Bản án số 21/2017/HNGĐ-ST ngày 22/09/2017 của TAND Q. Đồ Sơn, TP. Hải Phòng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 21/2017/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 21/2017/HNGĐ-ST ngày 22/09/2017 của TAND Q. Đồ Sơn, TP. Hải Phòng
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Q. Đồ Sơn (TAND TP. Hải Phòng)
Số hiệu: 21/2017/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2017
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN ĐỒ SƠN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 21/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 22-9-2017
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Trường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thế Sự.
Bà Nguyễn Thị Ninh.
- Thư phiên tòa: Ông Trọng Đạt - Thư Tòa án nhân dân quận
Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng
tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2017, tại trụ s Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn,
thành phố Hải Phòng, xét xử thẩm công khai vụ án thụ số: 49/2017/TLST-
HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2017, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 9
năm 2017, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1989, trú tại: Tổ A, phường B,
quận C, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Duy K, sinh năm 1977, địa chỉ nơi làm việc: Trung
đoàn X, quận C, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện ngày 30-5-2017 các lời khai trong qtrình giải
quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đỗ Thị H trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh K kết hôn trên sở tự nguyện, đăng kết
hôn năm 2013, tại UBND phường Minh Đức, quận Đồ Sơn, thành phố Hải
Phòng. Sau khi kết hôn, chị anh K chung sống tại TA, phường B, quận C,
thành phố Hải Phòng. Anh, chị chung sống hạnh phúc được khoảng 4 năm, mặc
trong thời gian này, anh K ghen tuông cớ, chị anh K cũng cãi
nhau nhưng không đến mức độ trầm trọng. Đến năm 2017, do anh K ghen tuông
2
cớ nhiều hơn, cho rằng chị sống không chung thủy nên thường xuyên chửi
bới đánh đập chị. Chị đã giải thích nhiều lần, nhưng anh K vẫn không thay
đổi, vẫn thường ghen tuông rồi đánh, chửi chị. Đêm ngày 29-5-2017, anh K đã
từ đơn vị về chửi bới chị nên chị đã bvề nhà mẹ đẻ, nhưng anh K sang nhà mẹ
của chị đập phá cửa, bắt chị phải về nên Công an phường Minh Đức đã vào can
thiệp, giải quyết. Tại Công an phường, anh K thừa nhận mình sai và hứa sthay
đổi, nhưng sau đó, anh K vẫn không thay đổi tính nết của mình, vẫn thường
xuyên ghen tuông cớ, xúc phạm danh dự nhân phẩm của chị, thậm chí
đánh đập chị nhiều lần. Chi hội phụ nữ tổ Dân Tiến, phường Minh Đức cũng
đến tác động, a giải, anh K cũng hứa sửa chữa, nhưng trên thực tế vẫn không
thực hiện được. Ngoài việc xúc phạm chị, anh K còn xúc phạm đến mẹ của chị.
Sau phiên hòa giải ngày 20-7-2017, chị anh K đã nói chuyện với nhau nhiều
lần, nhưng không nói chuyện được lâu mà lại cãi nhau ngay. Anh K tuy đã nhận
lỗi hứa sẽ sửa chữa, nhưng thực tế, anh K vẫn không thay đổi, vẫn ghen
tuông cớ, xúc phạm chửi bới chị. Chị thấy, anh K đã không còn tin tưởng
chị, đã xúc phạm danh dự, nhân phẩm thân thể chị nhiều lần; bản thân chị
cũng không còn tin tưởng anh K được nữa; tình trạng hôn nhân của anh chị đã
đến mức trầm trọng, không thể kéo dài, nếu tiếp tục chung sống thì chị sẽ còn
phải chịu bạo lực gia đình từ phía anh K nên đề nghị Tòa án giải quyết cho được
ly hôn anh K.
- Về con chung: Chị anh K 01 con chung tên Duy Quốc B,
sinh ngày 04-9-2014. Do anh K quân nhân, không nhiều điều kiện chăm
sóc con nên chị nhận nuôi con, yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con mỗi
tháng 2.000.000 đồng.
- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai ghi ngày 09-6-2017 các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án, bị đơn là anh Vũ Duy K trình bày:
- Về hôn nhân: Điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, tình trạng hôn nhân con
chung như chị H trình bày là đúng. Trong quá trình chung sống, anh, chị luôn có
cuộc sống hạnh phúc. Tuy nhiên, gần đây, với bản tính ghen tuông của anh nên
anh và chị H có xảy ra cãi vã nhau, làm ảnh hưởng đến gia đình, vợ con và hàng
xóm. công việc, anh chỉ thể vthăm gia đình vào ngày thứ 7 và chủ nhật,
nhưng những ngày đó, chị H lại đi chơi, không ở nhà với chồng con nên dẫn đến
việc anh nghi ngờ ghen tuông cớ. Anh nhận thức được việc ghen tuông
không sở rất lý. Anh cũng thừa nhận đã những hành xử không
đúng chuẩn mực với chị H gia đình nhà chị H. Anh cũng đã xin lỗi hứa
với gia đình, vcon sẽ sửa chữa, không lặp lại những hành vi sai trái của mình,
hết lòng thương yêu vợ con, chăm sóc gia đình thật tốt. Sau phiên hòa giải ngày
20-7-2017, bản thân anh đã sửa chữa lỗi lầm rất nhiều. Anh đã nhờ hàng xóm,
người thân cả mcủa chị H tác động, phân tích khuyên chị H thay đổi ý
kiến đvợ chồng chung sống hạnh phúc. Bản thân anh cũng đã nhiều lần chủ
động nói chuyện, làm lành với chị H, nhưng chị H lại không thiện chí hợp
tác. Từ khoảng tháng 6-2017 đến nay, anh chị H đã sống ly thân, chị H
3
chuyển về nhà mẹ đẻ của chị để ở. Đến nay, anh thấy vẫn còn tình cảm với chị
H. Anh khẳng định, với sự cố gắng của mình thì sẽ làm cho chH thay đổi suy
nghĩ để vợ chồng chung sống hạnh phúc. Những anh hứa sẽ sửa chữa thì anh
sẽ thực hiện đến cùng. vậy, anh không đồng ý ly hôn chị H, anh xin được
đoàn tụ.
- Về con chung: Do anh không đồng ý ly hôn chị H nên không yêu cầu
Tòa án giải quyết về vấn đề nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đnghị Tòa án
giải quyết được ly hôn anh K, đnghTòa án giao cháu B cho chị nuôi dưỡng
đến khi đủ 18 tuổi, anh K phải trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 2.000.000
đồng mỗi tháng; anh K không đồng ý ly hôn chị H, trong trường hợp Tòa án giải
quyết cho ly hôn, anh cũng đồng ý để chị H nuôi cháu B, anh thống nhất cấp
dưỡng nuôi con cho chị H mỗi tháng 2.000.000 đồng; về tài sản chung, chị H
anh K đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa của người tham gia tố tụng trong
quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét
xử nghị án phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án; đnghị Hội đồng xét
xử:
Căn cư
́
khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Điều 116 của Luật
Hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của chị H được ly hôn với
anh K, giao cháu Vũ Duy Quốc B cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh K phải có
nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng;
Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm quy định tại khoản 4
Điều 147 của Bluật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của y ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ
phí tòa án;
Anh K có nghĩa vụ nộp án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng theo quy
định tại điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-
12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà căn cứ vào ý kiến của các đương sự, kết quả xác minh, Hội đồng
xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ
tranh chấp về ly hôn nuôi con chung, bị đơn anh Duy K, làm việc tại
Trung đoàn X, quận C, thành ph Hải Phòng; theo quy định tại khoản 1 Điều 28,
4
khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn.
Về hôn nhân:
[2]. Chị Đỗ Thị H và anh K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn
năm năm 2013, tại Ủy ban nhân dân phường Minh Đức, quận Đồ Sơn. Theo quy
định tại Điều 9 Điều 11 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2000, đây
quan hệ hôn nhân hợp pháp.
[3]. Các tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được xác định: Chị H
anh K chung sống hạnh phúc khoảng hơn 03 năm đầu sau kết hôn. Đến năm
2017, do anh K thường ghen tuông cớ, cho rằng chị H sống không chung
thủy nên thường xuyên chửi bới đánh đập chị H. Chi hội phụ nữ tổ dân phố
đã tác động hòa giải, Công an phường Minh Đức cũng đã can thiệp giải
quyết; anh K thừa nhận mình đã sai hứa sẽ sửa chữa lỗi lầm, nhưng trên thực
tế, anh K không thay đổi suy nghĩ hành động của mình, vẫn thường xuyên
ghen tuông cớ, xúc phạm danh dự nhân phẩm của chị H, thậm chí đánh
đập chị nhiều lần. Ngoài việc xúc phạm chị H, anh K còn xúc phạm đến người
thân thích của chị H. Anh K ng xác nhận mình đã những hành xử không
đúng chuẩn mực với chị H gia đình nhà chị H. Trong quá trình Tòa án giải
quyết vụ án, chị H và anh K cũng đã nói chuyện, tự hòa giải với nhau nhiều lần,
nhưng anh, chị vẫn không tìm được tiếng nói chung. Từ khoảng tháng 6-2017
đến nay, anh K và chị H đã sống ly thân, chị H về nhà mẹ đẻ của chđể sinh
sống. Xét nguyện vọng đoàn tcủa anh K, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều
lần, anh K tuy vẫn mong muốn đoàn tụ, nhưng lại không hành động tích cực
thiện chí để giữ gìn hạnh phúc gia đình, tạo niềm tin từ phía chị H. Tại phiên
tòa m nay, anh K cũng thừa nhận anh nhiều lần đánh, chửi chị H, nhưng sau
đó anh đã xin lỗi ngay, sự việc đó cũng diễn ra nhiều lần. thế chị H vẫn
không thay đổi quan điểm của mình. Có thể thấy, lời khai của chị H và anh K về
quan hệ hôn nhân trong quá trình tham gia tố tụng là đúng. Từ năm 2017, anh K
thường hành vi bạo lực gia đình làm cho hôn nhân của anh K và chị H lâm
vào tình trạng trầm trọng, không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể o
dài nên đủ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H
đối với anh K, theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân gia
đình.
[4]. Về nuôi con chung: Chị H và anh K có 01 con chung là Vũ Duy Quốc
B, sinh ngày 04-9-2014. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H anh K đều
nhận nuôi con. Tuy nhiên, tại biên bản làm việc ngày 02-8-2017 và tại phiên tòa
hôm nay, anh K trình bày do anh là quân nhân nên thời gian dành cho việc chăm
sóc, nuôi dạy con sẽ bị hạn chế, chị H rất thương con, nếu phải ly hôn anh cũng
chấp nhận để chị H nuôi cháu B, anh cũng đồng ý cấp dưỡng nuôi con cùng chị
H mỗi tháng 2.000.000 đồng. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi
con của chị H. Giao cháu B cho chị H nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp,
đảm bảo quyền lợi của cháu. Anh K thu nhập ổn định, nên anh K trách
nhiệm cấp dưỡng 2.000.000 đồng mỗi tháng cho chị H nuôi con là phù hợp.
5
[5]. Về chia tài sản chung: Chị H và anh K đều không yêu cầu Tòa án giải
quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
[6]. Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thâ
̉
m theo quy
định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5
Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của y ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí tòa án.
[7]. Anh K nghĩa vụ nộp án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 theo quy
định tại điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-
12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
[8]. Vquyền kháng cáo: Chị H anh K được quyền kháng cáo bản án
theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81 khoản 3 Điều 82 của
Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng
dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí tòa
án,
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho Đỗ Thị H được ly hôn với anh Vũ Duy K.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao cháu Duy Quc B, sinh ngày 04-9-2014 cho ch H nuôi
ỡng đến khi đủ 18 tui. Anh K nghĩa v cấp dưỡng cho ch H nuôi con
2.000.000 (Hai triu) đồng mt tháng, thi gian t tháng 10-2017 đến khi cháu
B đ 18 tui. Hoc cho đến khi ch H và anh K s thay đổi khác v ngưi
trc tiếp nuôi con, v cấp dưỡng nuôi con theo quy định ca pháp lut.
2.2. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ
thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí:
3.1. Chị H phải chịu án phí dân sthẩm 300.000 (Ba trăm nghìn)
đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm chị đã nộp
6
300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo Bn lai số AA/2010/7233 ngày 31-5-2017
của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ
thẩm.
3.2. Anh K phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 (Ba trăm nghìn)
đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, thì hàng tháng, người b thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chưa
thi hành án.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân squyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án; người b thi hành án có quyn tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 Điều
9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30
của Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Chị H anh K quyền kháng cáo trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- TAND thành phố Hải Phòng;
- VKSND quận Đồ Sơn;
- Chi cục THADS quận Đồ Sơn;
- UBND phường Minh Đức;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Hữu Trường
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
7
Trần Thế Sự Nguyễn Thị Ninh
Phạm Hữu Trường
Tải về
Bản án số 21/2017/HNGĐ-ST Bản án số 21/2017/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất