Bản án số 195/2021/HC-PT ngày 15/04/2021 của TAND cấp cao tại TP.HCM
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 195/2021/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 195/2021/HC-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 195/2021/HC-PT ngày 15/04/2021 của TAND cấp cao tại TP.HCM |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại TP.HCM |
| Số hiệu: | 195/2021/HC-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 15/04/2021 |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | - Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện là Công ty cổ phần V. Sửa toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm số 1662/2020/HC-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Tuyên xử |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂNCẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 195/2021/HC-PT
Ngày: 15-4-2021
V/v khiếu kiện quyết định hành
chính về quản lý nhà nước trong
lĩnh vực đất đai.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Minh
Các Thẩm phán: Ông Dương Tuấn Vinh
Bà Phạm Thị Duyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12, 15/4/2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số
805/2020/HCPT ngày 29/12/2020, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính
về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai”. Do Bản án hành chính sơ thẩm số
1662/2020/HC-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 309/2021/QĐ-PT ngày 22 tháng
02 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Công ty cổ phần V
Trụ sở: phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của người khởi kiện: Ông Nguyễn Anh D,
sinh năm 1956. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Phùng
Minh T, sinh năm 1965 là Luật sư của Văn phòng Luật sư Phùng Minh T thuộc
Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
2. Người bị kiện:
2.1 Cục trưởng Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh;
2.2 Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh;
2
Địa chỉ: 63 Vũ Tông Phan, phường An Phú, Quận 2, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Nam B – Phó Cục trưởng
Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền số 7724/CT-KTNB ngày
10/8/2016) (vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
- Bà Lê Linh H, sinh năm 1970 – Nhân viên Phòng Kiểm tra nội bộ - Cục
thuế Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
- Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1975 – Nhân viên Phòng Quản lý các
khoản thu từ đất (có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Chi cục thuế Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: 274 Bình Thới, Phường 10, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Việt C, sinh năm 1962; chức
vụ: Phó chi cục trưởng (Văn bản ủy quyền số 228/GUQ-CCT ngày 05/3/2021)
(vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
3.2 Chi cục trưởng Chi cục thuế Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng
mặt)
Địa chỉ: 274 Bình Thới, Phường 10, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: Bà Đặng Mỹ H1, sinh năm 1977,
bà Nguyễn Thị Thanh P, sinh năm 1980 (Văn bản số 229/GUQ-CCT ngày
05/3/2021, cả 2 có mặt)
3.3 Sở Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt, có đơn xin xét xử
vắng mặt)
Địa chỉ: 142 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.4 Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt, có
đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: 63 Lý Tự Trọng, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí
Minh.
4. Người kháng cáo: Người khởi kiện Công ty cổ phần V.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ, bản án sơ thẩm và lời trình bày của các
bên đương sự, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty xuất nhập khẩu điện tử được cổ phần hóa theo Quyết định số
56/2004/QĐ-BCN ngày 28/6/2004 của Bộ trưởng Bộ công nghiệp. Ngày
11/3/2005 Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng
nhận đang ký kinh doanh lần đầu số 4103003182 cho Công ty cổ phần xuất nhập
khẩu Điện tử Việt. Ngày 28/5/2012 Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Điện tử
Việt đổi tên thành Công ty cổ phần V (mã số doanh nghiệp 0301464781). Công
3
ty là chủ sở hữu nhà, xưởng tại địa chỉ 188 Lạc Long Quân, Phường 3, Quận 11,
Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy phép công nhận quyền sở hữu nhà số
7191/GP-CS do Sở Nhà đất cấp ngày 20/12/1991.
Ngày 10/6/2002, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết
định số 2483/QĐ-UB về việc cho Công ty Xuất nhập khẩu điện tử thuê đất, thời
gian thuê từ ngày 25/10/1999 đến khi Nhà nước thực hiện di dời nhà xưởng ra
ngoại thành. Ngày 18/7/2002 Công ty xuất nhập khẩu điện tử và Sở địa chính –
Nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh ký Hợp đồng thuê đất số 8663/HĐTĐ-GTĐ,
với nội dung: Diện tích thuê đất là 10.851m
2
; giá thuê đất là 9.750 đồng/m
2
/năm,
tiền thuê đất được trả theo phương thứ định kỳ hàng năm, nộp tại Chi cục thuế
Quận 11; Thời hạn thuê đất từ ngày 25/10/1999, đến khi Nhà nước thực hiện di
dời nhà xưởng ra ngoại thành.
Từ năm 2004 đến năm 2015, hằng năm Công ty đều nộp tiền thuê đất tại
Chi cục thuế Quận 11 đầy đủ theo các Thông báo nộp tiền thuê đất do Chi cục
thuế Quận 11 phát hành. Tuy nhiên, ngày 27/10/2015 Công ty nhận được Thông
báo số 9919/TB-CT của Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi là
Thông báo số 9919) về đơn giá thuê đất, thuê mặt nước có nội dung truy thu tiền
thuê đất những năm về trước cụ thể:
- Trước ngày 01/01/2006: Chi cục thuế Quận 11 ban hành thông báo tiền
thuê đất theo quy định.
- Đơn giá thuê đất từ ngày 01/01/2006 đến ngày 31/12/2010 là 36.000
đồng/m
2
/năm.
- Đơn giá thuê đất từ ngày 01/01/2011 đến ngày 31/12/2015:
+ Từ ngày 01/01/2011 đến ngày 30/6/2014 là 200.640 đồng/m
2
/năm.
+ Từ ngày 01/7/2014 đến ngày 31/12/2015 là 147.840 đồng/m
2
/năm.
Ngày 07/01/2016, Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Thông
báo 238/CT-KTTĐ (sau đây gọi là Thông báo 238) về việc đính chính Thông
báo số 9919 điều chỉnh đơn giá thuê đất từ ngày 01/01/2011 đến 30/6/2014 là
158.400 đồng/m
2
/năm.
Không đồng ý với các thông báo trên, Công ty đã khiếu nại đến Cục
trưởng Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 25/01/2016, Cục trưởng Cục
thuế Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 06/QĐ-CT-KN (sau đây
gọi là Quyết định số 06) về việc giải quyết khiếu nại của Công ty với nội dung:
Sửa đổi một phần Thông báo số 9919, xác định đơn giá thuê đất từ ngày
01/01/2011 đến 30/6/2014 là 158.400 đồng /m
2
/năm, các nội dung khác của
Thông báo số 9919 được giữ nguyên.
Nhận thấy, việc Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Thông báo
số 9919, Thông báo số 238 xác định lại giá tiền thuê đất tăng 440% và truy thu
tiền thuê đất của 09 năm về trước là trái qui định và việc giải quyết khiếu nại của
Cục trưởng Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh là không đúng các qui định của
4
pháp luật, nay Công ty khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu hủy các Thông báo
số 9919, 238 và Quyết định số 06 với các lý do sau:
- Trường hợp của Công ty không thuộc đối tượng điều chỉnh theo điểm b
khoản 4 Điều 32 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ
vì: trong các Thông báo tạm thu tiền thuê đất từ năm 2002 đến năm 2005 là đều
có thông báo tạm thu tiền thuê đất. Đến năm 2006 là thông báo nộp tiền thuê đất
năm 2006 là không còn tạm thu mà có đã có điều chỉnh. Từ năm 2006 đến năm
2014 toàn bộ là Thông báo nộp tiền thuê đất theo năm. Đến năm 2015 Cục thuế
có Thông báo số 9919 điều chỉnh đơn giá và truy thu tiền thuê đất là không
chính xác.
- Đối tượng áp dụng của Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày
14/11/2005 của Chính phủ không áp dụng với Công ty mà chỉ áp dụng với
trường hợp tạm thu. Công ty đã đóng xong tiền thuê đất của các năm trước đây.
- Hợp đồng thuê đất 05 năm có điều chỉnh nhưng Công ty từ năm 2006
đã có điều chỉnh đến năm 2015 mới tạm nộp.
- Công ty đã đóng tiền thuê đất và được Cục thuế quyết toán thuế. Hồi tố
thu tiền thuê đất không có lợi cho doanh nghiệp. Ảnh hưởng đến việc quyết toán
thuế của doanh nghiệp.
- Văn bản số 5350/CCT-TBTK ngày 29/08/2016 của Chi cục thuế Quận
11: “Nhằm kịp thời động viên và đảm bảo số thu cho ngân sách nhà nước nên từ
năm 2006 đến năm 2010, Chi cục Thuế Quận 11 đã điều chỉnh đơn giá thuê đất
(Điều chỉnh không đúng thẩm quyền) ….. và ban hành Thông báo thu tiền thuê
đất hàng năm” “Từ năm 2011 trở đi thì Chi cục Thuế Quận 11 thông báo TẠM
THU theo đơn giá cũ……. Như vậy, Chi cục thuế Quận 11 đã thừa nhận có điều
chỉnh đơn giá thuê đất cho khu đất 188 Lạc Long Quân, Phường 3, Quận 11.
Tuy nhiên Chi cục thuế Quận 11 đã nhầm lẫn khi xác nhận từ năm 2011 đến
năm 2014 ra thông báo tạm thu tiền thuê đất hàng năm. Thực tế các thông báo
thu tiền thuê đất không có chữ tạm thu (trên các Thông báo thu tiền thuê đất từ
năm 2006 đến năm 2014 đều là Thông báo thu tiền thuê đất chính thức không có
chữ tạm thu).
Đối với ý kiến của Sở Tài nguyên và Môi trường trong Công văn số
13076/STNMT-QLĐ ngày 05/12/2016 Công ty có ý kiến như sau:
- Ngày 11/4/2006 ngay sau khi hoàn thành thủ tục cổ phần hóa đổi tên
từ Công ty Xuất nhập khẩu Điện tử thành pháp nhân mới là Công ty cổ phần
Xuất nhập khẩu điện tử Việt, công ty cổ phần XNK điện tử Việt (V) đã phát
hành công văn số 84/XNK-TCHC gửi Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố
Hồ Chí Minh làm thủ tục đổi tên pháp nhân mới và xin cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho khu đất tại số 188 Lạc Long Quân, Phường 3, Quận 11.
- Ngày 18/9/2006 Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh
ban hành công văn số 8815/TNMT-ĐKKTĐ gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường
5
xin ý kiến về việc Công ty cổ phần XNK điện tử Việt (V) xin cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất;
- Ngày 31/10/2006 Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Công văn số
4776/BTNMT-ĐĐ gửi Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh
phúc đáp Công văn số 8815/TNMT-ĐKKTĐ ngày 18/9/2006 của Sở Tài nguyên
và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường: “Về nguồn vốn mua 02 khu nhà
đất mà Công ty XNK Điện tử đã trả là vốn tự có của doanh nghiệp không thuộc
ngân sách nhà nước là đủ cơ sở pháp lý để lập thủ tục cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho Công ty cổ phần xuất nhập khẩu điện tử Việt”
- Ngày 08/11/2006 Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu điện tử Việt – V
nộp Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Biên nhận hồ sơ số
377/BN-ĐKKTĐ do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh cấp
ngày 08/11/2006;
- Ngày 07/12/2006 Sở Tài nguyên và Môi trường ban hành công văn số
11731/TNMT-VP yêu cầu Công ty bổ sung nội dung “mục đích sử dụng đất”
vào Đơn xin cấp giấy chứng nhận và gửi lại cho Sở Tài nguyên và Môi trường,
yêu cầu này Công ty thực hiện điều chỉnh mục đích sử dụng đất vào Đơn xin cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngay trong ngày 08/12/2006 và nộp lại cho
bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả.
- Ngày 21/5/ 2007 Sở Tài nguyên và Môi trường ban hành văn bản số
3824/TNMT-ĐKKTĐ gửi Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xác định
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu điện tử Việt đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giao cho
các Sở ngành liên quan xử lý các việc tiếp theo. Cụ thể: “Giao Sở Tài chính chủ
trì thẩm định giá trị quyền sử dụng đất. Nếu kết quả thẩm định giá trị quyền sử
dụng đất của Sở Tài chính được đơn vị sử dụng đất có văn bản chấp thuận thì
Sở Tài chính trình Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt”.
Tuy nhiên, từ khi nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho khu đất tại số 188 Lạc Long Quân, nhiều lần đại diện Công ty liên hệ Sở Tài
nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh thì được trả lời: Hồ sơ xin cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tên và địa chỉ của Công ty, khi nào có
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ gửi thư
mời Công ty đến nhận và cho đến nay Công ty vẫn chưa nhận được Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo tên pháp nhân mới. Cho đến nay, Sở Tài chính vẫn
chưa gửi kết quả về giá trị quyền sử dụng đất tại khu đất số 188 Lạc Long Quân,
do vậy Sở Tài nguyên và Môi trường chưa thể ban hành quyết định và ký lại hợp
đồng thuê đất.
Như vậy, ngay sau khi Công ty Xuất nhập khẩu Điện tử được cổ phần
hóa thành Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Điện tử Việt – V; Công ty cổ phần V
thì Công ty cổ phần đã xúc tiến làm thủ tục với cơ quan Sở Tài nguyên và Môi
trường để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê đất cho
khu đất số 188 Lạc Long Quân, Phường 3, Quận 11 theo tên pháp nhân mới.
6
Về Công văn số 4905/STC-BVG ngày 07/7/2016 của Sở Tài chính, Công
ty có ý kiến như sau:
- Quyết định số 107/2006/QĐ-UBND ngày 17/7/2006 của UBND thành
phố Hồ Chí Minh về đơn giá thuê đất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, theo
đó tại khoản 1 và 2, Điều 6 quy định về trình tự thủ tục tổ chức thực hiện như
sau:
Đối với trường hợp đang sử dụng đất thuê trước ngày quyết định này có
hiệu lực mà thuộc trường hợp phải xác định lại đơn giá thuê đất theo quy định:
Giao Cục thuế thành phố hoặc Chi cục Thuế quận, huyện căn cứ đơn giá thuê
đất hiện hành tổng hợp báo cáo Sở Tài chính hoặc Ủy ban nhân dân quận, huyện
để quyết định điều chỉnh đơn giá thuê đất. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Giám đốc Sở Tài chính hoặc Ủy ban nhân
dân quận, huyện phải xác định đơn giá thuê đất theo quy định.
Tuy nhiên, Sở Tài chính không nhận được ý kiến của Sở Tài nguyên và
Môi trường nên chưa đủ cơ sở để điều chỉnh đơn giá thuê đất của Công ty cổ
phần V tại khu đất số 188 Lạc Long Quân, phường 03, quận 11. Đối với công
văn số 1287/CCT-TBTK ngày 13/8/2012 của Chi cục thuế Quận 11, bộ phận
văn thư đến của Văn phòng Sở đã rà soát và xác nhận không nhận được công
văn số 1287/CCT-TBTK của Chi cục Thuế Quận 11;
Như vậy, Sở Tài chính chưa thực hiện tinh thần Công văn số 3824 ngày
21/05/2007 và gửi kết quả cho Sở Tài nguyên và Môi trường để xác định giá trị
quyền sử dụng đất, trách nhiệm này hoàn toàn thuộc về Cục thuế Thành phố Hồ
Chí Minh – Sở Tài chính – Sở Tài nguyên và Môi trường và Chi cục thuế Quận 11.
Người bị kiện Cục trưởng Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh và Cục thuế
Thành phố Hồ Chí Minh có văn bản trình bày:
Ngày 10/6/2002, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành
Quyết định số 2483/QĐ-UB về việc cho Công ty Xuất nhập khẩu điện tử thuê
đất tại Phường 3, Quận 11.
Tại Điều 2 của Hợp đồng thuê đất số 8663/HĐTĐ-GTĐ ngày 18/7/2002
quy định về phương thức trả tiền thuê đất: “Số tiền thuê đất được trả theo
phương thức: Công ty Xuất nhập khẩu điện tử sẽ trả tiền thuê đất theo định kỳ
hàng năm.”.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày
14/11/2005 của Chính phủ:“Giám đốc Sở Tài chính quyết định đơn giá thuê đất
cho từng dự án cụ thể đối với trường hợp tổ chức kinh tế, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài , tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất.”
Tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của
Chính phủ: “Dự án thuê đất, thuê mặt nước trước ngày 01 tháng 01 năm 2006
mà nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước hàng năm, thì nay xác định lại đơn giá
thuê theo quy định tại Điều 4, Điều 5, Điều 6 Nghị định này và được áp dụng kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2006.".

7
Căn cứ khoản 1 Điều 14 Nghị định 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ, khoản 3 Điều 15 Nghị định 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ: “Dự án thuê đất, thuê mặt nước trả tiền thuê hàng năm không thuộc
trường hợp quy định tại Khoản 7 Điều này mà thời điểm điều chỉnh đơn giá thuê
đất, thuê mặt nước trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng chưa
thực hiện điều chỉnh thì được thực hiện điều chỉnh theo quy định tại Nghị định
này cho thời gian thuê đất còn lại. Đối với thời gian đã sử dụng đất nhưng chưa
thực hiện điều chỉnh đơn giá thuê đất thì thực hiện điều chỉnh theo chính sách,
pháp luật của từng thời kỳ để thực hiện thanh, quyết toán tiền thuê đất.”
Tại khoản 4 Điều 32 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ:“Đối với trường hợp người sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cho thuê đất trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành
nhưng chưa thực hiện điều chỉnh đơn giá thuê đất theo quy định tại Nghị định số
142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005, Nghị định số 121/2010/NĐ-CP
ngày 30 tháng 12 năm 2010 và nộp tiền thuê đất hàng năm theo thông báo tạm
nộp của cơ quan thuế trước thi thực hiện xử lý như sau:
a) Trường hợp tạm nộp tiền thuê đất hàng năm theo chính sách và giá
đất tại thời điểm ban hành Thông báo tạm nộp tiền thuê đất thì được thực hiện
quyết toán số tiền thuê đất theo số đã tạm nộp.
b) Trường hợp tạm nộp tiền thuê đất hàng năm theo chính sách và giá
đất trước ngày Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005 có
hiệu lực thi hành và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 7 Điều 15 Nghị
định này thì phải thực hiện điều chỉnh đơn giá thuê đất, quyết toán số tiền thuê
đất đã tạm nộp và truy thu số tiền thuê đất phải nộp theo quy định.
c) Cơ quan thuế xác định và điều chỉnh đơn giá thuê đất đối với các
trường hợp quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản này theo quy định tại Nghị định
này và áp dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2014.".
Do đó, hồ sơ thuê đất hàng năm (thuê trước ngày 01/01/2006) của Công
ty cổ phần V nhưng chưa điều chỉnh đơn giá thuê đất thì thuộc trường hợp phải
điều chỉnh lại đơn giá thuê đất theo quy định pháp luật.
Quy định pháp luật về trách nhiệm của cơ quan thuế:
- Tại khoản 2 và khoản 3 Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014
của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính phủ:
“2. Đối với trường hợp điều chỉnh đơn giá thuê đất khi hết chu kỳ ổn định
đơn giá thuê đất.
Khi đến thời điểm phải điều chỉnh lại đơn giá thuê đất theo quy định tại
Khoản 1 Điều 14 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP; căn cứ giá đất tại Bảng giá đất,
hệ số điều chỉnh giá đất, mức tỷ lệ (%) do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định,
cơ quan thuế xác định lại đơn giá thuê đất và thông báo số tiền thuê đất phải
nộp hàng năm của chu kỳ ổn định tiếp theo cho người thuê đất.

8
3. Hàng năm cơ quan thuế thông báo nộp tiền thuê đất trực tiếp cho
người phải nộp tiền thuê đất. Trường hợp căn cứ tính tiền thuê đất có thay đổi
thì phải xác định lại tiền thuê đất theo quy định tại Nghị định số 46/2014/NĐ-CP
và hướng dẫn tại Thông tư này, gửi thông báo cho người thuê đất thực hiện.”.
Quy định pháp luật về thẩm quyền xác định đơn giá thuê đất:
- Thời gian từ ngày 01/01/2006 đến trước ngày 01/7/2014: Sở Tài chính
xác định đơn giá thuê đất được quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số
142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt
nước quy định:
“1. Đơn giá thuê đất của mỗi dự án được ổn định 05 năm. Hết thời hạn
ổn định, Giám đốc Sở Tài chính, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện điều
chỉnh đơn giá thuê đất áp dụng cho thời hạn tiếp theo.”.
Và quy định tại khoản 1 Điều 5 Quyết định số 107/2006/QĐ-UBND
ngày 17/7/2006 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về đơn giá thuê
đất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, ngày 14/12/2010, Chi cục thuế Quận 11 ban hành Công văn số
2400/CCT-TBTK gửi Sở Tài chính và Sở Tài nguyên và Môi trường đề nghị điều
chỉnh đơn giá thuê đất nhưng cơ quan chức năng chưa xác định đơn giá thuê đất
nên Chi cục thuế tạm thu tiền thuê đất theo đơn giá của năm liền kề trước.
Ngày 13/8/2012, Chi cục thuế Quận 11 ban hành Công văn số
1287/CCT-TBTK gửi Sở Tài chính đề nghị điều chỉnh đơn giá thuê đất nhưng
Cơ quan chức năng vẫn chưa xác định đơn giá thuê đất.
- Thời gian từ ngày 01/7/2014 trở đi:Cục Thuế thành phố xác định đơn
giá thuê đất được quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP
ngày 15/5/2014 của Chính phủ:
“1. Căn cứ giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, Bảng
giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất và mức tỷ lệ phần trăm (%) để xác định đơn giá
thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm, đơn giá thuê đất trả tiền thuê đất một lần
cho cả thời gian thuê, Cục trưởng Cục thuế xác định đơn giá thuê đất để tính
tiền thuê đất đối với tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Chi cục trưởng Chi cục thuế xác định đơn giá
thuê đất để tính tiền thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân.”.
Và quy định tại điểm b khoản 1 Điều 5 Quyết định số 50/2014/QĐ-
UBND ngày 24/12/2014 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về đơn
giá thuê đất, thuê mặt nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với các khu đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm trước ngày 01/7/2014
mà chưa xác định đơn giá thuê đất thì Cục Thuế thành phố xác định (đã được Ủy
ban nhân dân thành phố chấp thuận tại Công văn số 6216/UBND-ĐTMT ngày
26/11/2014 về xác định đơn giá thuê đất kể từ khi Luật đất đai năm 2013 có hiệu
lực thi hành trên cơ sở Công văn số 9483/CT-STC-STN&MT ngày 07/11/2014 của
Liên Sở Tài chính- Sở Tài nguyên và Môi trường- Cục Thuế trình).
9
Về điều chỉnh đơn giá và quyết toán tiền thuê đất tại khu đất 188 đường
Lạc Long Quân, phường 3, quận 11 do Công ty cổ phần V thuê:
Mặc dù Chi cục thuế Quận 11 có công văn đề nghị nhưng Sở Tài chính
chưa kịp thời xác định điều chỉnh đơn giá thuê đất theo quy định. Nhằm kịp thời
động viên và đảm bảo số thu cho ngân sách nhà nước nên từ năm 2006 đến năm
2010 (05 năm), Chi cục thuế Quận 11 đã điều chỉnh đơn giá thuê đất (điều chỉnh
không đúng thẩm quyền) là 36.000 đồng/m
2
/năm và ban hành thông báo thu tiền
thuê đất hàng năm.
Từ năm 2011 trở đi thì Chi cục thuế Quận 11 thông báo tạm thu theo đơn
giá cũ là 36.000 đồng/m
2
/năm được quy định tại Điều 4 Thông tư số
94/2011/TT-BTC ngày 29/6/2011 của Bộ Tài chính: “Hết thời gian ổn định (05
năm) nhưng do nguyên nhân khách quan chưa điều chỉnh được đơn giá thuê đất
thì tiếp tục áp dụng đơn giá thuê đất của kỳ ổn định trước để tạm nộp tiền thuê
đất cho thời gian đó; khi cơ quan có thẩm quyền thực hiện điều chỉnh đơn giá
thuê đất của từng lần điều chỉnh thì áp dụng chính sách và giá đất thu tiền thuê
đất tương ứng tại từng lần điều chỉnh đồng thời truy thu tiền thuê đất nộp còn
thiếu của thời gian tạm nộp (nếu có).".
Khi thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ theo quy định đã trình bày ở
trên, Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh đã điều chỉnh lại đơn giá thuê đất tại
Thông báo số 9919 và Thông báo số 238: Từ ngày 01/01/2006 đến ngày
31/12/2010 là 36.000 đồng/m
2
/năm; Từ ngày 01/01/2011 đến ngày 30/6/2014 là
158.400 đồng/m
2
/năm; Từ ngày 01/7/2014 đến ngày 31/12/2015 là 147.840
đồng/m
2
/năm.
Như vậy, mặc dù Chi cục thuế Quận 11 điều chỉnh đơn giá không đúng
thẩm quyền nhưng phù hợp với đơn giá do Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh
ban hành cho thời kỳ ổn định 05 năm từ năm 2006 đến năm 2010 (là 36.000
đồng/m
2
/năm). Khi quyết toán tiền thuê đất cho thời gian 05 năm trên, Công ty
không phải nộp thêm nhiều mà chỉ nộp số tiền thuê đất còn thiếu từ năm 2011
trở đi theo quy định.
Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy:
- Trong khi cơ quan chức năng chưa điều chỉnh đơn giá thuê đất theo
quy định, để kịp thời động viên số thu cho ngân sách nhà nước, hàng năm Chi
cục thuế Quận 11 thông báo tạm thu tiền thuê đất để Công ty thực hiện nghĩa vụ
tài chính đối với nhà nước là đúng chức năng, nhiệm vụ được giao.
- Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Thông báo số 9919, Thông
báo số 238 và Quyết định số 06 là đúng quy định pháp luật.
- Trong quá trình thực hiện quyết định cho thuê đất và Hợp đồng thuê
đất, Công ty phải tự kê khai, đồng thời phải liên hệ cơ quan có thẩm quyền xác
định lại đơn giá thuê đất theo quy định pháp luật nhưng chưa thực hiện. Do đó,
Công ty phải có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ tài chính về tiền thuê đất còn thiếu
tại khu đất thuê nêu trên theo quy định.
10
Đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của Công ty, công nhận Thông
báo số 9919, Thông báo số 238 và Quyết định số 06.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục thuế Quận 11 trình bày:
Chi cục thuế Quận 11 có Công văn đề nghị nhưng Sở Tài chính chưa kịp
thời xác định điều chỉnh đơn giá thuê đất theo quy định. Nhằm kịp thời động
viên và đảm bảo số thu cho ngân sách nhà nước nên từ năm 2006 đến năm 2010
(05 năm), Chi cục thuế Quận 11 đã điều chỉnh đơn giá thuê đất (điều chỉnh
không đúng thẩm quyền) là 36.000 đồng/m
2
/năm và ban hành thông báo thu tiền
thuê đất hàng năm. Chi cục thế Quận 11 thừa nhận việc chi cục thuế tự ý điều
chỉnh đơn giá thuê đất là trái thẩm quyền mặc dù sau này giá điều chỉnh có phù
hợp với mức thu giai đoạn năm 2006-2010.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài chính Thành phố Hồ Chí
Minh có văn bản trình bày:
Kể từ ngày 01/7/2014, cơ quan có trách nhiệm xác định đơn giá thuê đất
và điều chỉnh đơn gia thuê đất là cơ quan thuế.Về các nội dung khiếu nại của
Công ty: Sở Tài chính không có ý kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường
Thành phố Hồ Chí Minh có văn bản trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty, Sở Tài nguyên và Môi trường
nhận thấy việc xác định đơn giá thuê đất thuộc chức năng, thẩm quyền của Cục
thuế Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó Sở Tài nguyên và Môi trường không có ý
kiến về yêu cầu khởi kiện của Công ty.Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ hướng
dẫn Công ty thực hiện các thủ tục sử dụng đất điều chỉnh tên đơn vị sử dụng đất
từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần tại khu đất nêu trên theo quy định
của Luật Đất đai năm 2013.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 1662/2020/HC-ST ngày 29/9/2020
của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 30 của Luật Tố tụng hành
chính năm 2010;
Căn cứ khoản 1, khoản 2Điều 3, khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32,
điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều
206 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9 Nghị định số
142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ;
Căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 3 Điều 15, khoản 4 Điều 32 Nghị định
số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày
27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án;
Căn cứ khoản 1 Điều 32, khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
11
Tuyên xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần V về hủy Thông báo số
9919/TB-CT ngày 27/10/2015 về đơn giá thuê đất, thuê mặt nước của Cục thuế
Thành phố Hồ Chí Minh; Thông báo số 238/CT-KTTĐ ngày 07/01/2016 về việc
đính chính Thông báo về đơn giá thuê đất, thuê mặt nước số 9919/TB-CT ngày
27/10/2015 của Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 06/QĐ-CT-
KN ngày 25/01/2016 của Cục trưởng Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh về việc
giải quyết khiếu nại của Công ty cổ phần V.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo theo
quy định của pháp luật.
Ngày 08/10/2020, người khởi kiện Công ty cổ phần V có đơn kháng cáo
toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền, luật sư bảo vệ
quyền và lợi ích của người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày:
Căn cứ ban hành các Quyết định bị kiện không đúng, vì Công ty không thuộc đối
tượng điều chỉnh theo điểm b khoản 4 Điều 32 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP
ngày 15/5/2014 của Chính phủ mà thuộc khoản 3 Điều 32 Nghị định này vì Công
ty chưa được Nhà nước cho thuê đất. Đơn giá thuê đất đã được điều chỉnh 03 lần,
Công ty đã nộp tiền thuê đất hàng năm. Thông báo số 9919/TB-CT và Thông
báo số 238/TB-CT đính chính thông báo số 9919 về đơn giá thuê đất và truy thu
tiền thuê đất những năm về trước đối với Công ty vi phạm Nghị định số
46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 và Thông tư 77/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014.
Đề nghị Hội đồng xét xử sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của Công ty.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của người khởi kiện đúng hạn
luật định, đề nghị được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa cho đến
trước khi nghị án, Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo
quy định, các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình do
Luật Tố tụng hành chính quy định. Về nội dung: thẩm quyền quyết định đơn giá
thuê đất trong thời kỳ 01/01/2006 đến năm 01/7/2014 là của Giám đốc Sở Tài
chính Thành phố Hồ Chí Minh, việc Chi cục thuế Quận 11 đã tự ý thực hiện
điều chỉnh đơn giá thuê đất đối với trường hợp của Công ty từ năm 2006 đến
năm 2014 là không đúng, vì trường hợp của Công ty là thuê, trả tiền thuê đất
hàng năm trước ngày 01/7/2014 mà chưa xác định đơn giá thuê đất thì Cục Thuế
thành phố xác định. Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh xác định hồ sơ thuê đất
hàng năm (thuê trước ngày 01/01/2006) của Công ty chưa điều chỉnh đơn giá
thuê đất nên thuộc trường hợp phải điều chỉnh lại đơn giá thuê đất theo quy định
tại khoản 4 Điều 32 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính
phủ là có căn cứ. Hơn nữa, Công ty phải có nghĩa vụ tự kê khai, liên hệ cơ quan
có thẩm quyền xác định lại đơn giá thuê đất theo quy định pháp luật nhưng Công
ty chưa thực hiện. Đồng thời, người khởi kiện có kháng cáo nhưng không có tài
12
liệu, chứng cứ mới để Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét, đề nghị bác
kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa,
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, các quy định
pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của người khởi kiện là Công ty
Xuất nhập khẩu điện tử nộp đúng thời hạn, hợp lệ nên được xem xét theo trình
tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện và đại diện
theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài chính Thành
phố Hồ Chí Minh, Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh có đơn
đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính, Hội
đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự trên.
[2] Xét kháng cáo của người khởi kiện:
[2.1] Về tính hợp pháp, có căn cứ của Thông báo số 9919, Thông báo
số 238 bị kiện:
- Về thẩm quyền ban hành các thông báo bị kiện:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và lời thừa nhận của các đương sự thể
hiện: Ngày 10/6/2002, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định
số 2483/QĐ-UB về việc cho Công ty Xuất nhập khẩu điện tử thuê đất, thời gian
thuê từ ngày 25/10/1999 đến khi Nhà nước thực hiện di dời nhà xưởng ra ngoại
thành. Ngày 18/7/2002 Công ty xuất nhập khẩu điện tử và Sở địa chính – Nhà
đất Thành phố Hồ Chí Minh ký Hợp đồng thuê đất số 8663/HĐTĐ-GTĐ, với
nội dung: Diện tích thuê đất là 10.851m
2
; giá thuê đất là 9.750 đồng/m
2
/năm,
tiền thuê đất được trả theo phương thức định kỳ hàng năm, nộp tại Chi cục thuế
Quận 11; Thời hạn thuê đất từ ngày 25/10/1999, đến khi Nhà nước thực hiện di
dời nhà xưởng ra ngoại thành.
Công ty xuất nhập khẩu điện tử được cổ phần hóa theo Quyết định số
56/2004/Quyết định số-BCN ngày 28/6/2004 của Bộ trưởng Bộ công nghiệp.
Ngày 11/3/2005 Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng
nhận đang ký kinh doanh lần đầu số 4103003182 cho Công ty cổ phần xuất nhập
khẩu Điện tử Việt. Ngày 28/5/2012 Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Điện tử
Việt đổi tên thành Công ty cổ phần V (mã số doanh nghiệp 0301464781). Các
lần thay đổi tên doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp, công ty vẫn sử dụng phần
đất có địa chỉ nói trên, nhưng chưa ký lại hợp đồng thuê đất.
Như vậy, Công ty V là người sử dụng đất được Nhà nước cho thuê đất
nên phải trả tiền thuê đất theo quy định của Luật đất đai, Nghị định số
142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 và khoản 1 Điều 3 Nghị định 46/2014/NĐ-
CP qui định “Người sử dụng đất được Nhà nước cho thuê đất phải nộp tiền thuê

13
đất” và thuộc trường hợp trả tiền thuê đất hàng năm theo quy định tại khoản 1
Điều 2 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014. Lời khai nại của luật sư
bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người khởi kiện cho rằng công ty không phải
kế thừa quyền, nghĩa vụ của các công ty trước đây nên không phải nộp tiền thuê
đất theo quy định của Nghị định số 46 là không có căn cứ.
Tòa án cấp sơ thẩm nhận định việc Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh
ban hành Thông báo số 9919, Thông báo số 238 là đúng thẩm quyền theo quy
định tại Luật quản lý Thuế 2006, Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày
14/11/2005, khoản 1 Điều 11 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ; khoản 2 và khoản 3 Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014
của Bộ Tài chính là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về trình tự, thủ tục và căn cứ pháp luật áp dụng để ban hành các
thông báo bị kiện:
Theo các quy định pháp luật về thẩm quyền của các cơ quan xác định
đơn giá thuê đất, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Từ ngày 01/01/2006 đến trước ngày 01/7/2014: Tại khoản 1 Điều 8
Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu tiền thuê
đất, thuê mặt nước quy định: “Đơn giá thuê đất của mỗi dự án được ổn định 05
năm. Hết thời hạn ổn định, Giám đốc Sở Tài chính, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp huyện điều chỉnh đơn giá thuê đất áp dụng cho thời hạn tiếp theo”. Mặt
khác, tại khoản 1 Điều 5 Quyết định số 107/2006/QĐ-UBND ngày 17/7/2006
của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về đơn giá thuê đất trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh, quy định “Thẩm quyền quyết định đơn giá cho từng
trường hợp thuê đất: 1. Giám đốc Sở Tài chính căn cứ vào khung giá thuê đất
được quy định tại Quyết định này để quyết định đơn giá thuê đất cho từng dự án
cụ thể đối với trường hợp tổ chức kinh tế; người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất (quy định tại điểm a Khoản 2 Điều
6 Nghị định số 142/2005/NĐ-CP của Chính phủ)”.
Cho nên việc Cục thuế quyết định đơn giá thuê đất trong các thông báo
nói trên do tự mình ấn định mà không dựa trên đơn giá thuê đất do Sở Tài chính
điều chỉnh là trái với quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 142/2005/NĐ-
CP, Thông tư số 120/2005/TT-BTC ngày 30/12/2005 của Bộ Tài chính hướng
dẫn thực hiện Nghị định số 142/2005/NĐ-CP, Thông tư số 141/2007/TT-BTC
ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số
120/2005/TT-BTC và khoản 1 Điều 5 Quyết định số 107/2006/QĐ-UBND ngày
17/7/2006 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về đơn giá thuê đất trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
- Từ sau ngày 01/07/2014 đến 31/12/2015: Tại khoản 1 Điều 11 Nghị
định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định:“Căn cứ giá
đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, Bảng giá đất, hệ số điều
chỉnh giá đất và mức tỷ lệ phần trăm (%) để xác định đơn giá thuê đất trả tiền
thuê đất hàng năm, đơn giá thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian

14
thuê, Cục trưởng Cục thuế xác định đơn giá thuê đất để tính tiền thuê đất đối
với tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài; Chi cục trưởng Chi cục thuế xác định đơn giá thuê đất để tính tiền
thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân”.
Tại khoản 2 Điều 7, Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của
Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính phủ có quy định:“…Khi đến thời điểm phải điều chỉnh lại
đơn giá thuê đất theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định số 46/2014/NĐ-
CP; căn cứ giá đất tại Bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất, mức tỷ lệ (%) do
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, cơ quan thuế xác định lại đơn giá thuê đất
và thông báo số tiền thuê đất phải nộp hàng năm của chu kỳ ổn định tiếp theo
cho người thuê đất”.
Tại điểm d, khoản 1 Điều 3 của Thông tư 77/2014/TT-BTC ngày
16/6/2014 có quy định: “d) Hệ số điều chỉnh giá đất để xác định giá đất tính
thu tiền thuê đất do Sở Tài chính chủ trì xác định theo từng khu vực, tuyến
đường, vị trí tương ứng với từng mục đích sử dụng đất ph hợp với thị trường và
điều kiện phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương, trình Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh ban hành hàng năm sau khi xin ý kiến của Thường trực Hội đồng nhân dân
cùng cấp...”.
Hội đồng xét xử nhân thấy việc Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh ban
hành Thông báo số 9919/TB-CT và Thông báo số 238/TB-CT đính chính thông
báo số 9919 về đơn giá thuê đất, thuê mặt nước có nội dung từ ngày 01/7/2014
đến ngày 31/12/2015 với giá tự ấn định là 147.840 đồng/m
2
/năm và truy thu tiền
thuê đất những năm về trước đối với công ty V là đã không dựa trên hệ số điều
chỉnh giá đất để xác định giá đất tính thu tiền thuê đất do Sở Tài chính chủ trì
xác định, không thông báo cho người thuê đất khi đến thời điểm phải điều chỉnh
là vi phạm các quy định của Nghị định 46 và Thông tư 77 nêu trên.
Mặt khác, trong quá trình ban hành thông báo, do người thuê đất có ý
kiến khác với Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh, trường hợp này lẽ ra Cục thuế
phải căn cứ khoản 2 Điều 11 Nghị định số 46, Thông tư 77 và Quyết định số 50
của Chủ tịch UBND Tp. Hồ Chí Minh, cụ thể “Trường hợp có ý kiến khác nhau
về đơn giá thuê đất giữa người thuê, đất và cơ quan nhà nước có thẩm quyền
xác định đơn giá thuê đất thì quyết định giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh là quyết định cuối cng” để báo cáo cho Chủ tịch UBND Tp. Hồ
Chí Minh là bên cho thuê đất xem xét, quyết định nhưng Cục thuế không thực
hiện là vi phạm trình tự, thủ tục và căn cứ pháp luật áp dụng như đã nhận định
trên.
Hội đồng xét xử xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận quan điểm
của Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng ngày 14/12/2010, Chi cục thuế
Quận 11 ban hành Công văn số 2400/CCT-TBTK gửi Sở Tài chính và Sở Tài
nguyên và Môi trường đề nghị điều chỉnh đơn giá thuê đất trong khi cơ quan
chức năng chưa điều chỉnh đơn giá thuê đất theo quy định, để kịp thời động viên
15
số thu cho ngân sách nhà nước, hàng năm Chi cục thuế Quận 11 thông báo tạm
thu tiền thuê đất để Công ty thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước là
đúng chức năng, nhiệm vụ được giao... là không căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ
và thẩm quyền của từng cơ quan trong việc điều chỉnh đơn giá đất. Cụ thể tại
khoản 1 Điều 11 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ
quy định: “Chi cục trưởng Chi cục thuế xác định đơn giá thuê đất để tính tiền
thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân”, Chi cục thuế Quận 11 tạm thu tiền của tổ
chức kinh tế không dựa trên quy định phải có Đơn giá điều chỉnh của Sở Tài
chính là trái thẩm quyền, trường hợp này nếu nhận thấy đơn giá cho thuê đất
không phù hợp thì phải báo cáo cho Cục trưởng Cục thuế để làm việc, phối hợp
với các sở nói trên để tham mưu cho UBND thành phố Hồ Chí Minh quyết định.
Tại phiên tòa hôm nay, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp của Cục thuế
Thành phố Hồ Chí Minh, Cục trưởng Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh, Chi
cục Thuế quận 11 cho rằng mình có thẩm quyền ban hành đơn giá cho thuê đất
theo Quyết định 107 và Quyết định số 50; quyền quyết định đơn giá cho thuế đất
đã được quy định cụ thể tại văn bản số 9483 liên sở Cục thuế, Sở Tài chính, Sở
tài nguyên Môi trường trình và được Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
chấp nhận tại công văn số 6216 ngày 26/11/2014. Về lời khai nại này, Hội đồng
xét xử nhận thấy tại mục 2 của Công văn nói trên có nội dung “Giao Cục thuế,
Sở Tài chính, Sở tài nguyên Môi trường tổ chức triển khai thực hiện theo quy
định tại Nghị định 46, Thông tư 77…”. Thế nhưng các Thông báo bị kiện do Cục
thuế ban hành đã vi phạm pháp luật về trình tự, thủ tục, căn cứ pháp luật áp
dụng như đã nhận định, do đó trái với tinh thần chỉ đạo của UBND Tp.Hồ Chí
Minh tại văn bản nói trên.
Mặt khác, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp của Cục thuế Thành phố Hồ
Chí Minh, Cục trưởng Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: Trong quá
trình thực hiện quyết định cho thuê đất và Hợp đồng thuê đất, Công ty phải tự kê
khai, đồng thời phải liên hệ cơ quan có thẩm quyền xác định lại đơn giá thuê đất
theo quy định pháp luật nhưng chưa thực hiện. Do đó, Công ty phải có nghĩa vụ
thực hiện nghĩa vụ tài chính về tiền thuê đất còn thiếu tại khu đất thuê nêu trên
theo quy định. Hội đồng xét xử xét thấy, theo quy định tại Nghị định 46, Thông
tư 77 và tại khoản 1 và 2, Điều 6 của Quyết định số 107/2006/QĐ-UBND ngày
17/7/2006 của UBND thành phố Hồ Chí Minh về đơn giá thuê đất trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh, theo đó quy định về trình tự thủ tục tổ chức thực hiện
như sau:
“Đối với trường hợp đang sử dụng đất thuê trước ngày quyết định này
có hiệu lực mà thuộc trường hợp phải xác định lại đơn giá thuê đất theo quy
định: Giao Cục thuế thành phố hoặc Chi cục Thuế quận, huyện căn cứ đơn giá
thuê đất hiện hành tổng hợp báo cáo Sở Tài chính hoặc Ủy ban nhân dân quận,
huyện để quyết định điều chỉnh đơn giá thuê đất. Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Giám đốc Sở Tài chính hoặc Ủy ban
nhân dân quận, huyện phải xác định đơn giá thuê đất theo quy định”.

16
Tuy nhiên, Sở Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh đã có Văn bản số
4905/STC-BVG ngày 07/7/2016 gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm có nội dung
“không nhận được ý kiến của Sở Tài nguyên và Môi trường nên chưa đủ cơ sở
để điều chỉnh đơn giá thuê đất của Công ty cổ phần V tại khu đất số 188 Lạc
Long Quân, phường 03, quận 11. Đối với công văn số 1287/CCT-TBTK ngày
13/8/2012 của Chi cục thuế Quận 11, bộ phận văn thư đến của Văn phòng Sở đã
rà soát và xác nhận không nhận được công văn số 1287/CCT-TBTK của Chi cục
Thuế Quận 11”. Từ đó cho thấy các cơ quan chức năng đã chậm trễ thực hiện chỉ
đạo của UBND Thành phố Hồ Chí Minh tại Quyết định số 107/2006/QĐ-UBND,
Văn bản số 3824 ngày 21/05/2007 và gửi kết quả cho Sở Tài nguyên và Môi
trường để xác định giá trị quyền sử dụng đất, lỗi chậm trễ này hoàn toàn thuộc về
Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh - Sở Tài chính - Sở Tài nguyên và Môi trường
(là các cơ quan chức năng tham mưu về đơn giá thuê đất) và Chi cục thuế Quận 11.
Việc Cục thuế cho rằng Công ty V phải tự kê khai, đồng thời phải liên hệ
cơ quan có thẩm quyền xác định lại đơn giá thuê đất theo quy định pháp luật
nhưng chưa thực hiện là lỗi của công ty là không phù hợp với quy định của pháp
luật, trình tự thủ tục nộp tiền thuê đất. Vì người khởi kiện không tự mình đưa ra
đơn giá thuê đất mà phải do Sở Tài chính (trước 01/7/2014) và Cục thuế (sau
1/7/2014) quyết định đơn giá cho thuê đất theo quy định tại các Nghị định 142,
Nghị định 46 và các Thông tư hướng dẫn thi hành các nghị định đã nêu. Dựa
trên đơn giá thuê đất hàng năm do Sở Tài chính hoặc Cục Thuế ban hành thì
người khởi kiện mới có trách nhiệm chủ động nộp tiền thuê đất.
Từ các nhận định trên, Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh ban hành
Thông báo số 9919 và Thông báo số 238 là vi phạm các quy định Nghị định
142, Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và Thông tư
77, cũng như các Quyết định .
[2.2] Về tính hợp pháp, có căn cứ của Quyết định số 06 bị kiện:
Quyết định số 06/QĐ-CT-KN ngày 25/01/2016 là quyết định giải quyết
khiếu nại của Cục trưởng Cục thuế đối với các Thông báo số 9919 và Thông báo
số 238, tuy nhiên các thông báo nói trên là trái quy định pháp luật nên việc Cục
trưởng Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định giải quyết khiếu
nại với nội dung bác đơn khiếu nại của người khởi kiện, giữ nguyên nội dung
các Thông báo số 9919, Thông báo số 238 cũng vi phạm pháp luật như các nhận
định đã phân tích trên. Mặt khác theo quy định tại Thông tư 77 và Quyết định số
50 của Chủ tịch UBND Tp. Hồ Chí Minh, cụ thể “Trường hợp có ý kiến khác
nhau về đơn giá thuê đất giữa người thuê đất và cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xác định đơn giá thuê đất thì quyết định giải quyết của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh là quyết định cuối cng”, khi công ty V (là người thuê
đất), không thống nhất đơn giá thuê đất thế nhưng Cục thuế không báo cáo cho
Chủ tịch UBND Tp. Hồ Chí Minh (là người cho thuê đất), để giải quyết mà ban
hành quyết định giải quyết khiếu nại là vi phạm.
17
Cho nên Quyết định số 06/QĐ-CT-KN ngày 25/01/2016 về việc giải
quyết khiếu nại của Cục trưởng Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh vi phạm về
trình tự, thủ tục ban hành, căn cứ pháp luật áp dụng cần thiết phải hủy.
[2.3] Về nội dung Thông báo số 9919 và Thông báo số 238
Do các Thông báo số 9919/TB-CT ngày 27/10/2015 về đơn giá thuê đất,
thuê mặt nước; Thông báo số 238/CT-KTTĐ ngày 07/01/2016 về việc đính
chính Thông báo về đơn giá thuê đất, thuê mặt nước số 9919/TB-CT ngày
27/10/2015 của Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 06/QĐ-CT-
KN ngày 25/01/2016 về việc giải quyết khiếu nại của Cục trưởng Cục thuế
Thành phố Hồ Chí Minh vi phạm về trình tự, thủ tục ban hành, căn cứ pháp luật
áp dụng trong việc ban hành đơn giá cho thuê đất hàng năm đối với người khởi
kiện nên Hội đồng xét xử không xem xét nội dung của các thông báo và quyết
định bị kiện.
Yêu cầu Sở Tài chính, Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện hành
vi công vụ là xác định lại đơn giá cho thuê đất đối với người khởi kiện theo
đúng pháp luật qua từng thời kỳ đã quy định về thẩm quyền, chức năng, nhiệm
vụ.
[3] Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử nhận thấy kháng cáo của
người khởi kiện là có căn cứ, cần thiết phải sửa bản án hành chính sơ thẩm theo
hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện về yêu cầu hủy Thông
báo số 9919/TB-CT ngày 27/10/2015 về đơn giá thuê đất, thuê mặt nước; Thông
báo số 238/CT-KTTĐ ngày 07/01/2016 về việc đính chính Thông báo về đơn
giá thuê đất, thuê mặt nước số 9919/TB-CT ngày 27/10/2015 của Cục thuế
Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 06/QĐ-CT-KN ngày 25/01/2016 về
việc giải quyết khiếu nại của Cục trưởng Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh.
Xét quan điểm của người bị kiện, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát
nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về nội dung vụ kiện là không phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[4] Về án phí:
Án phí hành chính phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên người
khởi kiện không phải chịu án phí.
Về án phí hành chính sơ thẩm: Vụ án được thụ lý lần đầu vào ngày
10/3/2016, căn cứ khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 32 Pháp lệnh số
10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về án phí lệ phí Tòa án thì án phí hành chính sơ thẩm là 200.000 đồng. Do
bản án phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện, nên Cục thuế Thành phố Hồ Chí
Minh và Cục trưởng Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh phải chịu án phí hành
chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
18
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện là Công ty cổ phần V.
Sửa toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm số 1662/2020/HC-ST ngày 29/9/2020 của
Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần V về hủy Thông
báo số 9919/TB-CT ngày 27/10/2015 về đơn giá thuê đất, thuê mặt nước của
Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh; Thông báo số 238/CT-KTTĐ ngày
07/01/2016 về việc đính chính Thông báo về đơn giá thuê đất, thuê mặt nước số
9919/TB-CT ngày 27/10/2015 của Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết
định số 06/QĐ-CT-KN ngày 25/01/2016 của Cục trưởng Cục thuế Thành phố
Hồ Chí Minh về việc giải quyết khiếu nại của Công ty cổ phần V.
Buộc Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh chấm dứt hành vi thu và truy
thu tiền thuê đất đối với V theo các Thông báo số 9919/TB-CT ngày 27/10/2015
và Thông báo số 238/CT-KTTĐ ngày 07/01/2016.
Buộc Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Tài chính và Sở Tài nguyên
và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện hành vi công vụ là xác định
lại đơn giá cho thuê đất đối với người khởi kiện theo đúng pháp luật qua từng
thời kỳ đã quy định về thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ.
2/ Về án phí:
Án phí hành chính sơ thẩm: Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh và Cục
trưởng Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh mỗi đương sự phải chịu 200.000 đồng
án phí hành chính sơ thẩm.
Hoàn trả cho Công ty Cổ phần V số tiền 200.000 đồng tạm ứng án phí đã
nộp theo Biên lai thu số AE/2011/02544 ngày 09/3/2016 của Cục Thi hành án
dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Án phí hành chính phúc thẩm: Công ty cổ phần V không phải chịu án phí
hành chính phúc thẩm. Hoàn trả cho Công ty Cổ phần V số tiền 300.000 đồng
tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số AA/2019/0092783 ngày 12/10/2020
của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
19
Nơi nhận:
Tòa án nhân dân tối cao;
VKSNDCC tại TP.Hồ Chí Minh;
TAND TP.Hồ Chí Minh;
VKSND TP.Hồ Chí Minh;
Cục THADS TP.Hồ Chí Minh;
Các đương sự (7);
Lưu: hồ sơ (2),VP (5), 19b (LTTT).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Đắc Minh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm