Bản án số 20/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 20/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 20/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Vĩnh Yên (TAND tỉnh Vĩnh Phúc)
Số hiệu: 20/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/08/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Về tình cảm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 20/2024/HNGĐ – ST
Ngày 15 tháng 8 năm 2024
“V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vũ Th Kim Dung
2. Bà Hoàng Thị Hồng Nhung
- T phiên tòa: Hoàng Tố Uyên - T Tòa án nhân dân thành phố
Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên
tòa: Bà Đỗ Hường Dung Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sToà án nhân dân thành phố Vĩnh
Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ
số: 131/2024/TLST-HNngày 11 tháng 6 năm 2024 về việc Tranh chấp về
việc ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HNGD
ngày 11 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1982, (có mặt).
Địa chỉ: Phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1980, (vắng mặt).
Địa chỉ: Phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 5 năm 2024 lời khai tiếp theo
trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị
Hoàng Thị H trình bày:
Vnh cảm: Ch anh Nguyễn Tiến D đăng kết hôn ngày 14/3/2003
được đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, trên
cơ sở tự nguyện. Kết hôn xong chị về làm dâu sống chung cùng gia đình anh
D được khoảng 06 tháng thì vợ chồng ra riêng trên thửa đất của bố mẹ chồng
tại phường T, thành phố V. Thời gian đầu tình cảm vợ chồng bình Tờng, được
khoảng 01 năm thì anh D Tờng xuyên uống rượu, tụ tập bạn bè rồi kiếm cớ đánh
2
đập chị. Trong một thời gian dài chị phải chịu đựng anh D vì muốn các con chị
cả bố mẹ. Đến cuối tháng 12/2022 anh D đánh chị quá đau nên chị phải
báo với Công an phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên. Do không thể chịu
đựng được anh D nên tháng 01/2023 chị phải đưa các con về nhà mđẻ tại tổ
dân phố Gò Nọi, phường Định Trung, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc sinh
sống, từ đó đến nay vợ chồng sống ly hôn thân không còn quan tâm, liên lạc với
nhau trong cuộc sống.
Nay chị xác định tình cảm vợ chồng khôngn, cuộc sống chung không
hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được
nên chị kiên quyết xin được ly hôn với anh D và đề nghị Tòa án giải quyết cho
chị được ly hôn với anh D để chị sớm có điều kiện tạo lập cuộc sống mới.
* Bị đơn anh Nguyễn Tiến D vắng mặt tại phiên tòa, qtrình giải quyết v
án anh D trình bày:
Về tình cảm: Anh thừa nhận anh và chị H đăng ký kết hôn ngày 14/3/2003
tại Ủy ban nhân dân phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc,
trên cơ sở tự nguyện. Kết hôn xong chị H về làm dâu sống chung cùng gia
đình anh, được khoảng 6 tháng thì vợ chồng ra riêng nhưng vẫn chung cùng
thửa đất của bố mẹ anh. Qtrình vợ chồng chung sống xảy ra mâu thuẫn,
nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Anh thừa nhận vào cuối năm 2022
anh đánh chị H, đến đầu năm 2023 thì chị H đưa các con vnhà mẹ đẻ
phường Định Trung, thành phố Vĩnh Yên sinh sống. Từ đó đến nay vợ chồng
sống ly thân.
Nay chị H làm đơn xin ly hôn anh không ý kiến gì. Đ nghị a án
giải quyết theo yêu cầu ca ch H. Do yêu cầu ly hôn ch t một phía ch H
nên anh s không đến Tòa án m việc.
- Về con chung: Chị H anh D đều thừa nhận vợ chồng hai con
chung cháu Nguyễn Thùy D1, sinh ngày 22/7/2007 cháu Nguyễn Ngọc
Anh T, sinh ngày 28/10/2014. Hiện các con đang ở với chị H.
Ly hôn chị H nguyện vọng xin được trực tiếp trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng chai con chung không yêu cầu anh D nghĩa vụ cấp dưỡng
nuôi con chung cùng chị. Anh D trình bày đề nghị Tòa án hỏi ý kiến của các
con, nếu các con muốn ở với ai thì anh tôn trọng nguyện vọng của con, anh đồng
ý và không có ý kiến gì.
- Về tài sản chung, các khoản vay, cho vay chung công sức: Chị H
và anh D đều xác định là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/6/2024 của Nguyễn Thị L mẹ
đẻ chị H trình bày:
Chị H là con gái bà, còn anh D là con rể. Gia đình bà tổ chức kết hôn cho
chị H anh D vào tháng 3/2003. Trước khi kết hôn anh chị được tự do tìm
hiểu, không bị ai đe dọa hay ép buộc gì. Quá trình chung sống theo bà được biết
thì con gái Tờng xuyên bị anh D đánh đập, chửi bới. Nhiều lần con gái bị
anh D đánh quá nặng nên phải báo Công an phường Tích Sơn, đỉnh điểm vào
cuối năm 2022. Do không thể sống chung cùng anh D được nữa nên chị H đã
đưa các con về ở cùng gia đình bà từ đầu năm 2023 đến nay.
Vợ chồng chị H, anh D hai con chung cháu Nguyễn Thùy D1, sinh
ngày 22/7/2007 cháu Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 28/10/2014. Hiện các
con đang ở với chị H. Từ khi chị H cùng các con về ở cùng gia đình bà, mọi sinh
hoạt của mẹ con chị H đều giúp. Nay đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H
ly hôn anh D và giao cả hai con cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Bà sẽ có trách nhiệm giúp chị H trong việc chăm sóc, nuôi dạy các cháu.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc tại phiên tòa thẩm: Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên
tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, T ký và các đương sự thực hiện đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật, tư cách của
người tham gia tố tụng, thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
bảo đảm thời hạn chuẩn bị xét xử cũng như chuyển hồ cho Viện kiểm sát
nghiên cứu.
- Về giải quyết vụ án: Đnghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51,
khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 Điều 83 của Luật Hôn
nhân gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án,
xử.
+ Về hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị H được ly hôn Anh Nguyễn Tiến D.
+ Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị H được trực tiếp trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Thùy D1, sinh ngày 22/7/2007
cháu Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 28/10/2014. Anh D không phải nghĩa
vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H. Sau khi ly hôn người không trực tiếp
nuôi con quyền thăm nom, chăm c, giáo dục con chung không ai được cản
trở, gây khó khăn.
+ Về án phí sơ thẩm: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp l bị đơn anh Nguyễn
Văn D nhưng anh D vắng mặt tại Tòa lần thứ hai không có lý do nên Tòa án tiến
hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] V quan hệ tranh chấp và thẩm quyn giải quyết của Tòa án: ChHoàng
Thị H khởi kiện yêu cầu xin lyn với anh Nguyễn Tiến D có hộ khẩu Tờng trú
tại: Phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Pc. Đây tranh chấp n nhân gia
đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân n thành phố Vĩnh Yên theo
quy định tại khon 1 Điu 28, điểm a khoản 1 Điu 35, điểm a khoản 1 Điu 39 B
luật tố tụng n sự năm 2015.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và
đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên,
tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 26/10/2023 là phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân
và gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Qua xác minh tại địa phương nơi chị H, anh D đang cư trú và lời khai của
Nguyễn Thị L mẹ đẻ của chị H đều thể hiện: Quá trình chung sống vợ
chồng anh D chị H Tờng xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất
đồng quan điểm sống. Anh D Tờng xuyên uống rượu rồi hành vi đánh đập,
chửi bới chị H. Việc anh D đánh chửi chị H tổ dân phố được biết đến
nhắc nhở anh D. Hiện anh D chị H sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay.
Nay chị H làm đơn xin ly hôn anh D, chính quyền địa phương đề nghị Tòa án
giải quyết theo quy định của pháp luật. Bà L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H
được ly hôn Anh D.
t thấy: Việc chH làm đơn xin ly hôn anh D vì thấy rằng quá trình chung
sống vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh
D Tờng xuyên đánh đập, chửi bới chH. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã
triệu tập hợp lệ để hòa giải nhưng anh D đều vắng mặt. Do vậy, Tòa án không thể
tiến hành hòa giải để anh chị về đoàn tụ với nhau được. Tuy nhiên, việc chị H xin
ly hôn anh D được biết đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H nhưng anh
không đến a án để làm việc. Điều đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chH
anh D đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể o dài, mục đích
hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51 khoản 1 Điều 56 Luật
hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận u cầu xin ly hôn của chị H với anh
D.
5
[4] Về con chung: Chị H và anh D có hai con chung là cháu Nguyễn Thùy
D1, sinh ngày 22/7/2007 cháu Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 28/10/2014.
Hiện các con đang ở với chị H.
Ly hôn chị H nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục cả hai con chung không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con
chung cùng chị. Anh D trình bày đề nghị Tòa án hỏi ý kiến của các con, nếu các
con muốn với ai thì anh tôn trọng nguyện vọng của con, anh đồng ý không
có ý kiến gì.
Qua xác minh tại địa phương nơi chị H anh D trú đều thể hiện chị
H làm công nhân, còn anh D làm nghề tự do, cả hai đều đủ điều kiện nuôi
con. Qúa trình giải quyết vụ án do anh D đều vắng mặt nên các bên không thỏa
thuận được việc nuôi con, theo quy định của pháp luật khi quyết định giao con
cho một người chăm sóc, nuôi dưỡng phải xem xét đến điều kiện thực tế, căn cứ
vào quyền lợi về mọi mặt của con để quyết định giao cho bố hoặc mẹ. Trên thực
tế, cả chị H anh D đều đủ điều kiện mỗi người nuôi một con. Quá trình
Tòa án giải quyết vụ án thì cháu D1 cháu T đều đã trên 7 tuổi nên Tòa án đã
lấy lời khai của các cháu, nguyện vọng của các cháu đều xin được với chị H,
phía chị H nguyện vọng xin được nuôi cả hai con. Ngoài ra, bản thân anh D
cũng đồng ý theo ý kiến của các con. Do vậy, cần giao cho chị H được trực tiếp
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu D1 và cháu T; anh D không
phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H phù hợp.
5] Về tài sản chung, tài sản riêng, khoản vay, cho vay công sức đóng
góp: Chị H Anh D đều xác nhận không có không yêu cầu Tòa án xem xét,
giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí thẩm: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị H phải chịu 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81,
Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 147, khoản
1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lphí
Tòa án, xử.
1. V hôn nhân: Cho chị Hoàng Th H đưc ly hôn anh Nguyn Tiến D.
6
2. V con chung: Giao cho ch Hoàng Th H đưc trc tiếp trông nom, chăm sóc,
nuôi dưng, giáo dc cháu Nguyn Thùy D1, sinh ngày 22/7/2007 và cháu Nguyn Ngc
Anh T, sinh ngày 28/10/2014. Anh D không phi có nghĩa v cp dưng nuôi con chung
cùng ch H. Sau khi ly hôn ngưi không trc tiếp nuôi con có quyn thăm nom, chăm sóc,
giáo dc con chung không ai đưc cn tr, gây khó khăn.
3. Về án phí thẩm: ChHng ThH phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng) tin án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ o số tiền tạm
ng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngn đồng) theo biên lai thu tiền số:
0005925 ngày 11 tháng 6 m 2024 của Chi cục thinh ánn sự thành phốnh
Yên, tỉnh nh Pc.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngun đơn mặt quyền
kháng o bản án để u cầu xét xử phúc thẩm; bị đơn vắng mt quyền kháng
o bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc bản án được
niêm yết ng khai.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân thành phố Vĩnh Yên;
- Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên;
- Các đương sự;
- UBND phường Tích Sơn, TP Vĩnh Yên (đăng ký
kết hôn tháng 3/2003);
- Lưu HSVA; Văn phòng.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Trang Nhung
Tải về
Bản án số 20/2024/HNGĐ-ST Bản án số 20/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 20/2024/HNGĐ-ST Bản án số 20/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất