm 1992, Nhà nước giao khoán đất theo nhân khẩu,
lúc này gia đình có 05 nhân khẩu gồm: cụ T1, cụ M1, Ông T cùng vợ và con Ông T.
Mỗi người được 12,5 thước, tổng 5 suất là 62,5 thước (tương đương 1.500m
2
) ở khu
Gò Con có 17 thước, 06 thước ở khu Mả Giam, 10 thước ở khu Đồng Trôi, 03 thước
ở khu Đồng Sấu, 14 thước ở khu Đìa Giữa, 03 thước ở khu Cây Hôi, còn 9,5 thước
Ông T không nhớ ở đâu.
Thửa đất số x khu Gò Đống, Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành
phố Hà Nội do gia đình Ông T quản lý và nộp thuế từ xưa đến nay, ông không đồng ý
với yêu cầu khởi kiện của Ông B, Bà Q đòi quyền sử dụng đất 5% ở thửa số 49 mà
Nhà nước đã cấp cho ông và bố mẹ ông vào năm 1987. Đối với yêu cầu chia di sản
thừa kế của cụ T1, cụ M1 để lại Ông T đề nghị Tòa án chia theo quy định của pháp
luật, phần Ông T được hưởng đề nghị lấy bằng hiện vật.
Ông T thừa nhận Ông B, Bà Q có thuê người đổ đất, tuy nhiên số tiền bao nhiêu
Ông T không biết, Ông T đồng ý trả tiền công tôn tạo theo quy định.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Bà Nguyễn Thị H: Thống nhất với
ý kiến trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông: Nguyễn Đăng Đức,
Nguyễn Đăng Minh thống nhất trình bày:
Thống nhất với trình bày của nguyên đơn, bị đơn về quan hệ huyết thống và năm
mất của cụ T1, cụ M1.
Năm 1987 Ông Đ, Ông M không được cấp đất ở thửa số 49, mà Nhà nước có
chia đất 5% cho bố mẹ của các ông là cụ T1 và cụ M1 ở thửa số 49 khu Gò Đống,
Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Các ông đồng ý và đề
nghị Tòa án chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất ở thửa số 49 theo pháp luật;
phần Ông Đ, Ông M được hưởng các ông tặng cho Ông Nguyễn Đăng T và Ông T
phải có trách nhiệm nộp án phí trên phần đất mà các ông tặng cho, và thanh toán phần
công sức tôn tạo của Ông B, Bà Q.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 147/2022/DS - ST ngày 28/9/2022 của Toà án
nhân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội đã xử và quyết định:
1. Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn về chia di sản thừa
kế của cụ Nguyễn Đăng T1 và cụ Nguyễn Thị M1.
5
Di sản thừa kế của cụ Nguyễn Đăng T1, cụ Nguyễn Thị M1 để lại là 148m
2
đất
5% ở khu khu Gò Đống, Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
được phân chia cụ thể như sau:
148 m
2
: 5 người = 29,6m
2
/01 người. Như vậy, mỗi thừa kế được hưởng di sản
của bố mẹ để lại là 29,6 m
2
.
Ông Nguyễn Đăng B được hưởng di sản thừa kế của bố mẹ để lại là 29,6m
2
và
29,6m
2
phần của Bà Nguyễn Thị Q được giới các điểm 1, 3, 7, 9. Ghi nhận sự thỏa thuận
của Ông B, Bà Q tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho nhau mà không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Ông Nguyễn Đăng T được hưởng di sản thừa kế của bố mẹ để lại là 29,6m
2
và 02
suất thừa kế tặng cho của anh Nguyễn Đăng Đức, anh Nguyễn Đăng Minh. Tổng số là
88,8m
2
.
Xác nhận Ông Nguyễn Đăng T được nhà nước phân 74m
2
đất 10% tại thửa số 49
ở khu khu Gò Đống, Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội và
88,8m
2
đất chia thừa kế.
Tổng 162,8m
2
được giới hạn bởi các điểm 7, 3, 5, 6 ở thửa
số 49 ở khu khu Gò Đống, Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà
Nội.
2. Bác yêu cầu đòi tài sản là quyền sử dụng đất 5% của Ông Nguyễn Đăng B, Bà
Nguyễn Thị Q và Bà Nguyễn Thị H.
Bác yêu cầu xác nhận tài sản là quyền sử dụng đất 5% của chị Đặng Thị Sơn,
cháu Nguyễn Đăng Thắng ở thửa số 49 ở khu khu Gò Đống, Thôn C, xã Đức Giang,
huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
3. Bác các yêu cầu khác của các đương sự.
Ngoài ra bản án còn tuyên về phần án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo
của các đương sự.
Không đồng ý với Quyết định của bản án sơ thẩm, ngày 11/10/2022 nguyên
đơn là Ông Nguyễn Đăng B, Bà Nguyễn Thị Q và người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan là Bà Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do: Bản án
sơ thẩm không công bằng, không khách quan và không đúng quy định của pháp luật,
xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các ông, bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người
kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thoả thuận với nhau
để giải quyết vụ án và không cung cấp tài liệu chứng cứ khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ các quy định
của pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến quá trình xét xử tại phiên tòa;
6
Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Việc Ông B, Bà H và Bà Q đòi tài sản là quyền sử dụng đất 5%
tại thửa số 49 khu Gò Đống không có cơ sở. Kháng cáo của các ông bà về nội dung
này không có căn cứ để chấp nhận. Về yêu cầu chia thừa kế nhận thấy có căn cứ xác
định thửa đất số x khu Gò Đống diện tích 222m
2
là tài sản chung của cụ T1, cụ M1,
Ông T. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn
cứ.
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm có thiếu sót sau:
- Nguyên đơn có yêu cầu khởi kiện Đòi quyền sử dụng đất và chia thừa kế đối
với diện tích đất tranh chấp tại thửa đất số x khu Gò Đống. Thửa đất trên có căn cứ
xác định là tài sản chung của cụ T1, cụ M1 và Ông T. Tòa án cấp sơ thẩm chia tài sản
chung, chia thừa kế đối với với diện tích đất trên nhưng không xác định quan hệ pháp
luật chia tài sản chung là thiếu sót.
- Quá trình giải quyết có căn cứ xác định cụ T1 và cụ M1 có 5 người con đẻ và
1 người con nuôi là Bà Nguyễn Thị P. Bà P có quan điểm phần thừa kế của bà được
hưởng để lại cho 5 người con đẻ của cụ T1 và cụ M1, bà từ chối nhận di sản của bố
mẹ nuôi để lại. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định xác định Bà P là con đẻ của cụ T1 và
cụ M1, chấp nhận sự tự nguyện của Bà P nhường kỷ phần của mình được hưởng cho
5 người con đẻ của cụ T1 và cụ M1 nhưng tòa án không ghi nhận trong phần quyết
định của bản án là thiếu sót.
- Quá trình giải quyết Ông T trình bày ông là người đóng thuế đất trong nhiều
năm. Tòa án không tính công sức cho Ông T đối với việc ông đã thực hiện nghĩa vụ
với nhà nước gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ông T. Tuy nhiên, Ông
T không kháng cáo nên cần rút kinh nghiệm với tòa án cấp sơ thẩm nội dung trên.
Viện kiểm sát đề nghị:
Áp dụng khoản 2 điều 308 BLTTDS: Sửa một phần bản án sơ thẩm của TAND
huyện Hoài Đức về nội dung sau:
-Bổ sung quan hệ pháp luật: Chia tài sản chung.
- Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ T1 và cụ M1 gồm 6 người: Ông B, Bà
Q, Ông Đ, Ông M, Ông T và Bà P.
- Ghi nhận sự tự nguyện của Bà P nhường kỷ phần thừa kế của mình được
hưởng cho Ông B, Bà Q, Ông Đ, Ông M, Ông T.
Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Áp
dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà
7
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1].Về tố tụng:
- Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Các ông, bà Nguyễn Đăng B, Nguyễn Thị Q và Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo
trong thời hạn luật định do đó kháng cáo của các đương sự hợp lệ về hình thức.
[2]. Về Nội dung:
Sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn đã kháng cáo toàn bộ bản án, do đó việc
xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn cũng là xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy:
2.1. Xét yêu cầu xác định và trả lại quyền sử dụng đất 5% mà Nhà nước cấp
cho Ông Nguyễn Đăng B, Bà Nguyễn Thị H và Bà Nguyễn Thị Q tại thửa 49 khu Gò
Đống, Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội (gọi tắt là thửa đất
số x):
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện, nguồn gốc và quá trình hình
thành thửa đất số x trải qua các giai đoạn như sau:
- Năm 1960 thời điểm HTX Đức Giang chia đất 5% cho các hộ xã viên để tăng
gia sản xuất, hộ cụ Nguyễn Đăng T1 gồm có 4 nhân khẩu là cụ T1, vợ cụ T1 là cụ
Nguyễn Thị M1, cùng các con là Ông Nguyễn Đăng B và Bà Nguyễn Thị Q, mỗi
khẩu được giao 1,7 thước = 41m
2
, như vậy tổng diện tích đất 5% của hộ cụ T1 được
giao là 164m
2
tại khu Cầu Buộm.
- Năm 1987 căn cứ theo Kế hoạch số 02/KH-UB ngày 01/9/1987 của UBND
huyện Hoài Đức, UBND xã Đức Giang đã ban hành Quyết định số 30/QĐ-UB ngày
01/12/1987 về việc giao đất 10% và xử lý vi phạm quản lý đất đai, theo đó HTX Đức
Giang thực hiện chủ trương chuyển đổi ruộng đất 5% được giao năm 1960 từ Cầu
Buộm về đường Thanh niên mả nội để các hộ thuận tiện cho việc canh tác. Tại thời
điểm HTX Đức Giang xét đối tượng giao đất 10% hộ gia đình cụ Nguyễn Đăng T1
gồm có 3 khẩu là cụ T1, cụ M1 và Ông Nguyễn Đăng T, diện tích giao là 06 thước =
144m
2
, so với diện tích theo tiêu chuẩn đất 5% cũ thì chênh lệch 20m
2
, tuy nhiên
theo quy định HTX không rút ra.
Thời điểm thực hiện chuyển đổi gia đình cụ T1 đã gắp phiếu chuyển đổi được
ô ruộng số 49 tại khu ruộng Gò Đống, diện tích là 212m
2
. Diện tích thửa ruộng số 49
so với diện tích giao năm 1960 là thừa 48m
2
, HTX đã tính vào diện tích giao đất quỹ I
của hộ gia đình ông Tiến (thời điểm giao tiêu chuẩn ruộng 9 thước).
Quá trình thực hiện giao đất 10% làm kinh tế phụ gia đình của HTX Đức
Giang đã chuyển đổi loại đất 5% (cũ) sang loại đất 10% cho hộ xã viên, tại thời điểm
chuyển đổi giao đất 10% vợ chồng Ông Nguyễn Đăng B, Bà Nguyễn Thị H là công
nhân, không có hộ khẩu tại địa phương nên không thuộc đối tượng được giao đất, Bà

8
Nguyễn Thị Q lấy chồng năm 1975 đã chuyển khẩu về gia đình nhà chồng, do đó
cũng không thuộc đối tượng được giao. Tiêu chuẩn đất 5% được chia năm 1960 khi
có chính sách không nộp tiền hợp thức đã bị rút lại chia theo chính sách mới.
Tại Thông báo số 16/TB-UBND ngày 01/7/2016 của UBND xã Đức Giang,
huyện Hoài Đức về việc trả lời đơn của Ông Nguyễn Đăng B và Bà Nguyễn Thị H;
Bà Nguyễn Thị Q như sau: “Việc Ông Nguyễn Đăng B, Bà Nguyễn Thị H; Bà Nguyễn
Thị Q đề nghị UBND xã Đức Giang xem xét giải quyết tiêu chuẩn đất 5% (cũ) tại
thửa ruộng số 49 (sơ đồ giao ruộng khu Gò Đống, Thôn C) là không có cơ sở”.
Tại Quyết định số 134/QĐ-UBND ngày 29/8/2016 về việc giải quyết khiếu nại
của Ông Nguyễn Đăng B, Bà Nguyễn Thị H; Bà Nguyễn Thị Q (lần đầu) của UBND
xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, đã quyết định:
Điều 1. Giữ nguyên nội dung thông báo trả lời số 16/TB-UBND ngày
01/7/2016 của UBND xã Đức Giang về việc trả lời đơn đề nghị của Ông Nguyễn
Đăng B, Bà Nguyễn Thị H; Bà Nguyễn Thị Q.
Điều 2. Trong hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định này, nếu không
đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại, Ông Nguyễn Đăng B, Bà Nguyễn Thị H;
Bà Nguyễn Thị Q có quyền khiếu nại đến UBND huyện Hoài Đức hoặc khởi kiện
đến Toà án theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết và tại phiên toà phúc thẩm, Ông Nguyễn Đăng B,
Bà Nguyễn Thị H; Bà Nguyễn Thị Q xác nhận đã nhận quyết định trên nhưng không
khiếu nại đến UBND huyện Hoài Đức và cũng không khởi kiện đến Toà án để giải
quyết theo thủ tục hành chính.
Từ những nhận định trên có căn cứ để xác định, thửa đất số x thuộc quyền quản
lý, sử dụng của 03 người là cụ Nguyễn Đăng T1, cụ Nguyễn Thị M1 và Ông Nguyễn
Đăng T. Do đó không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc xác
định và trả lại quyền sử dụng đất 5% mà Nhà nước cấp cho Ông Nguyễn Đăng B, Bà
Nguyễn Thị H và Bà Nguyễn Thị Q tại thửa 49 khu Gò Đống, Thôn C, xã Đức Giang,
huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
2.2. Xét yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật phần diện tích đất mà Nhà
nước cấp cho cụ T1, cụ M1 ở thửa 49 khu Gò Đống, Thôn C, xã Đức Giang, huyện
Hoài Đức, thành phố Hà Nội của nguyên đơn.
- Căn cứ trích lục khai tử của cụ T1 và cụ M1 xác định, cụ T1 chết vào ngày
09/02/2004, cụ M1 chết ngày 01/02/2012, các cụ chết đều không để lại di chúc do đó
căn cứ Điều 650 Bộ luật dân sự 2015 việc phân chia di sản thừa kế của các cụ được
áp dụng theo quy định của pháp luật.
- Về thời điểm mở thừa kế: cụ T1 và cụ M1 chết vào hai thời điểm khác nhau
do đó thời điểm mở thừa kế của các cụ vào hai thời điểm khác nhau, tuy nhiên xét

9
thấy việc phân chia di sản thừa kế của các cụ để lại tại thửa số 49 vào một lần không
làm ảnh hưởng hay thay đổi quyền và lợi ích hợp pháp của các hàng thừa kế, do đó
việc Tòa án cấp sơ thẩm phân chia di sản thừa kế của các cụ vào một lần là hợp lý.
- Về tài sản thừa kế: Căn cứ Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án
nhân dân huyện Hoài Đức xác định thửa đất số x có diện tích đo đạc thực tế là 222m
2
, từ trước đến nay không có tranh chấp với các hộ liền kề; thửa đất này được xác định
là tài sản chung của cụ T1, cụ M1 và Ông T. Để giải quyết việc chia di sản thừa kế
của cụ T1 và cụ M1 thì cần phải xác định cụ T1 cụ M1 có diện tích đất là bao nhiêu
trong khối tài sản chung của cụ T1, cụ M1 và Ông T. Toà án cấp sơ thẩm xác định di
sản thừa kế của cụ T1, cụ M1 để lại tại thửa đất số x là 2/3 diện tích thực tế của thửa
49 là 148m
2
, còn lại của Ông T là 74m
2
là phù hợp, do đó không nhất thiết phải bổ
sung quan hệ pháp luật “chia tài sản chung”.
- Về hàng thừa kế: Căn cứ lời khai của các bên đương sự, xác định cụ T1, cụ
M1 có 05 người con chung là: Ông Nguyễn Đăng B, Bà Nguyễn Thị Q, Ông Nguyễn
Đăng Đ, Ông Nguyễn Đăng M và Ông Nguyễn Đăng T.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm các đương sự trình bày, cụ T1 và cụ
M1 có một người con nuôi là Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1950; Bà P được cụ T1, cụ
M1 đón về nuôi từ lúc 09 tháng tuổi cho đến khi được 09 tuổi thì giao Bà P cho mẹ
đẻ của Bà P nuôi dưỡng. Mặc dù các đương sự đều xác định Bà P vẫn thường xuyên
đi lại giỗ Tết gia đình cụ T1, cụ M1 nhưng xét thấy thời gian cụ M1, cụ T1 nuôi
dưỡng Bà P không lâu, giữa cụ T1, cụ M1 với Bà P không có quan hệ trông nom,
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của
cha mẹ đối với con và ngược lại của con đối với cha mẹ theo quy định của pháp luật.
Do đó Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không xác định Bà P là con nuôi của cụ M1 và
cụ T1 để được hưởng thừa kế của các cụ theo quy định.
Do đó, căn cứ quy định tại Điều 679 Bộ luật dân sự 2005 xác định hàng thừa
kế thứ nhất của cụ T1, cụ M1 gồm 05 người: Ông Nguyễn Đăng B, Bà Nguyễn Thị
Q, Ông Nguyễn Đăng Đ, Ông Nguyễn Đăng M và Ông Nguyễn Đăng T.
- Về phân chia chia di sản thừa kế: Xét thấy việc yêu cầu phân chia di sản thừa
kế của cụ T1, cụ M1 tại thửa đất số x là phù hợp nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là
có căn cứ.
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp sơ thẩm thể hiện tại
thửa đất số x hiện trạng không có ai sinh sống, quản lý, để hàng xóm trồng cây nhờ,
do đó không có căn cứ để tính công sức trông nom di sản theo yêu cầu khởi kiện của
Bà Q. Như vậy, Di sản thừa kế là 148m
2
đất nông nghiệp tại thửa số 49 khu Gò Đống,
Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội của cụ T1, cụ M1 được
10
chia làm 5 phần, mỗi kỷ phần thừa kế là 29,6m
2
, mỗi người trong hàng thừa kế thứ
nhất của các cụ được hưởng 29,6m
2
.
+ Đối với Ông Nguyễn Đăng B và Bà Nguyễn Thị Q: Ông B, Bà Q mỗi người
được hưởng 29,6m
2
và đều có yêu cầu được chia bằng hiện vật, Tại cấp sơ thẩm Bà Q
tự nguyện giao phần di sản được hưởng cho Ông B quản lý, sử dụng, tự nguyện phân
chia bồi thường cho nhau mà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa phúc
thẩm Bà Q giữ nguyên ý kiến này, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận và giao cho Ông
Nguyễn Đăng B quản lý, sử dụng 59,2m
2
được giới hạn bởi các điểm 1,3,7,9,1 (theo
sơ đồ kèm theo Bản án).
+ Đối với Ông Nguyễn Đăng Đ, Ông Nguyễn Đăng M: Ông Đ, Ông M mỗi
người được hưởng 29,6m
2
của thửa đất số x. Tại bản án sơ thẩm đã ghi nhận sự tự
nguyện của các ông tặng cho phần di sản thừa kế của mình cho Ông Nguyễn Đăng T;
Ông Đ, Ông M không có kháng cáo đối với bản án sơ thẩm, do đó Hội đồng xét xử
giữ nguyên phần ghi nhận này.
+ Đối với Ông Nguyễn Đăng T: Xác nhận Ông T được giao 1/3 diện tích thửa
đất số x là 74m
2
và hưởng di sản thừa kế của cụ T1, cụ M1 là 29,6m
2
, tổng là
103,6m
2
; ngoài ra Ông T còn được hưởng 2 kỷ phần của Ông Đ, Ông M tặng cho là
59,2m
2
; do đó xác định Ông T được quyền quản lý sử dụng tổng diện tích đất là
162,8m
2
của thửa đất số x, được giới hạn bởi các điểm 7,3,5,6,7 (theo sơ đồ kèm theo
Bản án).
+ Quá trình giải quyết Ông T trình bày ông là người đóng thuế đất trong nhiều
năm. Tòa án không tính công sức cho Ông T đối với việc ông đã thực hiện nghĩa vụ
với nhà nước gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ông T. Tuy nhiên, Ông
T không kháng cáo nên cần rút kinh nghiệm với Tòa án cấp sơ thẩm nội dung trên.
Những phân tích trên cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của Ông Nguyễn Đăng B và Bà Nguyễn Thị Q và giữ nguyên
bản án dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Hoài Đức.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp một phần với nhận định của
Hội đồng xét xử.
[3]. Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm. Giữ nguyên quyết định của cấp sơ thẩm về án phí
dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận
nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên Ông B, Bà Q Bà H
được xác định là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
11
- Căn cứ vào:
+ Các Điều 147,148, 227; khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
+ Các Điều 649, 650, 651 và 660 Bộ luật Dân sự năm 2015
+ Điều 203 luật đất đai năm 2013;
+ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn - Ông Nguyễn Đăng B, Bà
Nguyễn Thị Q, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có kháng cáo – Bà Nguyễn Thị H.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 147/2022/DS-ST ngày 28/9/2022 của Toà án
nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội. Cụ thể:
1. Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn về chia di sản thừa
kế của cụ Nguyễn Đăng T1 và cụ Nguyễn Thị M1.
- Xác định di sản thừa kế của cụ Nguyễn Đăng T1, cụ Nguyễn Thị M1 để lại là
148m2 đất Nông nghiệp 10% ở khu khu Gò Đống, Thôn C, xã Đức Giang, huyện
Hoài Đức, thành phố Hà Nội
- Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ T1, cụ M1 gồm 5 người: Ông Nguyễn
Đăng B, Bà Nguyễn Thị Q, Ông Nguyễn Đăng Đ, Ông Nguyễn Đăng M và Ông Nguyễn
Đăng T. Di sản của cụ T1, cụ M1 được phân chia cụ thể như sau:
148 m2 : 5 người = 29,6m2/01 người. Như vậy, mỗi thừa kế được hưởng di sản
của bố mẹ để lại là 29,6 m2.
- Ông Nguyễn Đăng B được hưởng di sản thừa kế của bố mẹ để lại là 29,6m2
và 29,6m2 phần của Bà Nguyễn Thị Q được giới hạn bởi các điểm 1, 3, 7, 9, 1 (theo
sơ đồ trích đo kèm theo). Ghi nhận sự thỏa thuận của Ông B, Bà Q tự nguyện thỏa
thuận bồi thường cho nhau mà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ông Nguyễn Đăng T được hưởng di sản thừa kế của bố mẹ để lại là 29,6m2
và 02 suất thừa kế tặng cho của anh Nguyễn Đăng Đức, anh Nguyễn Đăng Minh.
Tổng số là 88,8m2.
- Xác nhận Ông Nguyễn Đăng T được nhà nước phân 74m
2
đất 10% tại thửa số
49 ở khu khu Gò Đống, Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
và 88,8m2 đất chia thừa kế. Tổng 162,8m2 được giới hạn bởi các điểm 7, 3, 5, 6, 7
(theo sơ đồ trích đo kèm theo) ở thửa số 49 ở khu khu Gò Đống, Thôn C, xã Đức
Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
2. Không chấp nhận yêu cầu đòi tài sản là quyền sử dụng đất 5% của Ông
Nguyễn Đăng B, Bà Nguyễn Thị Q.
12
3. Không chấp nhận yêu cầu tính công sức trông nom, di sản của Bà Q tương
đương với 5m
2
đất.
3. Không chấp nhận các yêu cầu khác của các đương sự.
4. Về án phí:
Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm cho Ông Nguyễn Đăng B, Bà
Nguyễn Thị Q; miễn toàn bộ án phí cho Bà Nguyễn Thị H.
Ông Nguyễn Đăng T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm phần chia di sản thừa
kế là 4.315.680 đồng (bốn triệu, ba trăm mười lăm ngàng, sáu trăm tám mười đồng)
và 3.596.400 đồng phần án phí dân sự sơ thẩm đối với xác định quyền sử dụng đất
theo điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị Quyết 326.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và Luật thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án
dân sự.
Án xử công khai phúc thẩm, có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKS ND TP Hà Nội;
- TAND huyện Hoài Đức;
- Chi Cục THADS huyện Hoài Đức;
- Lưu HSVA/VP
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Mai Tiến Dũng
13
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 07/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 23/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 22/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 19/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 19/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 18/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 18/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 18/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 17/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 16/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 16/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 11/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 10/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 09/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 09/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Bản án số 51/2025/DS-ST ngày 08/09/2025 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Ban hành: 08/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 04/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 03/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm