Bản án số 21/2025/HNGĐ-PT ngày 18/09/2025 của TAND tỉnh Thái Nguyên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 21/2025/HNGĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 21/2025/HNGĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 21/2025/HNGĐ-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 21/2025/HNGĐ-PT ngày 18/09/2025 của TAND tỉnh Thái Nguyên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Thái Nguyên |
| Số hiệu: | 21/2025/HNGĐ-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 18/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | ly hôn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Quang Huy
Các Thẩm phán: Bà Lý Thị Thúy
Ông Hoàng Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Miên - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái
Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:
Ông Nông Văn Đổi -Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở
phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số:
20/2025/TLPT-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2025 về "Ly hôn, chia tài sản chung
vợ chồng". Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 28/2025/HNGĐ-ST ngày
30 tháng 6 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Thái Nguyên bị kháng cáo. Theo quyết định
đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 24/QĐXX-HNGĐPT ngày 18 tháng 8 năm
2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Đức T , sinh năm 1967; Địa chỉ: Tổ dân phố G,
thị trấn Gi, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- Bị đơn: Bà Khoa Thị H , sinh năm 1973; Địa chỉ: Tổ 2, phường T, thành
phố Th, tỉnh T. Nơi công tác: Trường Tiểu học xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Khoa Thị H là
ông Vũ Văn Chương – Luật sư Công ty Luật TNHH Năng & Partner – Đoàn Luật
sư TP Hà Nội. Địa chỉ: Số 22 Nguyễn Khang, phường Yên Hòa, Hà Nội.
3. Người kháng cáo: Bà Khoa Thị H là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung bản án sơ thẩm nguyên đơn ông Trần Đức T trình bày:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18/9/2025
V/v “Ly hôn và chia tài sản
chung sau ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Về quan hệ hôn nhân: Ông T kết hôn với bà Khoa Thị H trên cơ sở tự
nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Giang Tiên, huyện Phú
Lương, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 05/3/1999. Cuộc sống chung của hai vợ chồng
lúc đầu hòa thuận, hạnh phúc, nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên
nhân là do vợ chồng không hợp tính tình, không tìm được tiếng nói chung trong
cuộc sống, bà H không quan tâm đến ông T . Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng
trầm trọng, dẫn đến cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không
đạt được, vợ chồng hiện đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay xác định tình cảm
vợ chồng không còn, ông T xin được ly hôn với bà Khoa Thị H .
Về con chung: Vợ chồng ông T bà H có 02 con chung tên là Trần Khoa
Quỳnh Anh, sinh ngày 23/9/1999 (hiện đã trên 18 tuổi) nên không đề nghị giải
quyết và con chung tên Trần Đức Bình, sinh ngày 03/5/2008. Sau khi ly hôn đề
nghị giao con cho bà H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục
(theo nguyện vọng của con), hơn nữa ông T trình bày ông hiện đang bị bệnh
hiểm nghèo nên không đảm bảo tốt nhất cho việc trực tiếp nuôi con, do đó ông T
đề nghị giao con cho bà H .
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung
đối với cháu Trần Đức Bình với mức 3.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng ông T bà H tạo được
khối tài sản chung gồm:
- 01 căn nhà xây, địa chỉ tại tổ dân phố Giang Bình, thị trấn Giang Tiên,
huyện Phú Lương, Thái Nguyên (nhà xây năm 2011, xây trên thửa đất số 221, tờ
bản đồ số 2, địa chỉ tại phố Giang Bình, thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương,
Thái Nguyên mang tên ông Trần Đức T ). Hiện nay do ông T đang quản lý, sử
dụng;
- 01 xe ô tô KIA MORNINH biển kiểm soát 20A- 309.50, xe sản xuất và
đăng ký năm 2018, trị giá ông T ước khoảng 320.000.000 đồng, hiện nay do bà
Khoa Thị H đang quản lý, sử dụng;
- 01 xe mô tô (xe máy) biển kiểm soát 20E1-159.55, sản xuất và đăng ký
năm 2024, trị giá ông T ước khoảng 30.000.000 (Ba mươi triệu đồng), hiện do
nay bà H quản lý, sử dụng;
Theo đơn khởi kiện, ông T yêu cầu chia số tiền 199.000.000 (Một trăm chín
mươi chín) triệu đồng mà ông T đã chuyển cho bà H trong thời gian từ năm
2021 đến 2024. Nhưng tại phiên hòa giải và tại phiên tòa, ông T rút yêu cầu đối
với số tiền 199.000.000 (Một trăm chín mươi chín). Còn tài sản là 01 căn nhà và
01 ô tô, 01 xe máy, ông T yêu cầu chia đôi, ông T và bà H mỗi người một
nửa (50%) trị giá tài sản.
Về nợ chung: Vợ chồng ông T bà H không nợ ai
Ông T trình bày: Đối với căn nhà và ô tô, xe máy, ai sử dụng thì phải có
nghĩa vụ trích chia cho bên kia 50% giá trị. Về căn nhà thì ông T yêu cầu được
sử dụng và ông T sẽ trích chia ½ giá trị cho bà H ; Còn 01 ô tô và 01 xe máy
3
thì giao bà H sử dụng và bà H phải trích chia cho ông T 1/2 trị giá tài sản.
Về án phí: Ông T tự nguyện chịu T bộ án phí sơ thẩm theo quy định.
* Bị đơn bà Khoa Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận phần trình bày của ông T về thời gian
kết hôn, tình trạng hôn nhân, về con chung và tài sản chung, nợ chung là đúng.
Vợ chồng ông T bà H có phát sinh nhiều mâu thuẫn từ nhiều năm nay, trong
quá trình chung sống vợ chồng không còn tình cảm và không còn quan tâm đến
nhau nữa, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hai bên không tự hòa giải được nên
hiện đã ly thân. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, ông T có đơn xin
được ly hôn, tôi nhất trí, đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng tôi được ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng bà H , ông T có 02 con chung tên là Trần
Khoa Quỳnh Anh, sinh ngày 23/9/1999 (hiện đã trên 18 tuổi) nên không yêu cầu
giải quyết; còn con chung tên Trần Đức Bình, sinh ngày 03/5/2008. Sau khi ly
hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng chăm sóc và giáo
dục.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông T tự nguyện nhận nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con tên Trần Đức Bình với mức mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến
khi con đủ 18 tổi. Tôi nhất trí.
- Về tài sản chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng bà H và ông T có
tạo được khối tài sản chung gồm:
+ 01 căn nhà xây, địa chỉ tại tổ dân phố Giang Bình, thị trấn Giang Tiên,
huyện Phú Lương, Thái Nguyên; Về tình trạng tài sản chung và giá trị tài sản theo
biên bản kết quả xem xét thẩm định và định giá tài sản ngày 09/4/2025 mà Tòa án
đã tiến hành. Sau khi ly hôn, ông T nhận quyền sử dụng căn nhà và sẽ trích chia
cho bà H 50% giá trị căn nhà, nhưng bà H không nhất trí chia đôi, vì nếu chia
đôi thì bà thấy bị thiệt thòi và sẽ khó khăn trong việc thuê nhà ở.
Đối với 01 xe ô tô KIA MORNINH biển kiểm soát 20A- 309.50, xe sản
xuất và đăng ký năm 2019; 01 xe mô tô (xe máy) biển kiểm soát 20E1-159.55. Về
tình trạng tài sản chung và giá trị tài sản theo biên bản kết quả xem xét thẩm định
và định giá tài sản ngày 09/4/2025. Tuy nhiên, đối với 02 chiếc xe này bà H trình
bày đây là tài sản riêng của bà chứ không phải là tài sản chung vợ chồng nên bà
H không nhất trí chia.
Tại bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 28/2025/HNGĐ-ST ngày
30/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên nay là Tòa
án nhân dân Khu vực 4 - Thái Nguyên đã quyết định:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Trần Đức T
đối với Khoa Thị H . Ông Trần Đức T được ly hôn với bà Khoa Thị H .
2.2. Về con chung: Giao con chung tên là tên là Trần Đức Bình, sinh ngày
03/5/2008 cho bà Khoa Thị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng chăm sóc và giáo
dục.
4
Ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con tên là Trần Đức Bình với mức mỗi
tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tổi. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày
bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi phát sinh một trong các điều kiện
chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật hôn nhân và gia
đình.
Việc thi hành án khoản tiền cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy
định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.
2.3. Về tài sản chung: Chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn của Trần
Đức T đối với bà Bà Khoa Thị H . Ông Trần Đức T và bà Khoa Thị H được
trích chia 50% tổng giá trị khối tài sản chung vợ chồng, cụ thể là:
Ông Trần Đức T được quyền quản lý, sử dụng 01 căn nhà xây 2 tầng có công
trình phụ có tổng giá trị là: 87.034.968 đồng). Ông Tòa phải có nghĩa vụ trích chia
50% giá trị cho bà H , cụ thể là: 87.034.968 : 2 = 43.517.484 đồng + 12.000.000
đ (tiền thuê nhà trong 6 tháng) = 55.517.484 đồng.
Bà Bà Khoa Thị H được sử dụng khối tài sản là 01 xe ô tô giá trị tổng là
125.400.000 đ. Sau khi ly hôn, bà H phải trích chia cho ông T số tiền là:
125.400.000 đ : 2 = 62.700.000 đồng. Sau khi đối trừ quyền và nghĩa vụ giữa hai
bên đương sự đối với cả 03 loại tài sản chung thì bà H phải có nghĩa vụ thanh
toán cho ông T số tiền là: 7.182.51 đồng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng
cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/7/2025, bà Khoa Thị H có đơn kháng cáo nộp tại Tòa án nhân
dân khu vực 4 – Thái Nguyên ngày 10/7/2025 đề nghị Toà án Phúc thẩm xem xét
các nội dung: Kháng cáo T bộ bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 30/6/2025 của
Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Nay là Tòa án nhân dân
Khu vực 4 – Thái Nguyên).
Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn trình bày tại đơn kháng cáo bị đơn đề nghị
kháng cáo T bộ bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân
dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 –
Thái Nguyên). Tuy nhiên tại phiên tòa bị đơn nhất trí với phần quyết định về quan
hệ hôn nhân và phần con chung, bị đơn không nhất trí đối với nội dung tài sản
chung cụ thể bị đơn yêu cầu chia đôi căn nhà 01 xây 2 tầng có công trình phụ khép
kín có giá là: 87.034.968 đồng) hoặc phải chia cho bị đơn 01 phòng để bị đơn có
chỗ ở và yêu cầu công nhận tài sản là 01 xe ô tô KIA MORNINH biển kiểm soát
20A- 309.50, có giá là 117.900.000 đồng; 01 xe mô tô (xe máy) biển kiểm soát
20E1-159.55, nhãn hiệu HONDA, số loại LEAD, có giá là 7.500.000 đồng là tài
sản riêng của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát phát biểu sự tuân theo pháp
luật của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa từ khi
thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản
1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14
5
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bác kháng cáo của bà
Khoa Thị H . Giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 28/2025/HNGĐ-
ST ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
(Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Thái Nguyên).
Bà Khoa Thị H phải chịu án phí ly hôn phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Khoa Thị H làm trong hạn
luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Xét kháng cáo của bà H kháng cáo T bộ bản án số 28/2025/HNGĐ-ST
ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Nay
là Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Thái Nguyên). Hội đồng xét xử thấy:
[2.1]. Về tố tụng: Ông Trần Đức T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc
yêu cầu ly hôn, nuôi con chung và chia tài sản chung sau ly hôn với bà Bà Khoa Thị
H có địa chỉ tại: Tổ 2, phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái
Nguyên. Nơi công tác và nơi ở hiện nay: Trường Tiểu học xã Tức Tranh, huyện
Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1
Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương , tỉnh Thái Nguyên là đúng
theo quy định của pháp luật.
[2.2]. Về nội dung vụ án:
[2.2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Đức T và bà Bà Khoa Thị H kết
hôn vào năm 1999, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, không vi phạm
điều cấm của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hoà
thuận được một thời gian, nhưng về sau vợ chồng ông T bà H có phát sinh nhiều
mâu thuẫn, nguyên nhân là trong quá trình chung sống vợ chồng không có tiếng
nói chung, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, không có tiếng nói chung,
mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hai bên đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay
xác định tình cảm vợ chồng không còn, ông T có đơn xin được ly hôn với bà H
. Trong quá trình Tòa án giải quyết, bà H thừa nhận tình trạng hôn nhân giữa bà
và ông T đúng như ông T trình bày, thừa nhận giữa vợ chồng có nhiều mâu
thuẫn, đã từ lâu không còn tình cảm, không quan tâm đến nhau nữa, nay ông T
đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, bà H nhất trí, đề nghị Tòa án giải quyết cho
vợ chồng bà được ly hôn.
Như vậy, nội dung trình bày của ông T tại đơn khởi kiện và trong quá trình
Tòa án giải quyết cũng như tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị đơn bà H
6
. Sau khi xem xét, đối chiếu với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận
thấy: Quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng ông T , bà H đã mâu thuẫn trầm trọng,
hai bên không còn tình cảm, không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, thời gian
sống ly thân đã lâu mà tình cảm không thể hàn gắn được. Tòa án đã tiến hành hòa
giải để ông T , bà H đoàn tụ nhưng không còn khả năng đoàn tụ.
Tại phiên tòa bị đơn nhất trí với quyết định về quan hệ hôn nhân của Tòa
án cấp sơ thẩm, do vậy Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
[2.2.2]. Về con chung: Vợ chồng bà H , ông T có 02 con chung tên là
Trần Khoa Quỳnh Anh, sinh ngày 23/9/1999 (hiện đã trên 18 tuổi) nên không yêu
cầu giải quyết; con chung tên Trần Đức Bình, sinh ngày 03/5/2008. Sau khi ly hôn
bà H có nguyện vọng muốn được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng chăm sóc và
giáo dục (phù hợp với nguyện vọng của con chung) và phù hợp với điều kiện thực
tế của ông T . Ông T đang bị bệnh hiểm nghèo, sức khỏe yếu sẽ khó có điều
kiện chăm sóc, trông nom và giáo dục nên nếu giao con cho ông T trực tiếp trông
nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục thì không phù hợp.
[2.2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông T là cán bộ hưu trí, có thu
nhập ổn định từ lương hưu nên ông T tự nguyện nhận nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi
con tên Trần Đức Bình với mức mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18
tổi. Bà H nhất trí nên Hội đồng xét xử cần ghi nhận sự thỏa thuận này.
Tại phiên tòa bị đơn nhất trí với phần quyết định về con chung và cấp dương
nuôi con chung, do vậy Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
[2.2.4]. Về tài sản chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng ông T , bà H
đã tạo dựng được khối tài sản chung gồm:
- 01 căn nhà xây 2 tầng có công trình phụ khép kín có giá là: 87.034.968
đồng).
-
01 xe ô tô KIA MORNINH biển kiểm soát 20A- 309.50, có giá là
117.900.000 đồng;
- 01 xe mô tô (xe máy) biển kiểm soát 20E1-159.55, nhãn hiệu HONDA, số
loại LEAD, có giá là 7.500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 212.434.968 (Hai trăm mười hai triệu, bốn trăm ba tư
nghìn, chín trăm sáu mươi tám) đồng.
(Theo biên bản thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 07/11/2024).
Khi ly hôn ông T yêu cầu chia số tài sản chung nêu trên, Hội đồng xét xử
nhận thấy: Các loại tài sản mà nguyên đơn yêu cầu chia đều là tài sản chung của
vợ chồng ông T , bà H hình thành trong thời kỳ hôn nhân, cả hai bên đều có
công sức như nhau trong việc tạo lập lên số tài sản chung này, nay ông T yêu
cầu chia đôi, mỗi bên một nửa giá trị là phù hợp với quy định của pháp luật, cần
chấp nhận, cụ thể nhưu sau:
Đối với 01 căn nhà xây 2 tầng có công trình phụ khép kín, có tổng giá trị là:
87.034.968 đồng). Sau khi ly hôn, ông T là người sử dụng căn nhà nên ông Tòa
7
phải có nghĩa vụ trích chia 50% giá trị cho bà H , cụ thể là 87.034.968 : 2 =
43.517.484 đồng.
Tuy nhiên, xét bà H đang công tác tại địa bàn xã Tức Tranh, huyện Phú
Lương, tại thời điểm ly hôn, bà H phải đi thuê nhà. Do đó, Hội đồng xét xử thấy
cần buộc ông T phải trích chia một khoản tiền tương ứng với số tiền phải thuê
nhà trong vòng 6 tháng (theo mức giá thuê nhà trọ trung bình trên địa bàn là
2.000.000 đ/tháng x 6 tháng = 12.000.000 đồng. Tổng số tiền mà ông T phải
trích chia theo giá trị nhà và số tiền thuê nhà đối với bà H là 43.517.484 đồng +
12.000.000 đ = 55.517.484 đồng.
Đối với tài sản là 01 xe ô tô và 01 xe mô tô (xe máy) tổng giá trị là
117.900.000 đồng + 7.500.000 đồng = 125.400.000 đ. Trong quá trình giải quyết
và tại Tòa án, bà H khai đó là tài sản riêng của bà H . Tuy nhiên sau khi xem
xét, đánh giá tài liệu Hội đồng xét thấy là không có căn cứ, bởi lẽ: Theo hồ sơ, 01
chiếc xe ô tô và 01 chiếc xe máy được mua và đăng ký lần đầu vào năm 2014 (đối
với xe máy và 2019 đối với ô tô), còn đơn xác nhận tặng cho tiền mua ô tô và xe
máy mà bà Mướt viết là ngày 16/6/2025. Như vậy, không đủ căn cứ xác định tiền
mà bà H dùng mua ô tô là tài sản riêng của bà H . Căn cứ Điều 59 Luật Hôn
nhân gia đình thì phải chia đôi số tài sản nêu trên, cụ thể: Sau khi ly hôn, bà H
là người được quyền sử dụng 01 chiếc ô tô và 01 chiếc xe máy do đó bà H phải
trích chia cho ông T số tiền là:125.400.000 đ : 2 = 62.700.000 đồng (tương đương
50% giá trị). Sau khi đối trừ quyền và nghĩa vụ giữa hai bên đương sự đối với cả
03 loại tài sản chung thì bà H còn phải có nghĩa vụ trích chia cho ông T số tiền
là: 62.700.000 đồng - 55.517.484 đồng = 7.182.51 đồng.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy không có căn
cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Khoa Thị H .
[3]. Về án phí: Ông T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm không có giá ngạch là
300.000 đồng và 300.000 đồng án phí dân sự không có giá ngạch đối với nghĩa
vụ cấp dưỡng nuôi con chung và án phí có giá ngạch đối với phần tài sản được
chia theo quy định của pháp luật là 55.517.484 x 5% = 2.775.874 đ. Bà H chịu án
phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với phần tài sản được chia là 62.700.000
x 5% = 3.135.000 đ. Tuy nhiên, ông T tự nguyện chịu T bộ án phí theo quy
định bao gồm cả phần án phí của bà H là:
2.775.874 + 3.135.000 + 600.000 = 6.510.874 đồng. Nhưng được trừ vào
số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai
số 0004727 ngày 29/10/2024 và 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng theo biên lai số
0004873 ngày 01/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh
Thái Nguyên. Hoàn trả lại cho ông T số tiền chênh lệch là 23.789.126 (Hai mươi
ba triệu, bốn trăm tám mươi chín nghìn, một trăm hai mươi sáu đồng).
Do bà H không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí ly hôn phúc
thẩm
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa
là có căn cứ
8
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí
Toà án. Tuyên xử:
1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Khoa Thị H .
Giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 28/2025/HNGĐ -ST ngày
30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Thái Nguyên.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Khoa Thị H phải chịu 300.000 đồng án
phí phúc thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên
lai thu số 0000272 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Các quyết định khác của bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số
28/2025/HNGĐ -ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú
Lương tỉnh Thái Nguyên Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Thái Nguyên có
hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Khu vực 4 - Thái Nguyên;
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- Phòng THADS KV4 – Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hà Quang Huy
9
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
10
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 08/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm