Bản án số 192/2022/DS-ST ngày 17/10/2022 của TAND TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 192/2022/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 192/2022/DS-ST ngày 17/10/2022 của TAND TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Bạc Liêu (TAND tỉnh Bạc Liêu)
Số hiệu: 192/2022/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/10/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng thuê nhà, đất; Đòi tài sản và Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THNH PH BẠC LIÊU Độc lập Tự do – Hạnh phúc
TNH BC LIÊU
Bản án số: 192/2022/DS-ST
Ngày 17 tháng 10 m 2022
V/v tranh chp hợp đồng thuê, đòi tài sản
Và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đt
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THNH PH BC LIÊU, TNH BẠC LIÊU
- Thnh phn Hi đng xt x sơ thm gm c:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phương Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Dư Thị Út và bà Khưu Liên Dung.
- Thư phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng - Thư Tòa án nhân dân thành ph
Bc Liêu, tỉnh Bc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thnh ph Bc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2022, ti trụ sở Tòa án nhân dân thành ph Bc Liêu,
tỉnh Bc Liêu mở phiên tòa công khai xét xử thẩm vụ án dân s thụ số
161/2021/ TLST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2021, hồ vụ án dân s thẩm thụ
số 217/2022/TLST - DS ngày 18 tháng 7 năm 2022, Quyết định nhập vụ án s
02/2022/QĐNVA-DS ngày 22 tháng 8 năm 2022 về việc "Tranh chấp hợp đồng
thuê nhà, đòi tài sản hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất", theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử thẩm số 118/2022/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 8 năm
2022, giữa các đương s:
1. Nguyên đơn: Anh Phan Văn Ch, sinh năm 1965
Trú ti: Số 4/11B, Tỉnh L38, Khóm 6, Phường 5, thành phBc Liêu, tỉnh
Bc Liêu.
2. Bị đơn: Anh Trần Quang H (tên gọi khác: Hui), sinh năm 1984
Trú ti: Số 139G/4, Khóm 2, Phường 7, thành phố Bc Liêu, tỉnh Bc Liêu.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho anh Trần Quang H: T
Nguyệt Th Luật sư thuộc Công ty Luật Hợp danh T Nguyệt Th.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
2
3.1- Chị Nguyễn Hồng Nh, sinh năm 1988.
Trú ti: Số 139G/4, Khóm 2, Phường 7, thành phố Bc Liêu, tỉnh Bc Liêu.
3.2- Văn phòng Công chứng Cao Thị N. Địa chỉ: Số 47, đường Phan Đình
Phùng, Phường 3, thành phố Bc Liêu, tỉnh Bc Liêu.
Đi diện là bà Cao Thị N Trưởng Văn phòng.
(Anh Ch, anh H, luật sư Th có mặt; chị Nh, bà N vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn anh Phan Văn Ch trình bày: Nguồn gốc nhà đất ti thửa
số 1301, tờ bản đồ số 12, diện tích 270,8m
2
ti Phường 7, thành phố Bc Liêu, tỉnh
Bc Liêu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 145703 do Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Bc Liêu cấp ngày 08/9/2019 cho anh là Phan Văn Chdo anh
nhận chuyển nhượng từ anh Trần Quang H chị Nguyễn Hồng Nh. Vào ngày
17/7/2019, khi đã nhận chuyển nhượng, anh có ký hợp đồng thuê nhà ở nêu trên với
anh Trần Quang H, mục đích anh H thuê là để ở và kinh doanh, giá thuê hàng tháng
2.000.000 đồng phải trả vào đầu hàng tháng, nếu anh H không trả đúng hn
tiền thuê nhà thì anh quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên, sau khi
thuê thì anh H thc hiện không đúng thỏa thuận về nghĩa vụ thanh toán tiền thuê
nhà, cụ thể từ ngày 18/12/2019 anh H không trả tiền thuê nhà. Đồng thời, tháng
10/2019 thì anh H mượn số tiền 20.000.000 đồng, không tính lãi mà anh H cũng
không trả.
Do đó, anh yêu cầu hủy hợp đồng thuê nhà giữa anh với anh Trần Quang H;
buộc anh Trần Quang H trả tiền thuê nhà tm tính từ ngày 18/12/2019 đến ngày xét
xử thẩm mỗi tháng 2.000.000 đồng/ tháng (đến nay 34 tháng 68.000.000
đồng); buộc anh Trần Quang H trả số tiền mượn là 20.000.000 đồng. Không đồng ý
việc anh Trần Quang H yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
lập ngày 07/5/2018 giữa anh Trần Quang H, bà Nguyễn Hồng Nh với anh Phan
Văn Ch ti Văn phòng Công chứng Cao Thị N.
Bị đơn anh Trần Quang H tại Biên bản ghi lời khai, Biên bản hoà giải trình
bày: Vào ngày 07/5/2018 anh vay của ông Phan Văn Ch số tiền 200.000.000
đồng, thỏa thuận lãi 4%/tháng, hai bên lập biên nhận cùng ngày nội dung
anh cầm sổ đỏ số CH248856 ngày 22/3/2017 cho ông Chánh khi nào anh có tiền trả
thì nhận li sổ đỏ, lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng ngày
07/5/2018 ti Văn phòng Công chứng Cao Thị N đlàm tin. Đến khoảng tháng
8/2018 vay thêm 50.000.000 đồng sau đó (không nhớ thời gian) vay thêm số
tiền 50.000.000 đồng, tổng số tiền 300.000.000 đồng (Lần vay tháng 8/2018
3
lần sau không lập biên nhận chỉ thỏa thuận miệng). đóng lãi đủ đến ngày
17/7/2019 thì thỏa thuận li ông Chánh không lấy lãi nữa lập hợp đồng
thuê nhà nội dung cho anh thuê nhà mỗi tháng 2.000.000 đồng để giảm lãi cho anh,
đóng được 05 tháng thì yêu cầu ông Chánh trả sổ đỏ li, nhưng ông Chánh
không đồng ý, ông Chánh cho biết đã chuyển tên trên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất qua tên ông Chánh. Nay anh yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất lập ngày 07/5/2018 ti Văn phòng Công chứng Cao ThN, đồng ý trả
ông Chánh số tiền 400.000.000 đồng khoản tiền lãi của số tiền 400.000.000
đồng từ ngày 17/12/2019 theo mức lãi suất do Nhà nước quy định. Còn theo yêu
cầu của anh Phan Văn Ch thì anh không đồng ý việc anh Ch yêu cầu hủy hợp đồng
thuê nhà đtrả anh Ch tiền thuê nhà tính từ ngày 18/12/2019 đến ngày xét xử; anh
đồng ý trả anh Ch 20.000.000 đồng tiền anh đã mượn của anh Phan Văn Ch.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Hồng Nh: Trong quá trình
giải quyết vụ án Tòa án đã tống đt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của
pháp luật triệu tập chị Nguyễn Hồng Nh nhiều lần, nhưng chị Nguyễn Hồng Nh
cố tình vắng mặt không có do, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của
anh Phan Văn Ch.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng Công chứng Cao Thị N:
Ti Văn bản số 31/CV-VPCC ngày 03/8/2022 Văn phòng Công chứng Cao Thị N
khẳng định về hồ sơ, thủ tục, trình t, quy trình công chứng, hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa Trần Quang H ng vợ Nguyễn Hồng Nh (bên
chuyển nhượng) ông Phan Văn Ch đều được thc hiện đúng quy định pháp luật.
Do đó, Văn phòng Công chứng Cao Thị N không thống nhất hủy hợp đồng chuyển
nhượng ngày 07/5/2018 theo yêu cầu của ông Trần Quang H.
Ti phiên tòa các đương s vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày của đương s,
không thay đổi, bổ sung yêu cầu.
Đi diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bc Liêu, tỉnh Bc Liêu phát
biểu quan điểm cho rằng:
Về việc tuân theo pháp luật: Tòa án thụ giải quyết vụ án này là đúng thẩm
quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng dân s. Quá trình thụ giải quyết vụ án
Tòa án đã tuân thủ trình ttố tụng dân s. Hội đồng xét xử ti phiên tòa hôm nay
thc hiện đúng trình t thủ tục tố tụng dân s. Các đương s đã thc hiện quyền và
nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Việc chuyển nhượng theo Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa anh Phan Văn Ch anh Trần Quang H, chị Nguyễn Hồng
Nh ti Văn phòng Công chứng Cao Thị N ngày 07/5/2018 nhằm thc hiện giao
4
dịch khác hợp đồng cầm cố tài sản như sthừa nhận các bên. Tuy nhiên, sau đó
anh H, chị Nh đã thoả thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ti thừa 1301, tờ
bản đồ số 12, diện tích 270,8m
2
ti Phường 7, thành phố Bc Liêu, tỉnh Bc Liêu
làm 02 lần với số tiền 460.000.000 đồng phù hợp với các đon Camera do anh
Ch cung cấp, nên anh Ch đã hoàn tất thủ tục sang tên quyền sử dụng đất; do đất
chuyển nhượng loi đất trồng cây lâu năm nên không thể hiện nhà trên đất,
nhưng thc tế anh H, chị Nh đã nhà trên đất sau khi chuyển nhượng thì giữa
anh Ch và anh H đã lập Hợp đồng thuê nhà ở, với giá thuê hàng tháng là 2.000.000
đồng/ tháng, nhưng anh H không thc hiện nghĩa vụ trả tiền thuê nhà cho anh Ch,
nên anh Ch khởi kiện yêu cầu huỷ Hợp đồng thuê nhà ở, yêu cầu anh H trả tiền
thuê nhà từ ngày 17/12/2019 đến ngày xét xử phù hợp. Đối với yêu cầu của anh
Ch yêu cầu anh H trả số tiền mượn 20.000.000 đồng, anh H cũng đã thừa nhận
nên đây s kiện không phải chứng minh, nên cần buộc anh H trả cho anh Ch số
tiền 20.000.000 đồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của anh Ch, về việc huỷ hợp đồng thuê nhà ở, buộc anh H trách nhiệm trả tiền
thuê nhà từ ngày 17/12/2019 đến ngày xét xử trả số tiền mượn 20.000.000 đồng
cho anh Ch khoản tiền lãi trong giai đon thi hành án; bác toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của anh H yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh
H, chị Nh với anh Ch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ lưu trong hồ vụ án; căn cứ vào kết
quả tranh luận giữa các đương s ti phiên tòa; quan điểm của vị đi diện Viện
kiểm sát; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về quan hpháp luật tranh chp, thẩm quyền giải quyết: Anh Phan Văn
Ch khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Trần Quang H hủy hợp đồng thuê
nhà trả tiền mượn nên quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà
đòi tài sản”
Ngày 18/7/2022, anh Trần Quang H đơn khởi kiện yêu cầu huỷ hợp đồng
chuyển nhượng với anh Phan Văn Ch cùng ti thửa đất nêu trên, nên quan hệ pháp
luật là "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất".
Do vụ án có cùng đối tượng tranh chấp, Chánh án Toà án nhân dân thành phố
Bc Liêu ban hành Quyết định nhập vụ án số 02/2022/QĐNVA-DS ngày 22/8/2022
giữa 02 vụ án trên.
Anh Trần Quang H nơi trú ti thành phố Bc Liêu, tỉnh Bc Liêu
giao dịch giữa các đương s thc hiện ti thành phố Bc Liêu. Căn cứ quy định ti
khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân s vụ án
5
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bc Liêu, tỉnh Bc
Liêu.
[2] V th tc t tng: Văn phòng Công chứng Cao Thị N đơn xin xét xử
vắng mặt, nên được xem xét chấp nhận.
Anh Trần Quang H xác định: Anh và chị Nguyễn Hồng Nh đã ly hôn từ ngày
07/6/2022, nay chị Nh đi đâu thì anh không biết, Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ,
nhưng chị Nh không có mặt ti phiên tòa mà không có lý do chính đáng; căn cứ các
Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân s, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng
mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Hồng Nh.
[3] Về nội dung khởi kiện:
[3.1] Ti Biên bản xem xét thẩm định ti chỗ ngày 13/01/2022, thì diện tích
đất ti một phần thửa số 1301, tờ bản đồ số 12 (nay một phần thửa số 76, tờ bản
đồ số 29) ti Phường 7, thành phố Bc Liêu, tỉnh Bc Liêu theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CS 145703 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bc Liêu
cấp ngày 09/8/2019 cho anh Phan Văn Ch lập theo yêu cầu khởi kiện của anh
Phan Văn Ch, có vị trí như sau:
- Hướng đông giáp phần đất anh Phan Văn Ch đang sử dụng, số đo
22,49m + 3,42m.
- Hướng tây giáp phần đất Ngô Thị Hồng Cúc đang sử dụng, số đo
19,45m + 6,16m.
- Hướng nam giáp phần đất anh Phan Văn Ch đang sử dụng, số đo
9,96m.
- Hướng bắc giáp đường Bê tông (đường Hẻm r.2,50m), có số đo là 7,84m.
Tổng diện tích đất tranh chấp: 229,5m
2
.
[3.2] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 145703 do Sở Tài
nguyên Môi trường tỉnh Bc Liêu cấp ngày 09/8/2019 cho anh Phan Văn Ch thì
diện tích đất vị trí theo Bản vẽ Mảnh trích đo địa chính do Trung tâm Kỹ thuật
Tài nguyên Môi trường tỉnh Bc Liêu lập ngày 18/01/2022 ti thửa đất số 1301,
tờ bản đồ số 12 (nay thửa số 76, tờ bản đồ số 29) ti Phường 7, thành phố Bc
Liêu, tỉnh Bc Liêu, như sau:
- Hướng đông giáp phần đất anh Phan Văn Ch đang sử dụng, số đo
26,56m.
- ớng tây giáp phần đất Ngô Thị Hồng Cúc đang sử dụng, số đo
19,45m.
6
- Hướng nam giáp phần đất đang tranh chấp phần đất anh Phan Văn Ch
đang sử dụng, có số đo là 10m + 8,42m.
- Hướng bắc giáp đường Bê tông (đường Hẻm r.2,50m), có số đo là 7,84m.
Tổng diện tích đất tranh chấp: 270,8m
2
.
[3.3] Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đt, niêm yết hợp lệ
các văn bản tố tụng, nhưng chị Nguyễn Hồng Nh không trình bày ý kiến đối với
yêu cầu của nguyên đơn không tham gia phiên họp về việc kiểm tra, giao nộp,
tiếp cận chứng cứ hòa giải, đồng thời cũng không cung cấp các tài liệu, chứng
cứ để chứng minh. Như vậy, chị Nguyễn Hồng Nh đã từ bquyền chứng minh của
mình theo quy định ti Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân s, nên Hội đồng xét x chỉ
xem xét yêu cầu khởi kiện da trên các tài liệu, chứng cứ do các đương s cung cấp
và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án tiến hành thu thập được theo quy định của pháp
luật.
Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Ttụng dân s quy định “Một bên đương sự thừa
nhận hoặc không phản đi những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của
quan chuyên môn bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải
chứng minh”, Hội đồng xét xử lấy lời trình bày các chứng cứ do đương s cung
cấp làm chứng cứ giải quyết vụ án.
[3.4] Xét nguồn gốc thửa đất số 1301, tờ bản đồ số 12 (nay thửa số 76, t
bản đồ số 29), diện tích 270,8m
2
ti Phường 7, thành phố Bc Liêu, tỉnh Bc Liêu
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 248856 được Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh Bc Liêu cấp ngày 22/3/2017 cho anh Trần Quang H và chị
Nguyễn Hồng Nh; đến ngày 09/8/2019 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bc Liêu
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 145703 cho anh Phan Văn Ch
trên sở hợp đồng chuyển nhượng ngày 07/5/2018 ti Văn phòng Công chứng
Cao Thị N là có thc tế được các đương s thừa nhận là đúng.
[3.5] Xét Hợp đồng chuyển nhượng ngày 07/5/2018 ti Văn phòng Công
chứng Cao Thị N giữa anh Trần Quang H, chị Nguyễn Hồng Nh anh Phan n
Ch:
Anh Trần Quang H cho rằng: Vào ngày 07/5/2018 anh vay của ông Phan
Văn Ch số tiền 200.000.000 đồng, thỏa thuận lãi 4%/tháng, hai bên lập biên
nhận cùng ngày nội dung anh cầm sổ đỏ số CH248856 ngày 22/3/2017 cho ông
Chánh khi nào anh tiền trả thì nhận li sổ đỏ, lập hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cùng ngày 07/5/2018 ti Văn phòng Công chứng Cao Thị N, sau
đó thì vay thêm 50.000.000 đồng, tổng 250.000.000 đồng. Ti phiên toà t
7
anh H thay đổi lời khai chỉ vay 200.000.000 đồng, không còn khoản vay nào
khác, số tiền 50.000.000 đồng trên là tiền lãi của khoản vay 200.000.000 đồng.
Phía anh Phan Văn Ch cũng thống nhất nội dung trên như anh H trình bày
cho anh H vay 02 lần 250.000.000 đồng; nhưng sau đó anh H mới kêu anh nhận
chuyển nhượng một phần đất xéo ti thửa đất trên với glà 60.000.000 đồng và
đến ngày 17/7/2019 thì chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên với giá 400.000.000
đồng (Huy còn nợ 250.000.000 đồng chưa trả nên đối trừ anh đưa thêm cho anh H
150.000.000 đồng). Như vậy, anh H chị Nh đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất
với số tiền 460.000.000 đồng vào ngày 17/7/2019; nên cùng ngày này thì anh H
yêu cầu cho thuê li căn nhà nên có làm hợp đồng cho thuê nhà ở. Do đã nhận nhận
chuyển nhượng hợp pháp nên anh mới chính thức đến quan thẩm quyền làm
thủ tục sang tên và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 145703 ngày 09/8/2019.
Còn khoản tiền anh H cho rằng vay thêm số tiền 50.000.000 đồng (không
giấy tờ), cộng dồn vào khoản nợ ngày 07/5/2018 là 300.000.000 đồng mà không có
tài liệu, chứng cứ nào chứng minh, phía anh Ch không thừa nhận khoản vay này,
nên không có cơ sở chấp nhận theo trình bày của anh H. Tuy nhiên, ti phiên toà thì
anh H xác định không có vay thêm khoản này mà chỉ vay 200.000.000 đồng, số tiền
50.000.000 đồng này là tiền lãi của số tiền vay 200.000.000 đồng.
[3.6] Về khoản tiền lãi của số tiền 200.000.000 đồng: Anh Ch xác định sau
khi vay anh H trả lãi đầy đủ, n anh H xác định anh khó khăn về tiền nên không
trả lãi đầy đủ, chỉ trả lãi được khoảng 03 tháng (mỗi tháng trả lãi 8.000.000 đồng/
tháng của số tiền 200.000.000 đồng); do không trả được lãi khoảng 10 tháng tiếp
theo bằng số tiền 100.000.000 đồng tính đến ngày 17/7/2019 tiền lãi lên đến
200.000.000 đồng (mỗi tháng trả lãi 8.000.000 đồng/ tháng của số tiền 200.000.000
đồng) tính ra khoảng 14 tháng, thành số tiền 400.000.000 đồng nên anh Ch mới kêu
anh ghi biên nhận chuyển nhượng đất 400.000.000 đồng, anh H xác định không
chuyển nhượng đất cho anh Ch.
Hội đồng xét xxét thấy, anh H cho rằng chỉ vay 200.000.000 đồng, số tiền
còn li tiền lãi nanh H trình bày ti phiên t300.000.000 đồng tiền i
anh H tính tương đương 24 tháng 03 tháng anh H đã trả lãi, tổng số tiền lãi tính
ra nanh H trình bày là 27 tháng là không phù hợp, bởi lẽ từ khi vay 200.000.000
đồng ngày 07/5/2018 đến ngày 17/7/2019 chỉ 14 tháng 10 ngày; do đó vấn đề
trình bày của anh H là hoàn toàn không có căn cứ. Hơn nữa, theo yêu cầu khởi kiện
của anh H yêu cầu huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh H,
chị Nh với anh Ch, anh H đồng ý trả cho anh Ch stiền 400.000.000 đồng tiền
8
lãi của số tiền 400.000.000 đồng, trong khi ti phiên toà anh H chỉ thừa nhận chỉ
vay của anh Ch số tiền 200.000.000 đồng, nên việc anh H trình bày như trên
hoàn toàn không có căn cứ.
[3.7] Hội đồng xét xử xét thấy, các đương s đều thống nhất trình bày về
khoản tiền vay 200.000.000 đồng, thể hiện trên Biên nhận nội dung “… cầm
cho anh Trần Quang H Sổ đỏ mang tên Trần Quang H s GH 248856 thửa 1301, tờ
bản đồ s 12 với s tiên 200.000.000 đồng lãi 4%, lãi đóng hàng tháng từ ngày
07/5/2018” từ khoản vay này hai bên đã ra Văn phòng Công chứng Cao Thị N
hợp đồng chuyển nhượng phù hợp với hồ tnh bày của Văn phòng
Công chứng Cao Thị N. Tuy nhiên, Hợp đồng chuyển nhượng này chưa thể hiện ý
chí chuyển nhượng của các bên, nhằm che giấu một giao dịch cầm cố quyền sử
dụng đất, nên hợp đồng chuyển nhượng này đáng ra hiệu từ ngày kết theo
quy định ti Điều 124 Bộ luật Dân s như đi diện Viện kiểm sát đề nghị, luật
bào chữa cho bị đơn trình bày căn cứ. Nhưng sau đó chính anh H, chNh đã
thoả thuận chuyển nhượng cho anh Ch một phần đất xéo ti thửa đất số 1301, tờ
bản đồ số 12 trên với giá là 60.000.000 đồng, phần đất này hiện anh Ch đã quản
đến ngày 17/7/2019 thì chuyển nhượng toàn bộ diện tích còn li của thửa đất
trên với giá 400.000.000 đồng, việc thoả thuận này được ghi trên 02 Biên nhận (Bút
lục 62 đến 63bút lục 64).
Đồng thời, ti các đon Camera do anh Ch cung cấp đã được Toà án tiến
hành đối chất ngày 24/8/2022, anh H cũng thừa nhận s việc chuyển nhượng
quyền sử dụng đất trên cho anh Ch, anh H cho rằng anh Ch gài anh để ghi li hình
ảnh và cuộc đối thoi giữa anh anh Ch, nên không yêu cầu giám định. Nhưng
đến ngày 13/9/2022 anh H nộp đơn yêu cầu giám định đon video yêu cầu: Xác
định thời gian quay video, đon video có bị cắt xén, trùng lắp, chỉnh sửa do anh Ch
cung cấp, Toà án đã ban hành Thông báo nộp tiền tm ứng chi phí giám định nhưng
hết thời hn mà anh H vẫn không nộp chi phí tm ứng theo quy định mà không
lý do chính đáng, Hội đồng xét xử không chấp nhận theo yêu cầu này của anh H.
Do đó, Hội đồng xét xcăn cứ xác định giữa các bên đã ý chí chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ti thửa đất số 1301, tờ bản đồ số 12, ti Phường 7,
thành phố Bc Liêu, tỉnh Bc Liêu ến ngày 17/7/2019 chính thức chuyển nhượng
hết thửa đất), nên việc các bên đã hợp đồng thuê nhà ngày 17/7/2019, với số
tiền thuê nhà hàng tháng 2.000.000 đồng/ tháng cũng chính sau ngày này anh
Ch mới m thủ tục sang tên trước b toàn bộ diện tích đất trên, được quan
thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 145703 cho anh Phan
Văn Ch, nên Hợp đồng chuyển nhượng ti Văn phòng Công chứng Cao Thị N
9
ngày 07/5/2018 không hợp pháp, nhưng sau đó các bên đã thể hiện ý chí chuyển
nhượng diện tích đất trên là thc tế, quan thẩm quyền đã cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất; từ đó, không nhất thiết huỷ hợp đồng chuyển nhượng ngày
07/5/2018 ti Văn phòng Công chứng Cao Thị N giữa anh Trần Quang H, ch
Nguyễn Hồng Nh với anh Phan Văn Ch như yêu cầu khởi kiện của anh H, nên
không chấp nhận ý kiến trình bày tranh luận của người bào chữa cho bị đơn bị
đơn trình bày.
[3.8] Sau khi chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 1301, tờ bản đsố 12 vào
ngày 17/7/2019, anh Ch đến quan thẩm quyền khai sang tên trước b
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác
gắn liền với đất số CS 145703 ngày 09/8/2019.
Đồng thời, theo Biên bản định giá tài sản ngày 13/01/2022 của Hội đồng
định giá tài sản: Giá đất tranh chấp cùng loi đất trồng cây lâu năm trong khu dân
(ti khu vc Hẻm 1, đường Trần Phú, Khóm 2, Phường 7, thành phố Bc Liêu,
tỉnh Bc Liêu), có đơn giá 950.000 đồng/ m
2
. Như vậy, thửa đất s1301, tờ bản đồ
số 12 diện tích 270,8m
2
thành tiền theo định giá 257.260.000 đồng; căn nhà,
mái che, sân láng xi măng có tổng số tiền 162.230.460 đồng; tổng giá trị nhà và đất
419.490.460 đồng vẫn thấp hơn giá các bên thoả thuận chuyển nhượng (giá
thoả thuận chuyển nhượng là 460.000.000 đồng).
Từ đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H về
việc yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/5/2018 ti
Văn phòng Công chứng Cao Thị N giữa anh H, chị Nguyễn Hồng Nh với anh Phan
Văn Ch.
[3.9] Xét anh Phan Văn Ch yêu cầu hủy hợp đồng thuê nhà với anh Trần
Quang H; buộc anh Trần Quang H trả tiền thuê nhà tm tính từ ngày 18/12/2019
đến ngày xét xử sơ thẩm, mỗi tháng là 2.000.000 đồng/ tháng.
Theo anh Phan Văn Ch cho rằng: Ngày 17/7/2019, anh hợp đồng thuê
nhà với anh Trần Quang H, theo đó cho anh H thuê nhà đất ti thửa số 1301,
tờ bản đồ số 12, diện tích 270,8m
2
ti Phường 7, thành phố Bc Liêu, tỉnh Bc
Liêu; mục đích anh H thuê để và kinh doanh; giá thuê hàng tháng 2.000.000
đồng phải trả vào đầu hàng tháng. Tuy nhiên, sau khi thuê thì anh H thc hiện
không đúng thỏa thuận về nghĩa vụ thanh toán tiền thuê nhà, cụ thể từ ngày
18/12/2019 anh H không trả tiền thuê nhà.
Anh Trần Quang H cho rằng: Do anh vay của ông Phan Văn Ch số tiền
đến 300.000.000 đồng, đóng lãi đủ đến ngày 17/7/2019 thì thỏa thuận li
ông Chánh không lấy lãi nữa và lập hợp đồng thuê nhà nội dung cho anh thuê nhà
10
mỗi tháng 2.000.000 đồng để giảm lãi cho anh. Kể từ sau ngày 17/7/2019, mỗi
tháng trả 2.000.000 đồng cho ông Chánh, anh đóng được 05 tháng thì anh yêu cầu
anh Ch trả sổ đỏ li thì anh trả tiền cho anh Ch nhưng anh Ch không đồng ý, anh
Ch cho biết đã chuyển tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua tên anh Ch.
Như phân tích trên, các đương s đều thừa nhận thoả thuận việc thuê nhà
mỗi tháng 2.000.000 đồng / tháng, nên đây tình tiết s kiện không phải chứng
minh theo quy định ti Điều 92 Bộ luật Ttụng dân s. Từ đó, n cứ xác định
việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ti thửa số 1301, tờ bản đồ số 12 s t
nguyện của các bên, nên cùng ngày 17/7/2019 anh Ch có cho anh H thuê li nhà đất
trên, giữa các bên cũng đã lập hợp đồng thnhà, đon video số 3 do anh Ch cung
cấp đã thể hiện việc anh H thừa nhận có thuê nhà của anh Ch, nhưng anh H không
thc hiện trả tiền thuê nhà cho anh Ch, nên anh Ch yêu cầu huỷ hợp đồng thuê nhà
với anh H, yêu cầu anh H trả tiền thuê nhà còn thiếu là căn cứ, Hội đồng xét xử
chấp nhận yêu cầu của anh Ch, huỷ hợp đồng thuê nhà giữa anh Ch anh H lập
ngày 17/7/2019.
[3.10] Xét yêu cầu anh Ch yêu cầu anh H trả tiền thuê nhà tính từ ngày
18/12/2019 đến ngày xét xử thẩm (ngày 17/10/2022) 68.000.000 đồng
(2.000.000 đồng x 34 tháng) là có căn cứ, nên được chấp nhận.
[3.11] Xét yêu cầu anh Phan Văn Ch yêu cầu anh Trần Quang H trả số tiền
mượn là 20.000.000 đồng và khoản tiền lãi chậm trả trong giai đon thi hành án.
Các đương s anh Ch anh H đều thống nhất: Anh H còn nợ anh Ch số
tiền 20.000.000 đồng chưa trả, nên cần buộc anh H trách nhiệm trả cho anh Ch
số tiền 20.000.000 đồng, anh Ch yêu cầu anh H phải trả khoản tiền lãi chậm trả
trong giai đon thi hành án phù hợp để bảo vệ quyền lợi cho anh Ch nên được
chấp nhận.
[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của anh Phan Văn Ch; không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh
Trần Quang H và ý kiến trình bày của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho
bị đơn.
[5] Về Chi phí xem xét thẩm định, định giá: 3.881.000 đồng (Ba triệu, tám
trăm tám mươi mt nghìn đồng) anh Trần Quang H, chị Nguyễn Hồng Nh phải chịu
toàn bộ.
[6] Về án phí: Như phân ch trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của anh Phan Văn Ch, yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng thuê nhà
yêu cầu anh H trả tiền thuê nhà, đất và tiền mượn còn thiếu. Nên anh Trần Quang H
phải chịu toàn bộ án phí dân s và án phí có giá ngch, cụ thể:
11
Án phí dân s sơ thẩm: 300.000 đồng.
Án phí dân s có giá ngch: 4.400.000 đồng (của số tiền: 68.000.000 đồng +
20.000.000 đồng = 88.000.000 đồng).
[7] Ý kiến phát biểu đề nghị của đi diện viện kiểm sát nhân dân thành phố
Bc Liêu là có cơ sở, được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39;
Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân s;
Căn cứ Điều 166, 357, 424; khoản 2 Điều 468; Điều 472, 481; khoản 1, 4
Điều 482 Bộ luật Dân s.
Căn c Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn Ch đối với anh
Trần Quang H yêu cầu chấm dứt Hợp đồng thuê nhà ở ngày 17/7/2019 được ký kết
giữa anh Phan n Ch với anh Trần Quang H yêu cầu anh Trần Quang H trả số
tiền thuê nhà còn thiếu và 20.000.000 đồng còn nợ.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Quang H yêu cầu huỷ
Hợp đồng chuyển nhượng ngày 07/5/2018 giữa anh Trần Quang H, ch Nguyễn
Hồng Nh với anh Phan Văn Ch ti Văn phòng Công chứng Cao Thị N ngày
07/5/2018.
3. Chấm dứt Hợp đồng thuê nhà ngày 17/7/2019 được kết giữa anh
Phan Văn Ch với anh Trần Quang H.
4. Buộc anh Trần Quang H, chNguyễn Hồng Nh có trách nhiệm di dời toàn
bộ tài sản trả li nhà đất ti thửa đất số 1301, tờ bản đồ số 12 (nay là thửa số 76,
tờ bản đồ số 29) ti Phường 7, thành phố Bc Liêu, tỉnh Bc Liêu theo Giấy chứng
nhận quyền sdụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CS
145703 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bc Liêu cấp ngày 09/8/2019 cho anh
Phan Văn Ch, có vị trí như sau:
- Hướng đông giáp phần đất anh Phan Văn Ch đang sử dụng, số đo là
26,56m.
- Hướng tây giáp phần đất Ngô Thị Hồng Cúc đang sử dụng, số đo
19,45m.
12
- Hướng nam giáp phần đất đang tranh chấp phần đất anh Phan Văn Ch
đang sử dụng, có số đo là 10m + 8,42m.
- Hướng bắc giáp đường Bê tông (đường Hẻm r.2,50m), có số đo là 7,84m.
5. Buộc anh Trần Quang H trách nhiệm trả cho anh Phan Văn Ch số tiền
88.000.000 đồng (Tám mươi tám triệu đồng).
Sau khi bản án có hiệu lc pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người
được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của stiền n phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định ti khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân s năm 2015.
6. Chi phí xem xét thẩm định, định giá: Anh Trần Quang H phải chịu số tiền
3.881.000 đồng (Ba triệu, tám trăm tám mươi mt nghìn đồng). Anh Phan Văn Ch
đã d nộp, được hoàn li số tiền 3.881.000 đồng (Ba triệu, tám trăm tám mươi mt
nghìn đồng) ti Chi cục Thi hành án dân s thành phố Bc Liêu từ số tiền anh Trần
Quang H phải thi hành nêu trên.
7. Về án phí: Anh Trần Quang H phải nộp số tiền 4.400.000 đồng (Bn triệu,
bn trăm nghìn đồng) án phí dân sgiá ngch 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) án phí dân s sơ thẩm. Anh Trần Quang H đã d nộp tm ứng án phí 300.000
đồng ngày 18/7/2022 theo Biên lai thu số 0007758 ti Chi cục Thi hành án dân s
thành ph Bc Liêu, tnh Bc Liêu được đối trừ trong giai đon thi hành án.
Anh Phan Văn Ch không phải chịu án phí, anh Phan Văn Ch đã d nộp tm
ứng án phí số tiền 1.600.000 đồng (Một triệu, sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai số
0006820 ngày 05 tháng 5 năm 2021 được hoàn li toàn bộ ti Chi cục Thi hành án
dân s thành ph Bc Liêu, tnh Bc Liêu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định ti Điều 2 Luật Thi hành án
dân s tngười được thi hành án dân s, người phải thi hành án dân s quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định ti các Điều 6, 7 Điều 9 của Luật Thi hành
án dân s; thời hiệu thi hành án được thc hiện theo quy định ti Điều 30 của Luật
Thi hành án dân s.
Án sơ thẩm xử công khai, đương s có mặt ti phiên tòa có quyn kháng cáo
bn án trong thi hn mười lăm ngày k t ngày tuyên án. Những người vắng mặt
ti phiên tòa quyền kháng cáo bn án trong thi hn ời lăm ngày k t ngày
nhận được bản án hoặc bản án được tống đt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
13
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bc Liêu;
- VKSND thành phố Bc Liêu;
- Chi Cục THA.DS thành phố Bc Liêu;
- Các đương s;
- Lưu.
Võ Phương Bình
Tải về
Bản án số 192/2022/DS-ST Bản án số 192/2022/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất