Bản án số 21/2025/HNGĐ-PT ngày 18/09/2025 của TAND tỉnh Thái Nguyên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 21/2025/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 21/2025/HNGĐ-PT ngày 18/09/2025 của TAND tỉnh Thái Nguyên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 21/2025/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/09/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Quang Huy
Các Thẩm phán: Bà Lý Thị Thúy
Ông Hoàng Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Miên - Thư Toà án nhân dân tỉnh Thái
Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:
Ông Nông Văn Đổi -Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở
phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ số:
20/2025/TLPT-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2025 về "Ly hôn, chia tài sản chung
vợ chồng". Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 28/2025/HNGĐ-ST ngày
30 tháng 6 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 Thái Nguyên bị kháng cáo. Theo quyết định
đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 24/QĐXX-HNGĐPT ngày 18 tháng 8 năm
2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Đức T , sinh năm 1967; Địa chỉ: Tổ dân phố G,
thị trấn Gi, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- Bị đơn: Bà Khoa Thị H , sinh năm 1973; Địa chỉ: Tổ 2, phường T, thành
phố Th, tỉnh T. Nơi công tác: Trường Tiểu học xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Ngưi bo v quyn li ích hp pháp ca b đơn Khoa Thị H
ông Văn Chương Luật Công ty Luật TNHH Năng & Partner Đoàn Luật
sư TP Hà Nội. Đa ch: S 22 Nguyễn Khang, phường Yên Hòa, Hà Ni.
3. Người kháng cáo: Bà Khoa Thị H là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung bản án sơ thẩm nguyên đơn ông Trn Đức T trình bày:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18/9/2025
V/v “Ly hôn và chia tài sản
chung sau ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Về quan hệ hôn nhân: Ông T kết hôn với Khoa Thị H trên sở tự
nguyện, đăng kết n tại Ủy ban nhân dân thị trấn Giang Tiên, huyện Phú
Lương, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 05/3/1999. Cuộc sống chung của hai vợ chồng
lúc đầu hòa thuận, hạnh phúc, nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên
nhân do vợ chồng không hợp tính tình, không tìm được tiếng nói chung trong
cuộc sống, H không quan tâm đến ông T . Mâu thuẫn vchồng ngày càng
trầm trọng, dẫn đến cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không
đạt được, vợ chồng hiện đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay xác định tình cảm
vợ chồng không còn, ông T xin được ly hôn với bà Khoa Th H .
Về con chung: Vợ chồng ông T H có 02 con chung tên là Trần Khoa
Quỳnh Anh, sinh ngày 23/9/1999 (hiện đã trên 18 tuổi) nên không đề nghị giải
quyết và con chung tên Trần Đức Bình, sinh ngày 03/5/2008. Sau khi ly hôn đề
nghị giao con cho bà H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục
(theo nguyện vọng của con), hơn nữa ông T trình bày ông hiện đang bị bệnh
hiểm nghèo nên không đảm bảo tốt nhất cho việc trực tiếp nuôi con, do đó ông T
đề nghị giao con cho bà H .
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung
đối với cháu Trần Đức Bình với mức 3.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Trong thời k hôn nhân, vợ chồng ông T H tạo được
khối tài sản chung gồm:
- 01 căn nhà xây, địa chỉ tại tổ dân phố Giang Bình, thị trấn Giang Tiên,
huyện Phú Lương, Thái Nguyên (nhà xây năm 2011, xây trên thửa đất số 221, tờ
bản đồ số 2, địa chỉ tại phố Giang Bình, thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương,
Thái Nguyên mang tên ông Trần Đức T ). Hiện nay do ông T đang quản lý, sử
dụng;
- 01 xe ô KIA MORNINH biển kiểm soát 20A- 309.50, xe sản xuất
đăng ký năm 2018, trị giá ông T ước khoảng 320.000.000 đồng, hiện nay do bà
Khoa Thị H đang quản lý, sử dụng;
- 01 xe (xe máy) biển kiểm soát 20E1-159.55, sản xuất đăng
năm 2024, trị giá ông T ước khoảng 30.000.000 (Ba mươi triệu đồng), hiện do
nay bà H quản lý, sử dụng;
Theo đơn khởi kiện, ông T yêu cầu chia số tiền 199.000.000 (Một trăm chín
mươi chín) triệu đồng ông T đã chuyển cho H trong thời gian tnăm
2021 đến 2024. Nhưng tại phiên hòa giải và tại phiên tòa, ông T rút yêu cầu đối
với số tiền 199.000.000 (Một trăm chín mươi chín). Còn tài sản là 01 căn nhà và
01 ô tô, 01 xe máy, ông T yêu cầu chia đôi, ông T H mỗi người một
nửa (50%) trị giá tài sản.
Về nợ chung: Vợ chồng ông T bà H không nợ ai
Ông T trình bày: Đối với căn nhà ô tô, xe máy, ai sdụng thì phải
nghĩa vụ trích chia cho bên kia 50% giá trị. Về căn nhà thì ông T yêu cầu được
sử dụng ông T sẽ trích chia ½ giá trị cho H ; Còn 01 ô 01 xe máy
3
thì giao bà H sử dụng và bà H phải trích chia cho ông T 1/2 trị giá tài sản.
Về án phí: Ông T tự nguyện chịu T bộ án phí sơ thẩm theo quy định.
* Bđơn bà Khoa Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận phần trình bày của ông T về thời gian
kết hôn, tình trạng hôn nhân, về con chung tài sản chung, nợ chung đúng.
Vợ chồng ông T bà H phát sinh nhiều mâu thuẫn từ nhiều năm nay, trong
quá trình chung sống vợ chồng không còn tình cảm không còn quan tâm đến
nhau nữa, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hai bên không tự hòa giải được nên
hiện đã ly thân. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, ông T đơn xin
được ly hôn, tôi nhất trí, đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng tôi được ly hôn.
- Về con chung: Vchồng H , ông T 02 con chung tên Trần
Khoa Quỳnh Anh, sinh ngày 23/9/1999 (hiện đã trên 18 tuổi) nên không yêu cầu
giải quyết; còn con chung tên Trần Đức Bình, sinh ngày 03/5/2008. Sau khi ly
hôn tôi nguyện vọng được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng chăm sóc giáo
dục.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông T tự nguyện nhận nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con tên Trần Đức Bình với mức mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến
khi con đủ 18 tổi. Tôi nhất trí.
- Về tài sản chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng H và ông T
tạo được khối tài sản chung gồm:
+ 01 căn nhà xây, địa chtại tổ dân phố Giang Bình, thị trấn Giang Tiên,
huyện Phú Lương, Thái Nguyên; Vtình trạng tài sản chung giá trị tài sản theo
biên bản kết quả xem xét thẩm định định giá tài sản ngày 09/4/2025 Tòa án
đã tiến hành. Sau khi ly hôn, ông T nhận quyền sử dụng căn nhà và sẽ trích chia
cho bà H 50% giá trị căn nhà, nhưng bà H không nhất trí chia đôi, nếu chia
đôi thì bà thấy bị thiệt thòi và sẽ khó khăn trong việc thuê nhà ở.
Đối với 01 xe ô KIA MORNINH biển kiểm soát 20A- 309.50, xe sản
xuất đăng năm 2019; 01 xe (xe máy) biển kiểm soát 20E1-159.55. Về
tình trạng tài sản chung và giá trị tài sản theo biên bản kết quả xem xét thẩm định
định giá tài sản ngày 09/4/2025. Tuy nhiên, đối với 02 chiếc xe này H trình
bày đây tài sản riêng của chứ không phải tài sản chung vợ chồng nên
H không nhất trí chia.
Tại bản án Hôn nhân gia đình thẩm số 28/2025/HNGĐ-ST ngày
30/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên nay Tòa
án nhân dân Khu vực 4 - Thái Nguyên đã quyết định:
2.1. Vquan hn nhân: Chp nhn u cầu xin ly hôn của ông Trn Đức T
đối với Khoa Th H . Ông Trần Đc T đưc ly hôn vi bà Khoa Thị H .
2.2. Về con chung: Giao con chung tên là tên là Trần Đức Bình, sinh ngày
03/5/2008 cho Khoa Thị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng chăm sóc giáo
dục.
4
Ông T nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con tên là Trần Đức Bình với mức mỗi
tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tổi. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày
bản án này hiệu lực pháp luật cho đến khi phát sinh một trong các điều kiện
chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật hôn nhân gia
đình.
Việc thi hành án khoản tiền cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy
định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.
2.3. Về i sản chung: Chấp nhn yêu cầu chia i sản chung sau ly n của Trần
Đức T đối với bà Bà Khoa Th H . Ông Trn Đức T Khoa Th H được
tch chia 50% tổng g trkhối tài sản chung vchồng, c th:
Ông Trn Đức T đưc quyền qun lý, sử dụng 01 căn nhà xây 2 tầng có công
trình phụ tổng giá trị là: 87.034.968 đồng). Ông Tòa phải nghĩa vụ trích chia
50% giá trị cho bà H , cụ thể là: 87.034.968 : 2 = 43.517.484 đồng + 12.000.000
đ (tiền thuê nhà trong 6 tháng) = 55.517.484 đồng.
Bà Bà Khoa Thị H được sử dụng khối tài sản là 01 xe ô tô giá trị tổng là
125.400.000 đ. Sau khi ly hôn, H phải trích chia cho ông T số tiền là:
125.400.000 đ : 2 = 62.700.000 đồng. Sau khi đối trừ quyền và nghĩa vụ giữa hai
bên đương sự đối với cả 03 loại tài sản chung thì H phải nghĩa vụ thanh
toán cho ông T số tiền là: 7.182.51 đồng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án p, chi phí t tụng và quyền kháng
cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/7/2025, bà Khoa Thị H đơn kháng cáo nộp tại Tòa án nhân
dân khu vực 4 Thái Nguyên ngày 10/7/2025 đề nghị Toà án Phúc thẩm xem xét
các nội dung: Kháng cáo T bộ bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 30/6/2025 của
Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Nay Tòa án nhân dân
Khu vực 4 Thái Nguyên).
Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn trình bày tại đơn kháng cáo bị đơn đề nghị
kháng cáo T bộ bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân
dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Nay Tòa án nhân dân Khu vực 4
Thái Nguyên). Tuy nhiên tại phiên a bị đơn nhất trí với phần quyết định về quan
hệ hôn nhân phần con chung, bị đơn không nhất trí đối với nội dung tài sản
chung cụ thể bị đơn yêu cầu chia đôi căn nhà 01 xây 2 tầng công trình phụ khép
kín có giá là: 87.034.968 đồng) hoặc phải chia cho bị đơn 01 phòng để bị đơn có
chỗ ở và yêu cầu công nhận tài sản là 01 xe ô tô KIA MORNINH biển kiểm soát
20A- 309.50, giá 117.900.000 đồng; 01 xe (xe máy) biển kiểm soát
20E1-159.55, nhãn hiệu HONDA, số loại LEAD, có giá 7.500.000 đồng tài
sản riêng của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát phát biểu sự tuân theo pháp
luật ca Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa từ khi
thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự. Vquan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản
1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14
5
ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bác kháng cáo của bà
Khoa Thị H . Giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 28/2025/HNGĐ-
ST ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
(Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 Thái Nguyên).
Bà Khoa Th H phải chịu án phí ly hôn phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Khoa Thị H làm trong hạn
luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Xét kháng cáo của H kháng cáo T bộ bản án số 28/2025/HNGĐ-ST
ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Nay
là Tòa án nhân dân Khu vực 4 Thái Nguyên). Hội đồng xét xử thấy:
[2.1]. Vtố tụng: Ông Trần Đức T có đơn đnghTòa án giải quyết vụ việc
u cầu ly hôn, nuôi con chung chia i sản chung sau ly n với Khoa Thị
H địa chỉ tại: Tổ 2, phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái
Nguyên. Nơi công tác nơi hiện nay: Trường Tiểu học Tức Tranh, huyện
Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Theo quy đnh tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1
Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng n sự thì vụ án thuộc thẩm
quyền giải quyết của a án nhân n huyn Phú Lương , tnh Thái Nguyên là đúng
theo quy đnh ca pháp lut.
[2.2]. Về nội dung ván:
[2.2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trn Đức T và bà Bà Khoa Thị H kết
hôn vào năm 1999, đăng ký kếtn theo quy định của pp luật, không vi phạm
điều cấm ca pháp luật n hôn nhân hp pp. Sau khi kết n vợ chng sống h
thun được một thi gian, nhưng về sau vợ chồng ông T H có phát sinh nhiều
mâu thuẫn, nguyên nhân trong quá trình chung sống vợ chồng không tiếng
nói chung, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, không tiếng nói chung,
mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hai bên đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay
xác định tình cảm vợ chồng không còn, ông T đơn xin được ly hôn với bà H
. Trong quá trình Tòa án giải quyết, H thừa nhận tình trạng hôn nhân giữa
ông T đúng như ông T trình bày, thừa nhận giữa vợ chồng nhiều mâu
thuẫn, đã từ lâu không còn tình cảm, không quan tâm đến nhau nữa, nay ông T
đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, H nhất trí, đề nghị Tòa án giải quyết cho
vợ chồng bà được ly hôn.
Như vậy, nội dung trình bày của ông T tại đơn khởi kiện trong quá trình
Tòa án giải quyết cũng như tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị đơn bà H
6
. Sau khi xem xét, đối chiếu với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận
thấy: Quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng ông T , bà H đã mâu thuẫn trầm trọng,
hai bên không còn tình cảm, không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, thời gian
sống ly thân đã lâu mà tình cảm không thể hàn gắn được. Tòa án đã tiến hành hòa
giải để ông T , bà H đoàn tụ nhưng không còn khả năng đoàn tụ.
Tại phiên tòa bị đơn nhất tvới quyết định về quan hệ hôn nhân của Tòa
án cấp sơ thẩm, do vậy Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
[2.2.2]. Về con chung: Vợ chồng H , ông T 02 con chung tên
Trần Khoa Quỳnh Anh, sinh ngày 23/9/1999 (hiện đã trên 18 tuổi) nên không yêu
cầu giải quyết; con chung tên Trần Đức Bình, sinh ngày 03/5/2008. Sau khi ly hôn
bà H có nguyện vọng muốn được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng chăm sóc và
giáo dục (phù hợp với nguyện vọng của con chung)phù hợp với điều kiện thực
tế của ông T . Ông T đang bị bệnh hiểm nghèo, sức khỏe yếu sẽ khó điều
kiện chăm sóc, trông nom giáo dục nên nếu giao con cho ông T trực tiếp trông
nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục thì không phù hợp.
[2.2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông T là cán bộ hưu trí, thu
nhập ổn định từ lương hưu nên ông T tự nguyện nhận nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi
con tên Trần Đức Bình với mức mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18
tổi. Bà H nhất trí nên Hi đồng xét xử cần ghi nhận sự thỏa thuận này.
Tại phiên tòa bị đơn nhất trí với phần quyết định về con chung cấp dương
nuôi con chung, do vậy Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
[2.2.4]. Về tài sản chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng ông T , H
đã tạo dựng được khối tài sản chung gồm:
- 01 căn nhà xây 2 tầng công trình phụ khép kín giá là: 87.034.968
đồng).
-
01 xe ô tô KIA MORNINH biển kiểm soát 20A- 309.50, giá
117.900.000 đồng;
- 01 xe mô tô (xe máy) biển kiểm soát 20E1-159.55, nhãn hiệu HONDA, số
loại LEAD, có giá là 7.500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 212.434.968 (Hai trăm mười hai triệu, bốn trăm ba
nghìn, chín trăm sáu mươi tám) đồng.
(Theo biên bản thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 07/11/2024).
Khi ly hôn ông T yêu cầu chia số tài sản chung nêu trên, Hội đồng xét xử
nhận thấy: Các loại tài sản mà nguyên đơn yêu cầu chia đều là tài sản chung của
vợ chồng ông T , H hình thành trong thời kỳ hôn nhân, cả hai bên đều
công sức như nhau trong việc tạo lập lên số tài sản chung này, nay ông T yêu
cầu chia đôi, mỗi bên một nửa giá trị là phù hợp với quy định của pháp luật, cần
chấp nhận, cụ thể nhưu sau:
Đối với 01 căn nhà xây 2 tầng có công trình phụ khép kín, có tổng giá trị là:
87.034.968 đồng). Sau khi ly hôn, ông T là người sử dụng căn nhà nên ông Tòa
7
phải nghĩa vụ trích chia 50% giá trị cho H , cụ thể 87.034.968 : 2 =
43.517.484 đồng.
Tuy nhiên, xét H đang công tác tại địa bàn Tức Tranh, huyện Phú
Lương, tại thời điểm ly hôn, H phải đi thuê nhà. Do đó, Hội đồng xét xử thấy
cần buộc ông T phải trích chia một khoản tiền tương ứng với số tiền phải thuê
nhà trong vòng 6 tháng (theo mức giá thuê nhà trọ trung bình trên địa bàn
2.000.000 đ/tháng x 6 tháng = 12.000.000 đồng. Tổng số tiền ông T phải
trích chia theo giá trị nhà và số tiền thuê nhà đối với bà H là 43.517.484 đồng +
12.000.000 đ = 55.517.484 đồng.
Đối với tài sản 01 xe ô 01 xe (xe máy) tổng giá trị là
117.900.000 đng + 7.500.000 đồng = 125.400.000 đ. Trong quá trình giải quyết
và tại Tòa án, bà H khai đó là tài sản riêng của H . Tuy nhiên sau khi xem
xét, đánh giá tài liệu Hội đồng xét thấy không có căn cứ, bởi lẽ: Theo hồ sơ, 01
chiếc xe ô tô 01 chiếc xe máy được mua đăng lần đầu vào năm 2014 (đối
với xe máy và 2019 đối với ô tô), còn đơn xác nhận tặng cho tiền mua ô tô và xe
máy mà bà Mướt viết là ngày 16/6/2025. Như vậy, không đủ căn cứ xác định tiền
H dùng mua ô tài sản riêng của H . Căn cứ Điều 59 Luật Hôn
nhân gia đình thì phải chia đôi số tài sản nêu trên, cụ thể: Sau khi ly hôn, H
là người được quyền sử dụng 01 chiếc ô tô và 01 chiếc xe máy do đó bà H phải
trích chia cho ông T số tiền là:125.400.000 đ : 2 = 62.700.000 đồng (tương đương
50% giá trị). Sau khi đối trừ quyền và nghĩa vụ giữa hai bên đương sự đối với cả
03 loại tài sản chung thì bà H còn phải nghĩa vụ trích chia cho ông T số tiền
là: 62.700.000 đồng - 55.517.484 đồng = 7.182.51 đồng.
Từ những phânch nhận định nêu tn, Hội đồng xét xử thấy kng có căn
cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Khoa Thị H .
[3]. Ván phí: Ông T phải chu án phí ly hôn sơ thẩm không có giá ngạch
300.000 đồng và 300.000 đồng án phí dân sự không giá ngạch đối với nghĩa
vụ cấp dưỡng nuôi con chung án phí giá ngạch đối với phần tài sản được
chia theo quy định của pp lut là 55.517.484 x 5% = 2.775.874 đ. H chịu án
p n ssơ thẩm giá ngạch tương ứng với phần tài sản được chia 62.700.000
x 5% = 3.135.000 đ. Tuy nhiên, ông T tự nguyện chịu T bộ án phí theo quy
định bao gồm cả phần án phí của bà H là:
2.775.874 + 3.135.000 + 600.000 = 6.510.874 đồng. Nhưng được trừ vào
số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai
số 0004727 ngày 29/10/2024 và 30.000.000 (ba mươi triệu) đng theo biên lai s
0004873 ngày 01/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh
Thái Nguyên. Hoàn trả lại cho ông T số tiền chênh lệch 23.789.126 (Hai mươi
ba triệu, bốn trăm tám mươi chín nghìn, một trăm hai mươi sáu đồng).
Do bà H không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí ly hôn phúc
thẩm
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa
là có căn cứ
8
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết s
326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí
Toà án. Tuyên xử:
1. Không chấp nhận đơn kháng cáo ca bà Khoa Thị H .
Giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 28/2025/HNGĐ -ST ngày
30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Thái Nguyên.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Khoa Thị H phải chịu 300.000 đồng án
phí phúc thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên
lai thu số 0000272 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Các quyết định khác của bản án Hôn nhân gia đình thẩm số
28/2025/HNGĐ -ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú
Lương tỉnh Thái Nguyên Nay Tòa án nhân dân Khu vực 4 Thái Nguyên
hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Khu vực 4 - Thái Nguyên;
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- Phòng THADS KV4 Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hà Quang Huy
9
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
10
Tải về
Bản án số 21/2025/HNGĐ-PT Bản án số 21/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 21/2025/HNGĐ-PT Bản án số 21/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất