Bản án số 21/2024/DS-ST ngày 14/08/2024 của TAND huyện Đắk G'Long, tỉnh Đắk Nông về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 21/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 21/2024/DS-ST ngày 14/08/2024 của TAND huyện Đắk G'Long, tỉnh Đắk Nông về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Đắk G'Long (TAND tỉnh Đắk Nông)
Số hiệu: 21/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/08/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngày 24-11-2021 anh có nhận số tiền cọc 140.000.000 đồng để chuyển nhượng cho chị Phạm Thị N diện tích đất khoảng 1,7ha với giá tiền thoả thuận 220.000.000 đồng; thửa đất có tứ cận phía đông giáp đất ông D B, phía tây giáp đất anh N, phía nam giáp ông M, phía bắc giáp suối, đất toạ lạc tại Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Tại thời điểm chuyển nhượng anh H, chị N biết thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận nhưng vẫn đồng ý nhận chuyển nhượng; hai bên lập giấy chuyển nhượng nhưng nội dung lại là hợp đồng đặt cọc. Số tiền còn lại 80.000.000 đồng thoả thuận hai tháng sau (tức ngày 24-2- 2022) sẽ trả hết; ngày 19-4-2022 chị N trả cho anh K số tiền 50.000.000 đồng có anh Phan Xuân N làm chứng. Số tiền còn lại 30.000.000 đồng chị N, anh H cam kết sẽ trả, tuy nhiên sau đó vì cho rằng diện tích đất chỉ hơn 1,6ha, chưa đủ 1,7ha nên không trả. Việc chuyển nhượng đất nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chưa đủ điều kiện để thực hiện các quyền của người sử dụng đất, nên anh làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24-11-2021 giữa anh và chị Phạm Thị N và anh Đặng Ngọc H vô hiệu; yêu cầu Toà án xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu, anh K đồng ý hoàn trả lại tiền cho chị N, buộc chị N trả lại diện tích đất đã trồng cà phê cho anh. Ngày 10 tháng 7 năm 2023, anh K xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể xin rút phần yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là trả lại số tiền đã nhận của chị N, anh H và các hậu quả khác
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK GLONG
TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 21/2024/DS- ST
Ngày 14-8-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Văn và bà Phạm Thị Hằng
Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Trà My Thư Tòa án nhân dân
huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
tham gia phiên tòa: Bà Lang Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đắk
Glong xét xử thẩm ng khai vụ án thụ số: 70/2022/TLST DS, ngày 04
tháng 10 năm 2022 về: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất” theo Quyết định đưa ván ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST DS, ngày 01
tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2024/QĐST DS, ngày 01
tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn K, sinh năm 1987, địa chỉ: Thôn T, E,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk, có mặt
- Bị đơn: Anh Đặng Ngọc H, sinh năm 1959, chị Phạm Thị N, sinh năm
1964, đều vắng mặt, địa chỉ: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Người đại diện theo uỷ quyền của chị Phạm Thị N: Anh Đặng Ngọc H,
địa chỉ: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (văn bản uỷ quyền ngày 30-11-
2022), vắng mặt.
- Những người quyền lợi, nghĩa v liên quan: Anh Nguyễn Nông
K,sinh năm 1975, chị Nông Thị B, sinh năm 1970, địa chỉ: Thôn Q, Q,
huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Công ty TNHH MTV Đ, địa chỉ: Thôn 10, N, huyện Đ, tỉnh Đắk
Nông
Người đại diện theo pháp luật: Anh Bùi Đức L, chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Phạm Văn T, chức vụ: Phó Giám đốc
(văn bản uỷ quyền ngày 13-8-2024), có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
2
Người làm chứng: Chị Vũ Thị H, địa chỉ: Thôn Q, Q, huyện Đ, tỉnh
Đắk Nông, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản khai trong htại phiên tòa nguyên
đơn anh Hoàng Văn K trình bày:
Ngày 24-11-2021 anh nhận số tiền cọc 140.000.000 đồng để chuyển
nhượng cho chị Phạm Thị N diện tích đất khoảng 1,7ha với giá tiền thoả thuận
220.000.000 đồng; thửa đất có tứ cận phía đông giáp đất ông D B, phía tây giáp
đất anh N, phía nam giáp ông M, phía bắc giáp suối, đất toạ lạc tại Thôn Q,
Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Tại thời điểm chuyển nhượng anh H, chị N biết thửa đất chưa được cấp
giấy chứng nhận nhưng vẫn đồng ý nhận chuyển nhượng; hai bên lập giấy
chuyển nhượng nhưng nội dung lại là hợp đồng đặt cọc.
Số tiền còn lại 80.000.000 đồng thoả thuận hai tháng sau (tức ngày 24-2-
2022) strả hết; ngày 19-4-2022 chị N trả cho anh K số tiền 50.000.000 đồng
anh Phan Xuân N làm chứng. Số tiền còn lại 30.000.000 đồng chị N, anh H
cam kết sẽ trả, tuy nhiên sau đó vì cho rằng diện tích đất chỉ hơn 1,6ha, chưa đủ
1,7ha nên không trả. Việc chuyển nhượng đất nhưng chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất là chưa đủ điều kiện để thực hiện các quyền của người
sử dụng đất, nên anh làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24-11-2021 giữa anh chị Phạm Thị
N và anh Đặng Ngọc H vô hiệu; yêu cầu Toà án xử lý hậu quả của hợp đồng vô
hiệu, anh K đồng ý hoàn trả lại tiền cho chị N, buộc chị N trả lại diện tích đất
đã trồng cà phê cho anh.
Ngày 10 tháng 7 năm 2023, anh K xin rút một phần yêu cầu khởi kiện,
cụ thể xin rút phần yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là trả lại số
tiền đã nhận của chị N, anh H và các hậu quả khác.
- Ý kiến bị đơn anh Đặng Ngọc H trong quá trình giải quyết vụ án trình
bày: Ngày 24 tháng 11 năm 2021 gia đình anh thoả thuận nhận chuyển nhượng
của anh Hoàng Văn K một thửa đất tại Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
với giá tiền 220.000.000 đồng; trước khi lập hợp đồng chuyển nhượng, các bên
có đến xem vị trí thửa đất chuyển nhượng, diện tích đất chuyển nhượng khoảng
1,7ha, trên đất trồng phê nhưng do không chăm sóc nên phê chết
nhiều, chỉ còn lại thưa thớt; hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng tại nhà anh
H, sự chứng kiến của vợ chồng anh, anh K, anh Phạm Xuân N (là chủ đất
cũ); hợp đồng không có xác nhận của chính quyền địa phương, thửa đất chuyển
nhượng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất, gia đình anh đã
giao cho anh K số tiền 140.000.000 đồng, số tiền nợ còn lại chị N ghi một
giấy nhận nợ, nội dung trong giấy nhận nợ ghi số tiền nhận chuyển nhượng đất
còn nợ lại 80.000.000 đồng, hẹn đến ngày 24 tháng 2 năm 2022 sẽ trả cho
anh K, nếu gia đình anh không trả smất số tiền đặt cọc 140.000.000 đồng cho
3
anh K, nếu anh K chuyển nhượng đất cho người khác thì phải trả gấp đôi số
tiền cho gia đình anh H.
Ngày 24 tháng 11 năm 2021 gia đình anh đã nhận bàn giao đất; ngày 24
tháng 2 năm 2022 gia đình anh chuẩn bị tiền yêu cầu anh K đến thực địa
giáp ranh, đo đạc thực tế tuy nhiên anh K không ra chỉ ranh, ký giáp ranh và đo
đạc thực tế, đồng thời yêu cầu gia đình anh trả số tiền 80.000.000 đồng, gia
đình anh không đồng ý do khi chỉ ranh đất chuyển nhượng anh K chỉ ranh
đến vị trí đất sình, tuy nhiên khi anh H nhận đất canh tác, phát sinh tranh chấp
với hai hộ giáp ranh. Anh H đo đạc thực tế diện tích đất khoảng 1,3ha. Gia đình
anh đã trồng cà phê, sầu riêng và bơ trên toàn bộ diện tích đất.
Do diện tích đất thiếu nên anh K đồng ý trừ bớt tiền, chỉ lấy thêm số tiền
50.000.000 đồng, giao tiền tại nhà anh Phan Xuân N, sau khi nhận tiền, anh K
xác nhận đã nhận đủ tiền.
Phần đất gia đình anh nhận chuyển nhượng đã chuyển nhượng lại cho
anh Nguyễn Nông K với giá tiền 380.000.000 đồng, chuyển nhượng năm 2022,
gia đình anh đã nhận đủ tiền, hiện nay thửa đất trên anh K đang quản lý, sử
dụng.
Nay anh K khởi kiện yêu cầu toà án tuyên hợp đồng chuyển nhượng
hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng, gia đình anh không đồng ý, do hiện nay
gia đình anh không còn quyền lợi liên quan đến thửa đất đã chuyển
nhượng cho anh K.
- Ý kiến bị đơn chị Phạm Thị N trình bày: Chị không đồng ý với yêu cầu
của anh K, gia đình chị nhận chuyển nhượng đất từ anh K với giá 220.000.000
đồng, tuy nhiên do diện tích đất thiếu nên anh K bớt 30.000.000 đồng, gia đình
chị đã thanh toán đủ số tiền 190.000.000 đồng; đã nhận đất canh tác, sau đó đã
chuyển nhượng lại cho gia đình anh K. Chị đề nghị Toà án xem xét giải quyết
theo quy định, không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
- Ý kiến người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Nông K
trình bày: Ngày 03 tháng 5 năm 2022 anh nhận chuyển nhượng một thửa đất đã
trồng phê 01 máy tưới; 02 cuộn dây tưới; 01 căn nhà gỗ; 01 hồ nước nhỏ
của anh Đặng Ngọc H, chị Phạm Thị N với giá tiền 380.000.000 đồng, đất tại
Thôn Q, xã Q, huyện Đ, Đắk Nông, hai bên lập hợp đồng sang nhượng viết tay.
Hiện nay anh K khởi kiện đối với anh H, chị N anh đnghị Toà án xem
xét theo hướng lợi nhất cho hai bên, tránh thiệt hại xảy ra, đồng thời anh
không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu; không yêu cầu độc
lập, chưa yêu cầu gì với anh H, chị N anh K. Sau này nếu có thiệt hại anh sẽ
khởi kiện sau. Do không yêu cầu, đề nghị nên anh đề nghị Toà án giải quyết
vắng mặt.
- Ý kiến người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nông Thị B trình bày:
Chị đồng ý với ý kiến trình bày của chồng chị anh Nguyễn Nông K, do bận
công việc nên đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
4
- Ý kiến người đại diện theo pháp luật của người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan công ty TNHH MTV Đ (công ty TNHH MTV Đ) anh Bùi Đức L
trình bày: Ngày 24 tháng 8 năm 2011 Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Nông ra quyết
định số 1172/QĐ-UBND về việc huỷ bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cũ, đồng thời cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất cho công ty TNHH MTV Đ với tổng diện tích
được giao 57.853.172m
2
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM
880967, gồm các tiều khu 1626, 1643, 1668, 1657, 1667, 1674 và 1633.
Diện tích đất các bên tranh chấp theo kết quả đo đạc của Toà án cung cấp
vị trí, toạ độ đối chiếu với quyết định 1172/QĐ-UBND tỉnh giao đất cho công
ty TNHH MTV Đ, toàn bộ diện tích đất tranh chấp nằm tại 4, 5 khoảnh 11,
tiểu khu 1674 trong lâm phần công ty TNHH MTV Đ quản lý. Do vậy, yêu cầu
các bên liên quan trả lại đất cho công ty TNHH MTV Để khôi phục lại rừng,
đồng thời chuyển các vật dụng có liên quan ra khỏi hiện trường.
Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn vẫn gi
nguyên yêu cầu nêu trên.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư từ khi thụ vụ án tại phiên tòa
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc chấp hành phát luật tố tụng của
nguyên đơn, bị đơn chưa đầy đủ, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xchấp nhận một phần yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
nguyên đơn bị đơn hiệu; không chấp nhận yêu cầu buộc bị đơn trả lại
diện tích đất do diện tích đất trên đất rừng giao cho công ty TNHH MTV Đ
quản lý; đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô
hiệu đối với phần hoàn trả tiền do nguyên đơn đã rút yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các đương sự được xác lập và thực hiện
tại xã Quảng Sơn; đất chuyển nhượng tọa lạc tại Quảng Sơn, huyện Đắk
Glong, tỉnh Đắk Nông, anh H, chị N cư trú tại thôn Quảng Hợp, xã Quảng Sơn;
anh K khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong giải quyết quan hệ
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất với anh Đặng Ngọc H,
chị Phạm Thị N nên quan hệ pháp luật tranh chấp Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a,
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Văn K đề nghị Tòa án tuyên
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24 tháng 11 năm 2021
5
hiệu, buộc anh H, chị N trả lại diện tích đất nhận chuyển nhượng, HĐXX nhận
định:
[2.1]. Về yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 24 tháng 11 năm 2021 vô hiệu.
[2.1.1]. Căn cứ vào giấy sang nhượng đất đề ngày 24 tháng 11 năm 2021;
ý kiến trình bày của anh K, anh H, chị N trong quá trình giải quyết vụ án tại
phiên toà thể hiện, anh Hoàng Văn K chuyển nhượng cho anh Đặng Ngọc
H, chPhạm Thị N một thửa đất tại Thôn Q, Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông,
diện tích đất chuyển nhượng ghi trên hợp đồng khoảng 1,7ha; giá tiền chuyển
nhượng 220.000.000 đồng; do diện tích đất không đủ 1,7ha nên hai bên thoả
thuận bớt số tiền 30.000.000 đồng; anh K đã nhận tiền hai lần với tổng số tiền
190.000.000 đồng; hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng viết tay; không có xác
nhận của chính quyền địa phương; khi chuyển nhượng đất chưa được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Những tình tiết, sự kiện nêu trên được các bên
đương sự thừa nhận nên đây những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh
theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.1.2]. Xét vđiều kiện chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, hình thức hợp đồng.
[2.1.2.1]. Về điều kiện chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng: Các
đương sự đều thừa nhận, khi chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất nêu trên,
đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước thời điểm chuyển
nhượng, các bên tiến hành chỉ vị t đất chuyển nhượng. Như vậy, việc
chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất nêu trên đã vi phạm điều kiện chuyển
nhượng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013,
cụ thể:
“1. Người sử dụng đất được thực hiện c quyền chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất;
góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây
a) Có giấy chứng nhận…
Do đó, anh H, chị N không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
đối với thửa đất nêu trên theo quy định tại Điều 191 của Luật Đất đai năm
2013. “1. Tổ chức, hộ gia đình, nhân….không được nhận chuyển nhượng,
nhận tặng cho quyền sử dụng đất đối với trường hợp pháp luật không cho
phép chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất”.
[2.1.2.2]. Xét hình thức hợp đồng. Hợp đồng chuyển nhượng được đánh
máy vi tính, phần chữ viết tay, chữ của bên chuyển nhượng, bên nhận
chuyển nhượng, thôn trưởng, không xác nhận của chính quyền địa phương
(ủy ban nhân dân Quảng Sơn), do đó đã vi phạm về hình thức của hợp đồng
theo quy định tại khoản 2 Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
6
Do đó, căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tuyên hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24 tháng 11 năm 2021 giữa anh Hoàng
Văn K và anh Đặng Ngọc H, chị Phạm Thị N là vô hiệu.
[2.2]. Về yêu cầu buộc anh Đặng Ngọc H, chị Phạm Thị N phải trả lại
diện tích đất nhận chuyển nhượng.
[2.2.1]. Căn cứ kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất của Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai xác định, diện tích đất chuyển nhượng 15.539,9m
2
.
Sau khi lồng ghép vị trí thửa đất các bên chuyển nhượng của Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai Đắk Glong, xác định. Toàn bộ diện tích đất chuyển
nhượng thuộc quyền quản lý, sử dụng của Công ty TNHH MTV Đ theo quyết
định số 1172/QĐ-UBND, ngày 24 tháng 8 năm 2021.
[2.2.2]. Do hợp đồng giữa anh K với anh H, chị N hiệu kể từ thời
diểm giao kết, nên không phát sinh hiệu lực pháp luật, các bên phải hoàn trả
cho nhau những đã nhận, tuy nhiên như đã phân tích nêu trên, toàn bộ diện
tích đất chuyển nhượng thuộc quyền quản lý, sử dụng của Uỷ ban nhân dân tỉnh
Đắk Nông đã được giao cho Công ty TNHH MTV Đ quản , sử dụng, do
đó không căn cứ buộc anh H, chị N trdiện tích đất nhận chuyển nhượng
cho anh K nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của anh Hoàng Văn K.
[2.2.3]. Do hợp đồng giữa anh K với anh H, chị N hiệu, tuy nhiên
trong quá trình giải quyết vụ án ngoài những yêu cầu nêu trên nguyên đơn, ý
kiến trình bày của bị đơn về việc không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, các
đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu (hoàn trả số
tiền đã nhận cho nhau).Tại phiên tòa các đương sự đã được giải thích về hậu
quả của hợp đồng hiệu nhưng các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến, mặt
khác anh K cho rằng đã hoàn trả số tiền trên cho anh H, chị N nên anh H, chị N
quyền khởi kiện đối với anh K bằng một vụ án khác để giải quyết hậu quả
của hợp đồng hiệu.
[3]. Xét ý kiến trình bày của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh
Nguyễn Nông K, chị Nông Thị B về việc đã nhận quyền sdụng đất đối với
thửa đất nêu trên từ anh H, chị N. Xét việc chuyển nhượng thật, giá
chuyển nhượng các bên thừa nhận là 380.000.000 đồng, sau khi nhận chuyển
nhượng gia đình anh K đã nhận đất, canh tác sử dụng. Trong vụ án này anh K,
chị B chưa yêu cầu gì với anh K, chị N anh H nên anh K, chị B quyền
khởi kiện đối với anh H, chị N bằng một vụ án khác theo quy định của pháp
luật để bảo quyền lợi cho mình.
[4]. Xét ý kiến trình bày của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh
Bùi Đức L. Căn cứ theo kết quả đo đạc lồng ghép thửa đất chuyển nhượng với
quyết định giao đất số 1172/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đắk Nông cho Công
ty TNHH MTV Đ xác định toàn bộ diện tích đất chuyển nhượng thuộc quyền
quản của công ty TNHH MTV Đ, do đó ý kiến trình bày của anh L là có căn
cứ, nên cần buộc các bên bàn giao lại diện tích đất cho Công ty TNHH MTV Đ
quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.
7
[5]. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn rút yêu cầu giải quyết hậu
quả của hợp đồng hiệu, xét việc rút yêu cầu của nguyên đơn tự nguyện,
không bị ép buộc nên căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử
đình chỉ phần yêu cầu nguyên đơn đã rút, nguyên đơn quyền khởi kiện đối
với phần yêu cầu đã rút thành vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[6]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk
Glong về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, HĐXX chấp nhận.
[7]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo đạc, định giá: Do
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên nguyên đơn
phải chịu ½ chi phí, được khấu trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng; bị đơn phải chịu
½ chi phí số tiền này được hoàn trả cho nguyên đơn do đã nộp tạm ứng.
[8]. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên
bị đơn phải chịu án phí với phần yêu cầu nguyên đơn được chấp nhận. Hoàn trả
tiền án phí đối với phần yêu cầu của nguyên đơn đã rút.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 244 của Bộ luật Ttụng dân sự; khoản 2 Điều 117 của Bộ luật
dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 188; khoản 1 Điều 191 của Luật Đất
đai năm 2013; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí
Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Văn K đối với
anh Đặng Ngọc H, chị Phạm Thị N về yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 24-11-2021 là vô hiệu.
Không chấp nhận yêu cầu của anh Hoàng Văn K đối với anh Đặng Ngọc
H, chPhạm Thị N về yêu cầu buộc anh H, chị N phải trả lại diện tích đất nhận
chuyển nhượng do là đất rừng thuộc quản lý của Công ty TNHH MTV Đ.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Văn K đối với yêu cầu giải
quyết hậu quả của hợp đồng hiệu. Nguyên đơn quyền khởi kiện đối với
yêu cầu đã rút theo quy định của pháp luật.
3. Về chi phí xem xét thẩm định, chi pđo đạc, định giá: Căn cứ Điều
157, khoản 1 Điều 158 của Bộ luật Ttụng dân sự. Buộc anh Hng Văn K
phi chịu ½ chi phí xem t thẩm định tại chỗ, chi phí đo đạc, định giá
5.000.000đ được khấu trừ số tin anh K đã nộp tạm ứng, theo phiếu thu ngày 13-
3-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong. Anh K đã nộp xong chi phí
xem xét thẩm định, chi phí đo đạc. Buộc anh Đặng Ngọc H, chị Phạm Thị N
phải chịu ½ chi phí xem t thẩm định tại chỗ, chi phí đo đạc, định giá
5.000.000đ, số tiền này được hoàn trcho anh K do đã nộp tạmng.
8
3. Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2
Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc anh Đặng Ngọc H, chị Phạm Thị N phải chịu số tiền án phí dân sự
sơ thẩm là 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Glong.
Hoàn trả cho anh Hoàng Văn K số tiền tạm ứng áp phí 3.800.000 đồng
(gồm 300.000 đồng án phí dân sự thẩm và 3.500.000 đồng án phí giải quyết
hậu quả của hợp đồng hiệu), theo biên lai số 0004304 ngày 30-9-2022 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
4. Về quyền kháng cáo: Đương s mặt tại phiên tòa quyền kháng
cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của
pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đắk Nông;
- VKSND huyện Đắk Glong;
- CCTHADS huyện Đắk Glong;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
(ĐÃ KÝ)
Phạm Đình Hưng
Tải về
Bản án số 21/2024/DS-ST Bản án số 21/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 21/2024/DS-ST Bản án số 21/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất