Bản án số 213/2023/DS-PT ngày 15-05-2023 của TAND TP. Hà Nội về yêu cầu chia di sản thừa kế và đòi quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
  • 213_2023_DS_PT_ HA NOI

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

  • 213_2023_DS_PT_ HA NOI

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 213/2023/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 213/2023/DS-PT ngày 15-05-2023 của TAND TP. Hà Nội về yêu cầu chia di sản thừa kế và đòi quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hà Nội
Số hiệu: 213/2023/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/05/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Đăng B yêu cầu chia di sản thừa kế và đòi quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Số: 213/2023/DS-PT
Ngày: 15/5/2023
V/v: “Yêu cầu chia di sản thừa kế và đòi
quyền sử dụng đất”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Tiến Dũng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Lan Anh
Ông Trương Chí Anh
-Thư ký phiêna: Trn Th Hương Lan - Thư ký Tòa án nhân n thành ph
Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Ngô Phương Liên -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 15 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở TAND Tnh phố Nội, xét xử phúc
thẩm công khai vụ án dân sthụ số 613/2022/TLPT-DS ngày 26 tháng 12 năm
2022 về việc “chia di sản thừa kế và đòi quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm s147/2022/DS - ST ngày 28/9/2022 của Toà án
nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2023/QĐ-PT ngày 17 tháng 4 năm
2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
1. Ông Nguyễn Đăng B, sinh năm 1953; Có mặt
Địa chỉ: PX, TT X Quỳnh Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
2. Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1957; Có mặt
Địa chỉ: Số x xóm Quang Trung 1, đường Tông, Thôn C, Đức Giang,
huyện Hoài Đức, Hà Nội.
Bị đơn: Ông Nguyễn Đăng T, sinh năm 1971; Có mặt
Địa chỉ: Số 5 Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của Ông T: Ông Tiến T1, sinh năm 1974; địa
chỉ: Cụm x, xã Thọ An, huyện Đan Phượng, Hà Ni; Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1952; Có mt
2
Địa chỉ: PX, TT XQuỳnh Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Ni.
2. Ông Nguyễn Đăng M, sinh năm 1964; Có mặt
Địa chỉ: Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Hà Nội.
3. Ông Nguyễn Đăng Đ, sinh năm 1966; Có mặt
Địa chỉ: Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Hà Nội.
4. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1950; Vắng mặt
Địa ch: Sx Vũ Tông Phan, pờng Kơng Trung, quận Thanh Xn, Hà Nội.
5. Bà Đặng Thị S, sinh năm 1972; Vắng mặt
6. Anh Nguyễn Đăng T, sinh năm 1992; Vắng mặt
Cùng địa chỉ: Số 5 Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của Bà S, Anh T là Ông Nguyễn Đăng T.
Do kháng cáo của Nguyễn Đăng B, Nguyễn Thị Q nguyên đơn
Bà Nguyễn Thị H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn Ông Nguyễn
Đăng B Bà Nguyễn Thị Q thống nhất trình bày:
Bố mcủa Ông B Q cụ Nguyễn Đăng T1 chết m 2004 cụ Nguyễn
Thị M1 chết m 2013. CT1 cụ M1 sinh được 05 người con chung gồm: Ông
Nguyn Đăng B, Nguyễn ThQ, Ông Nguyễn Đăng Đ, Ông Nguyễn Đăng M Ông
Nguyn Đăng T. Ngoài ra, các cụ không còn người con rng hay con nuôio kc. C
T1, cụ M1 chết không đlại di chúc, và để lại nhiều di sản, tuy nhiên trong vụ án
này nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của các cụ để lại là thửa đất số
x khu Đống, Thôn C, Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Nội, diện
tích 215m
2
, (diện tích đo thực tế hiện nay 220m
2
), loại đất nông nghiệp.
Năm 1960, thực hiện chính sách của nhà nước, HTX Đức Giang cấp đất 5% cho
xã viên và những nhân khẩu có mặt và đang sinh sống ở địa phương. Tại thời điểm cấp
đất 5% gia đình Ông B, Q 4 khẩu, gồm: cụ Nguyễn Đăng T1, cụ Nguyễn Thị
M1, Ông Nguyễn Đăng B em gái Nguyễn Thị Q, mỗi người được 1,7 thước,
tổng 04 khẩu 6,8 thước (tương đương 164m
2
) ở xứ đồng Cầu Buộm.
Năm 1974, Ông B xây dựng gia đình với Nguyễn Thị H người cùng
Thôn C, sau khi cưới, H về chung sống với Ông B cụ T1, cụ M1. Năm 1981,
theo chủ trương, chính sách của Hợp tác đổi đất 5% từ đồng trước (Cầu Buộm) về
đồng sau (đường Thanh Niên Mả Nội), phần đất được chia năm 1960 đã trả lại Hợp
tác xã, phần đất này đã phân cho gia đình khác, gia đình tôi tCầu Buộm chuyển về
góc Đường Thanh Niên Mả Nội. Lúc này đất 5% được chia 5 khẩu, thêm
khẩu của vợ Ông B Nguyễn Thị H gộp vào, tổng 8,5 thước (tương đương
204m2).
3
Năm 1987, Hợp tác xã tiếp tục chuyển đất từ Đường Thanh Niên Mả Nội về xứ
Đồng Gò Đống, nhưng đó là miếng đất chia 5 khẩu ở góc Đường Thanh Niên Mả Nội
chuyển về xứ Đồng Gò Đống. Mảnh đất của gia đình Ông B nằm ở cuối cùngn thừa
ra thành 9,1 thước (theo chính sách thừa không rút ra, thiếu thì bù thêm). Như vậy, của
cụ T1, cụ M1 4 thước đất, của Ông Nguyễn Đăng B, em gái Nguyễn Thị Q, vợ
Nguyễn Thị H có 5,1 thước.
Theo quy định, người được cấp bổ sung đất 10% thì phải nộp tiền vào Hợp tác
xã để hợp thức phần đất được bổ sung (trừ người cao tuổi không phải nộp) nên cụ T1,
cụ M1 không phải nộp. Còn phần Ông Nguyễn Đăng T do các cụ không nộp nên Ông
T không được chia đất bsung. Do đó, Ông Nguyễn Đăng T không đất 5%
cũng không được cấp đất bổ sung ở thửa 49.
Năm 2004 cụ T1 chết, năm 2013 cụ M1 chết. Khi chết, cả cụ T1cụ M1 đều
không để lại di chúc. Diện tích đất 5% của các cụ và của Ông B, Bà Q, Bà H, đất này
hiện nay Q đang quản lý. Năm 2018, Ông B Q thuê người đổ đất hết
4.000.000đồng, khi đang đổ t Ông Nguyễn Đăng T ra ngăn cản xy ra tranh
chấp.
Do đó Ông B, Bà Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
1. Xác định trả lại quyền sử dụng đất 5% Nhà nước cấp cho Ông
Nguyễn Đăng B, Nguyễn Thị H Nguyễn Thị Q tại thửa 49 khu Đống,
Thôn C, Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Nội, mỗi người 1,7 thước,
tương đương 41m
2
.
2. Chia di sản thừa kế theo pháp luật phần diện tích đất 5% Nhà nước cấp
cho cụ T1, cụ M1 thửa 49 khu Đống, Thôn C, Đức Giang, huyện Hoài Đức,
thành phố Hà Nội cho nguyên đơn bằng hiện vật.
3. Q yêu cầu Ông B, H, Ông T, Ông Đ, Ông M trách nhiệm đối với
công quản lý, duy trì giá trị tài sản là di sản thừa kế tài sản đồng sở hữu là 10m
2
4. Ông B, Bà Q yêu cầu tính công sức tôn tạo đất là 5m
2
Tuy nhiên tại phiên tòa thẩm Ông B, Q rút yêu cầu đối với công tôn tạo
hết 4.000.000 đồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết, các đồng thừa kế không phải
trả phần tôn tạo này.
Bị đơn Ông Nguyễn Đăng T trình bày:
Bố mÔng T cụ Nguyễn Đăng T1 chết năm 2004, cụ Nguyễn Thị M1 chết
năm 2013. Khi còn sống, cụ T1, cụ M1 sinh được 05 người con chung gồm: Ông
Nguyễn Đăng B, Nguyễn ThQ, Ông Nguyễn Đăng Đ, Ông Nguyễn Đăng M
Ông Nguyễn Đăng T. Ngoài ra, các cụ không còn người con riêng hay con nuôi nào
khác.
4
Năm 1987, Hợp tác nông nghiệp Thôn C, Đức Giang, huyện Hoài Đức,
thành phố Hà Nội cấp đất cho gia đình Ông T gồm 3 nhân khẩu: Cụ Nguyễn Đăng
T1 (bố Ông T), cụ Nguyễn Thị M1 (mẹ Ông T) và Ông T là 09 thước ở khu Cây Hôi,
trong đó 03 khẩu 06 thước đất 10% còn lại là ruộng khoán 2 của gia đình gồm
cụ T1, cụ M1 và Ông T.
Năm 1991, Ông T lập gia đình với Đặng Thị S con Nguyễn Đăng
Thắng, sinh năm 1992. Cũng năm 1992, Nhà nước giao khoán đất theo nhân khẩu,
lúc này gia đình 05 nhân khẩu gồm: cụ T1, cụ M1, Ông T cùng vợ con Ông T.
Mỗi người được 12,5 thước, tổng 5 suất 62,5 thước (tương đương 1.500m
2
) khu
Con 17 thước, 06 thước khu Mả Giam, 10 thước khu Đồng Trôi, 03 thước
khu Đồng Sấu, 14 thước khu Đìa Giữa, 03 thước khu Cây Hôi, n 9,5 thước
Ông T không nhớ ở đâu.
Thửa đất số x khu Đống, Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành
phố Hà Nội do gia đình Ông T quản lý và nộp thuế từ xưa đến nay, ông không đồng ý
với yêu cầu khởi kiện của Ông B, Q đòi quyền sử dụng đất 5% thửa số 49
Nhà nước đã cấp cho ông bố mẹ ông vào năm 1987. Đối với yêu cầu chia di sản
thừa kế của cụ T1, cụ M1 để lại Ông T đề nghị Tòa án chia theo quy định của pháp
luật, phần Ông T được hưởng đề nghị lấy bằng hiện vật.
Ông T thừa nhận Ông B, Bà Q có thuê người đổ đất, tuy nhiên số tiền bao nhiêu
Ông T không biết, Ông T đồng ý trả tiền công tôn tạo theo quy định.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H: Thống nhất với
ý kiến trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông: Nguyễn Đăng Đức,
Nguyễn Đăng Minh thống nhất trình bày:
Thống nhất với trìnhy của nguyên đơn, bị đơn về quan hệ huyết thống vàm
mất của cụ T1, cụ M1.
Năm 1987 Ông Đ, Ông M không được cấp đất thửa số 49, Nhà nước
chia đất 5% cho bố mẹ của các ông cụ T1 và cụ M1 thửa số 49 khu Đống,
Thôn C, Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Nội. Các ông đồng ý và đề
nghị Tòa án chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thửa s49 theo pháp luật;
phần Ông Đ, Ông M được hưởng các ông tặng cho Ông Nguyễn Đăng T Ông T
phải có trách nhiệm nộp án phí trên phần đất mà các ông tặng cho, và thanh toán phần
công sức tôn tạo của Ông B, Bà Q.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 147/2022/DS - ST ngày 28/9/2022 của Toà án
nhân huyện Hoài Đức, Tnh phố Hà Nội đã xử và quyết định:
1. Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn về chia di sản thừa
kế của cụ Nguyễn Đăng T1 và cụ Nguyễn Thị M1.
5
Di sản thừa kế của cụ Nguyễn Đăng T1, cụ Nguyễn Thị M1 để lại là 148m
2
đất
5% khu khu Đống, Thôn C, Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Nội
được phân chia cụ thể như sau:
148 m
2
: 5 người = 29,6m
2
/01 người. N vậy, mỗi thừa kế được hưởng di sản
của bố mẹ để lại 29,6 m
2
.
Ông Nguyễn Đăng B được ởng di sản thừa kế của bố mẹ để lại là 29,6m
2
29,6m
2
phần của Bà Nguyn Thị Q được giới các điểm 1, 3, 7, 9. Ghi nhận sự thỏa thuận
của Ông B, Q tự nguyện thỏa thuận bồi tờng cho nhau mà không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Ông Nguyễn Đăng T đượcởng di sản thừa kế của bố mẹ để lại là 29,6m
2
02
suất thừa kế tặng cho của anh Nguyễn Đăng Đức, anh Nguyễn Đăng Minh. Tổng số
88,8m
2
.
Xác nhận Ông Nguyễn Đăng T được nhà nước phân 74m
2
đất 10% tại thửa số 49
khu khu Đống, Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Nội
88,8m
2
đất chia thừa kế.
Tổng 162,8m
2
được giới hạn bởi các điểm 7, 3, 5, 6 thửa
số 49 khu khu Đống, Thôn C, Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố
Nội.
2. Bác u cầu đòi tài sản là quyền sử dụng đất 5% của Ông Nguyễn Đăng B,
Nguyn Thị Q Nguyễn Thị H.
c yêu cầu xác nhận i sản quyn sử dụng đất 5% của chị Đặng Thị n,
cháu Nguyễn Đăng Thắng thửa số 49 khu khu Đống, Thôn C, Đức Giang,
huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
3. Bác các yêu cầu khác của các đương sự.
Ngoài ra bn án còn tuyên về phần án p, nga vụ thi hành án và quyn kng o
của c đương sự.
Không đồng ý với Quyết định của bản án thẩm, ngày 11/10/2022 nguyên
đơn Ông Nguyễn Đăng B, Nguyễn Thị Q người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan là Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do: Bản án
thẩm không công bằng, không khách quan không đúng quy định của pháp luật,
xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các ông, bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người
kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thoả thuận với nhau
để giải quyết vụ án và không cung cấp tài liệu chứng cứ khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ các quy định
của pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến quá trình xét xử tại phiên tòa;
6
Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Việc Ông B, H Q đòi tài sản quyền sử dụng đất 5%
tại thửa s49 khu Đống không sở. Kháng cáo của các ông về nội dung
này không căn cứ để chấp nhận. Về yêu cầu chia thừa kế nhận thấy căn cứ xác
định thửa đất số x khu Đống diện tích 222m
2
tài sản chung của cụ T1, cụ M1,
Ông T. Toà án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn căn
cứ.
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm có thiếu sót sau:
- Nguyên đơn yêu cầu khởi kiện Đòi quyền sử dụng đất chia thừa kế đối
với diện tích đất tranh chấp tại thửa đất số x khu Đống. Thửa đất trên căn cứ
xác định là tài sản chung của cụ T1, cụ M1Ông T. Tòa án cấp sơ thẩm chia tài sản
chung, chia thừa kế đối với với diện tích đất trên nhưng không xác định quan hệ pháp
luật chia tài sản chung là thiếu sót.
- Quá trình giải quyết có căn cứ xác định cụ T1cụ M15 người con đẻ và
1 người con nuôi Nguyễn Thị P. P quan điểm phần thừa kế của được
hưởng để lại cho 5 người con đcủa cụ T1 cụ M1, từ chối nhận di sản của bố
mẹ nuôi để lại. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định xác định P con đcủa cụ T1
cụ M1, chấp nhận sự tự nguyện của P nhường kỷ phần của mình được hưởng cho
5 người con đẻ của cụ T1 và cụ M1 nhưng tòa án không ghi nhận trong phần quyết
định của bản án là thiếu sót.
- Quá trình giải quyết Ông T trình bày ông người đóng thuế đất trong nhiều
năm. Tòa án không tính công sức cho Ông T đối với việc ông đã thực hiện nghĩa vụ
với nhà nước gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ông T. Tuy nhiên, Ông
T không kháng cáo nên cần rút kinh nghiệm với tòa án cấp sơ thẩm nội dung trên.
Viện kiểm sát đề nghị:
Áp dụng khoản 2 điều 308 BLTTDS: Sửa một phần bản án sơ thẩm của TAND
huyện Hoài Đức về nội dung sau:
-Bổ sung quan hệ pháp luật: Chia tài sản chung.
- Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ T1cụ M1 gồm 6 người: Ông B,
Q, Ông Đ, Ông M, Ông T và Bà P.
- Ghi nhận sự tự nguyện của P nhường kỷ phần thừa kế của mình được
hưởng cho Ông B, Bà Q, Ông Đ, Ông M, Ông T.
Đngh Hội đồng t xử không chấp nhn yêu cầu kng cáo của nguyên đơn. Áp
dng khoản 1 Điu 308 Bộ lut tố tụng n s năm 2015; giữ nguyên bản án thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên t
7
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1].Về tố tụng:
- Tòa án cp sơ thẩm thlý giải quyết ván đúng quy đnh của B luật t tng n s.
- Các ông, Nguyn Đăng B, Nguyễn Thị Q và Nguyn Thị H đơn kng cáo
trong thi hạn lut định do đó kháng cáo của c đương s hợp lệ về hình thc.
[2]. Về Nội dung:
Sau khi xét xử thẩm nguyên đơn đã kháng cáo toàn bộ bản án, do đó việc
xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn cũng là xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đối với yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy:
2.1. Xét yêu cầu xác định trả lại quyền sdụng đất 5% Nhà nước cấp
cho Ông Nguyễn Đăng B, Nguyễn Thị H Nguyễn Thị Q tại thửa 49 khu
Đống, Thôn C, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội (gọi tắt là thửa đất
số x):
Căn cứ các tài liệu trong hồ vụ án thể hiện, nguồn gốc quá trình hình
thành thửa đất số x trải qua các giai đoạn như sau:
- Năm 1960 thời điểm HTX Đức Giang chia đất 5% cho các hộ xã viên để tăng
gia sản xuất, hộ cụ Nguyễn Đăng T1 gồm 4 nhân khẩu cụ T1, vợ cụ T1 cụ
Nguyễn Thị M1, cùng các con Ông Nguyễn Đăng B Nguyễn Thị Q, mỗi
khẩu được giao 1,7 thước = 41m
2
, như vậy tổng diện tích đất 5% của hộ cụ T1 được
giao là 164m
2
tại khu Cầu Buộm.
- Năm 1987 căn cứ theo Kế hoạch số 02/KH-UB ngày 01/9/1987 của UBND
huyện Hoài Đức, UBND xã Đức Giang đã ban hành Quyết định số 30/QĐ-UB ngày
01/12/1987 về việc giao đất 10% và xử lý vi phạm quản lý đất đai, theo đó HTX Đức
Giang thực hiện chủ trương chuyển đổi ruộng đất 5% được giao năm 1960 từ Cầu
Buộm về đường Thanh niên mnội để các hộ thuận tiện cho việc canh tác. Tại thời
điểm HTX Đức Giang xét đối tượng giao đất 10% hộ gia đình cụ Nguyễn Đăng T1
gồm 3 khẩu cụ T1, cụ M1 Ông Nguyễn Đăng T, diện tích giao 06 thước =
144m
2
, so với diện ch theo tiêu chuẩn đất 5% thì chênh lệch 20m
2
, tuy nhiên
theo quy định HTX không rút ra.
Thời điểm thực hiện chuyển đổi gia đình cụ T1 đã gắp phiếu chuyển đổi được
ô ruộng số 49 tại khu ruộng Đống, diện tích 212m
2
. Diện tích thửa ruộng số 49
so với diện tích giao năm 1960 là thừa 48m
2
, HTX đã tính vào diện tích giao đất quỹ I
của hộ gia đình ông Tiến (thời điểm giao tiêu chuẩn ruộng 9 thước).
Quá trình thực hiện giao đất 10% làm kinh tế phụ gia đình của HTX Đức
Giang đã chuyển đổi loại đất 5% (cũ) sang loại đất 10% cho hộ xã viên, tại thời điểm
chuyển đổi giao đất 10% vợ chồng Ông Nguyễn Đăng B, Nguyễn Thị H công
nhân, không có hộ khẩu tại địa phương nên không thuộc đối tượng được giao đất,
8
Nguyễn Thị Q lấy chồng năm 1975 đã chuyển khẩu về gia đình nhà chồng, do đó
cũng không thuộc đối tượng được giao. Tiêu chuẩn đất 5% được chia năm 1960 khi
có chính sách không nộp tiền hợp thức đã bị rút lại chia theo chính sách mới.
Tại Thông báo số 16/TB-UBND ngày 01/7/2016 của UBND Đức Giang,
huyện Hoài Đức về việc trả lời đơn của Ông Nguyễn Đăng B Nguyễn Thị H;
Bà Nguyễn Thị Q như sau: “Việc Ông Nguyễn Đăng B, Bà Nguyễn Thị H; Bà Nguyễn
Thị Q đề nghị UBND Đức Giang xem xét giải quyết tiêu chuẩn đất 5% (cũ) tại
thửa ruộng số 49 (sơ đồ giao ruộng khu Gò Đống, Thôn C) là không có cơ sở”.
Tại Quyết định số 134/QĐ-UBND ngày 29/8/2016 về việc giải quyết khiếu nại
của Ông Nguyễn Đăng B, Nguyễn Thị H; Nguyễn Thị Q (lần đầu) của UBND
xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, đã quyết định:
Điều 1. Giữ nguyên nội dung thông báo trả lời số 16/TB-UBND ngày
01/7/2016 của UBND Đức Giang về việc trả lời đơn đề nghị của Ông Nguyễn
Đăng B, Bà Nguyễn Thị H; Bà Nguyễn Thị Q.
Điều 2. Trong hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định này, nếu không
đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại, Ông Nguyễn Đăng B, Nguyễn Thị H;
Nguyễn Thị Q quyền khiếu nại đến UBND huyện Hoài Đức hoặc khởi kiện
đến Toà án theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết tại phiên toà phúc thẩm, Ông Nguyễn Đăng B,
Nguyễn Thị H; Nguyễn Thị Q xác nhận đã nhận quyết định trên nhưng không
khiếu nại đến UBND huyện Hoài Đức cũng không khởi kiện đến Toà án để giải
quyết theo thủ tục hành chính.
Từ những nhận định trên có căn cứ để xác định, thửa đất số x thuộc quyền quản
lý, sử dụng của 03 người cụ Nguyễn Đăng T1, cụ Nguyễn Thị M1 Ông Nguyễn
Đăng T. Do đó không sở để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc xác
định và trả lại quyền sử dụng đất 5% mà Nhà nước cấp cho Ông Nguyễn Đăng B,
Nguyễn Thị HBà Nguyễn Thị Q tại thửa 49 khu Gò Đống, Thôn C, xã Đức Giang,
huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
2.2. Xét yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật phần diện tích đất Nhà
nước cấp cho cụ T1, cụ M1 thửa 49 khu Đống, Thôn C, Đức Giang, huyện
Hoài Đức, thành phố Hà Nội của nguyên đơn.
- Căn cứ trích lục khai tử của cụ T1 cụ M1 xác định, cụ T1 chết vào ngày
09/02/2004, cụ M1 chết ngày 01/02/2012, các cụ chết đều không để lại di chúc do đó
căn cứ Điều 650 Bộ luật dân sự 2015 việc phân chia di sản thừa kế của các cụ được
áp dụng theo quy định của pháp luật.
- Về thời điểm mở thừa kế: cụ T1 cụ M1 chết vào hai thời điểm khác nhau
do đó thời điểm mở thừa kế của các cụ o hai thời điểm khác nhau, tuy nhiên xét
9
thấy việc phân chia di sản thừa kế của các cụ để lại tại thửa số 49 vào một lần không
làm ảnh hưởng hay thay đổi quyền lợi ích hợp pháp của các hàng thừa kế, do đó
việc Tòa án cấp sơ thẩm phân chia di sản thừa kế của các cụo một lần là hợp lý.
- Về tài sản thừa kế: Căn cứ Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án
nhân dân huyện Hoài Đức xác định thửa đất số x có diện tích đo đạc thực tế là 222m
2
, từ trước đến nay không có tranh chấp với các hộ liền kề; thửa đất này được xác định
tài sản chung của cụ T1, cụ M1 Ông T. Để giải quyết việc chia di sản thừa kế
của cụ T1 cụ M1 thì cần phải xác định cụ T1 cụ M1 diện tích đất bao nhiêu
trong khối tài sản chung của cụ T1, cụ M1 và Ông T. Toà án cấp sơ thẩm xác định di
sản thừa kế của cụ T1, cụ M1 để lại tại thửa đất số x 2/3 diện tích thực tế của thửa
49 148m
2
, còn lại của Ông T 74m
2
phù hợp, do đó không nhất thiết phải bổ
sung quan hệ pháp luật “chia tài sản chung”.
- Về hàng thừa kế: Căn cứ lời khai của các bên đương sự, xác định cụ T1, cụ
M1 05 người con chung là: Ông Nguyễn Đăng B, Nguyễn Thị Q, Ông Nguyễn
Đăng Đ, Ông Nguyễn Đăng MÔng Nguyễn Đăng T.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm các đương sự trình bày, cụ T1 và cụ
M1 một người con nuôi là Nguyễn Thị P, sinh năm 1950; P được cụ T1, cụ
M1 đón về nuôi từ lúc 09 tháng tuổi cho đến khi được 09 tuổi thì giao P cho mẹ
đẻ của P nuôi dưỡng. Mặc các đương sự đều xác định P vẫn thường xuyên
đi lại giỗ Tết gia đình cụ T1, cụ M1 nhưng xét thấy thời gian cụ M1, cụ T1 nuôi
dưỡng P không lâu, giữa cụ T1, cụ M1 với P không quan htrông nom,
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, không thực hiện đầy đủ các quyền nghĩa vcủa
cha mẹ đối với con ngược lại của con đối với cha mtheo quy định của pháp luật.
Do đó Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không xác định Bà P là con nuôi của cụ M1
cụ T1 để được hưởng thừa kế của các cụ theo quy định.
Do đó, căn cứ quy định tại Điều 679 Bộ luật dân sự 2005 xác định hàng thừa
kế thứ nhất của cụ T1, cụ M1 gồm 05 người: Ông Nguyễn Đăng B, Nguyễn Thị
Q, Ông Nguyễn Đăng Đ, Ông Nguyễn Đăng MÔng Nguyễn Đăng T.
- Về phân chia chia di sản thừa kế: Xét thấy việc yêu cầu phân chia di sản thừa
kế của cụ T1, cụ M1 tại thửa đất số x là phù hợp nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là
có căn cứ.
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp sơ thẩm thể hiện tại
thửa đất số x hiện trạng không ai sinh sống, quản lý, để hàng xóm trồng cây nhờ,
do đó không căn cứ để tính công sức trông nom di sản theo yêu cầu khởi kiện của
Bà Q. Như vậy, Di sản thừa kế là 148m
2
đất nông nghiệp tại thửa số 49 khu Gò Đống,
Thôn C, Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Nội của cụ T1, cụ M1 được
10
chia làm 5 phần, mỗi kỷ phần thừa kế 29,6m
2
, mi người trong hàng thừa kế thứ
nhất của các cụ được hưởng 29,6m
2
.
+ Đối với Ông Nguyễn Đăng B Nguyễn Thị Q: Ông B, Q mỗi người
được hưởng 29,6m
2
và đều có yêu cầu được chia bằng hiện vật, Tại cấp sơ thẩm Bà Q
tự nguyện giao phần di sản được hưởng cho Ông B quản lý, sử dụng, tự nguyện phân
chia bồi thường cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa phúc
thẩm Q giữ nguyên ý kiến này, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận và giao cho Ông
Nguyễn Đăng B quản lý, sdụng 59,2m
2
được giới hạn bởi các điểm 1,3,7,9,1 (theo
sơ đồ kèm theo Bản án).
+ Đối với Ông Nguyễn Đăng Đ, Ông Nguyễn Đăng M: Ông Đ, Ông M mỗi
người được hưởng 29,6m
2
của thửa đất số x. Tại bản án thẩm đã ghi nhận sự tự
nguyện của các ông tặng cho phần di sản thừa kế của mình cho Ông Nguyễn Đăng T;
Ông Đ, Ông M không kháng cáo đối với bản án thẩm, do đó Hội đồng xét xử
giữ nguyên phần ghi nhận này.
+ Đối với Ông Nguyễn Đăng T: Xác nhận Ông T được giao 1/3 diện tích thửa
đất số x là 74m
2
hưởng di sản thừa kế của cụ T1, cụ M1 29,6m
2
, tổng
103,6m
2
; ngoài ra Ông T n được hưởng 2 kỷ phần của Ông Đ, Ông M tặng cho
59,2m
2
; do đó xác định Ông T được quyền quản sử dụng tổng diện tích đất
162,8m
2
của thửa đất số x, được giới hạn bởi các điểm 7,3,5,6,7 (theo sơ đồ kèm theo
Bản án).
+ Quá trình giải quyết Ông T trình bày ông người đóng thuế đất trong nhiều
năm. Tòa án không tính công sức cho Ông T đối với việc ông đã thực hiện nghĩa vụ
với nhà nước gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ông T. Tuy nhiên, Ông
T không kháng cáo nên cần rút kinh nghiệm với Tòa án cấp sơ thẩm nội dung trên.
Những phân tích trên cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của Ông Nguyễn Đăng B và Bà Nguyễn Thị Q và giữ nguyên
bản án dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Hoài Đức.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp một phần với nhận định của
Hội đồng xét xử.
[3]. Về án phí:
- Về án phí dân sthẩm. Giữ nguyên quyết định của cấp thẩm về án phí
dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sphúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận
n người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên Ông B, Bà Q Bà H
được xác định là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
11
- Căn cứ vào:
+ Các Điều 147,148, 227; khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
+ Các Điu 649, 650, 651 và 660 B lut Dân s năm 2015
+ Điu 203 luật đất đai năm 2013;
+ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l
phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn - Ông Nguyễn Đăng B,
Nguyễn Thị Q, nời quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo Bà Nguyễn Thị H.
Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 147/2022/DS-ST ngày 28/9/2022 của Toà án
nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội. Cụ thể:
1. Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn về chia di sản thừa
kế của cụ Nguyễn Đăng T1 và cụ Nguyễn Thị M1.
- Xác định di sản thừa kế của cụ Nguyễn Đăng T1, cụ Nguyễn Thị M1 để lại
148m2 đất Nông nghiệp 10% khu khu Đống, Thôn C, Đức Giang, huyện
Hoài Đức, thành phố Hà Nội
- Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ T1, cụ M1 gồm 5 người: Ông Nguyễn
Đăng B, Nguyễn ThQ, Ông Nguyễn Đăng Đ, Ông Nguyễn Đăng M Ông Nguyễn
Đăng T. Di sản của cụ T1, cụ M1 được phân chia cụ thể n sau:
148 m2 : 5 người = 29,6m2/01 người. Như vậy, mỗi thừa kế được hưởng di sản
của bố mẹ để lại là 29,6 m2.
- Ông Nguyễn Đăng B được hưởng di sản thừa kế của bố mẹ để lại 29,6m2
29,6m2 phần của Nguyễn Thị Q được giới hạn bởi các điểm 1, 3, 7, 9, 1 (theo
đtrích đo kèm theo). Ghi nhận sthỏa thuận của Ông B, Q tự nguyện thỏa
thuận bồi thường cho nhau mà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ông Nguyễn Đăng T được hưởng di sản thừa kế của bố mẹ để lại là 29,6m2
02 suất thừa kế tặng cho của anh Nguyễn Đăng Đức, anh Nguyễn Đăng Minh.
Tổng số là 88,8m2.
- Xác nhận Ông Nguyễn Đăng T được nhà nước phân 74m
2
đất 10% tại thửa số
49 khu khu Đống, Thôn C, Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Nội
88,8m2 đất chia thừa kế. Tổng 162,8m2 được giới hạn bởi các điểm 7, 3, 5, 6, 7
(theo sơ đồ trích đo kèm theo) thửa s49 khu khu Đống, Thôn C, Đức
Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
2. Không chấp nhận yêu cầu đòi tài sản quyền sử dụng đất 5% của Ông
Nguyễn Đăng B, Nguyễn Thị Q.
12
3. Không chấp nhận yêu cầu tính công sức trông nom, di sản của Q tương
đương với 5m
2
đất.
3. Không chấp nhận các yêu cầu khác của các đương sự.
4. Về án phí:
Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm cho Ông Nguyễn Đăng B,
Nguyễn Thị Q; miễn toàn bộ án phí cho Bà Nguyễn Thị H.
Ông Nguyễn Đăng T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm phần chia di sản thừa
kế là 4.315.680 đồng (bốn triệu, ba tm mười m ngàng, sáu trăm tám mười đồng)
3.596.400 đồng phần án phí dân sự sơ thẩm đối với xác định quyền sử dụng đất
theo điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị Quyết 326.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 Luật thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi nh án
dân sự.
Án xử công khai phúc thẩm, có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKS ND TP Hà Nội;
- TAND huyn Hoài Đức;
- Chi Cục THADS huyn Hoài Đức;
- Lưu HSVA/VP
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Mai Tiến Dũng
13
CÁC THẨM PHÁN
Tải về
213_2023_DS_PT_ HA NOI 213_2023_DS_PT_ HA NOI

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

213_2023_DS_PT_ HA NOI 213_2023_DS_PT_ HA NOI

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất