Bản án số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TAND huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 18/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 18/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 18/2024/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TAND huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Krông Nô (TAND tỉnh Đắk Nông) |
Số hiệu: | 18/2024/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 30/09/2024 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | chấp nhận đơn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NÔ
TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số:18/2024/HNGĐ-ST
Ngày 30/9/2024.
Về việc:“Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Hồng Duy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Châu và ông Hồ Quang Hiển.
- Thư ký phiên toà: Ông Vi Thế Nam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên toà:
Bà Hoàng Thị Thuỳ Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Nô xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2024/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 8
năm 2024, về việc “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 16/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29 tháng 8 năm 2024; Quyết định
hoãn phiên tòa số: 53/2024/QĐST-DS, ngày 13/9/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà N– sinh năm 1986, có đơn xin xét xử vắng mặt.
E ký thường trú: Thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Nơi sinh sống tại số
A, thôn E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Ông V; địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông, vắng
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo đơn xin ly hôn, trong quá trình giải quyết vụ án bà Ntrình bày:
Về hôn nhân: ông V và bà N kết hôn vào năm 2005, có E ký kết hôn tại
UBND xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông vào ngày 21/01/2005. Hôn nhân trên cơ sở
hoàn toàn tự nguyện và không bị ép buộc.
Mẫu thuẫn dẫn đến xin ly hôn: Ông V và bà N phát sinh mâu thuẫn trong
gia đình, mâu thuẫn trong lối sống và sinh hoạt trong gia đình, hai vợ chồng có
cách nghĩ, quan điểm sống trái ngược nhau, không có tiếng nói chung. Ngoài ra,
1

ông V mâu thuẫn về mặt kinh tế, thường xuyên uống rượu chửi bới, có những
lời nói xúc phạm đến bà N. Dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể
hòa giải được, từ đó bà N đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống từ năm 2020 đến nay.
Hai người sống hai nơi khác nhau và không còn liên lạc với nhau. Hai vợ chồng
nói chuyện với nhau rất nhiều lần nhưng vẫn không thể hòa giải được và không
có tiếng nói chung. Ông V và bà N đã sống ly thân từ đầu năm 2020 cho đến
nay.
Về con chung: Có 03 con chung, cháu B- sinh ngày 08/6/2005; cháu Đ –
sinh ngày 20/7/2012; cháu E– sinh ngày 09/4/2017; cháu B đã trên 18 tuổi và có
cuộc sống riêng; cháu Đ đang học lớp 7 trường THCS xã Đ, K, tỉnh Đắk Nông
và sinh sống cùng với ông V; cháu B học lớp 2 trường tiểu học K, huyện K, tỉnh
Đắk Lắk và sinh sống cùng bà N.
Về tài sản chung có nhà và đất, tài sản riêng và công nợ không có.
Nay bà N xin ly hôn với ông V. Về con chung: Cháu B đã trên 18 tuổi và
tự lo được cuộc sống riêng nên không yêu cầu giải quyết. Bà N đồng ý giao cháu
Đ cho ông V nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con chung. Bà N có nguyện
vọng được nuôi cháu E và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Không yêu cầu giải quyết. Công nợ không có.
2. Bị đơn ông V trình bày: Ông V và bà N kết hôn vào năm 2005, có đăng
ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Hôn nhân trên cơ sở hoàn
toàn tự nguyện và không bị ép buộc.
Ông V và bà N phát sinh mâu thuẫn trong gia đình, mâu thuẫn trong lối
sống và sinh hoạt trong gia đình, hai vợ chồng có cách nghĩ, quan điểm sống trái
ngược nhau, không có tiếng nói chung. Dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên cãi
nhau, không thể hòa giải được, từ đó bà N đã bỏ đi làm công nhân tại tỉnh Đồng
Nai (đi làm từ năm 2020 cho đến nay). Ông V và bà N đã sống ly thân từ đầu
năm 2020 cho đến nay, sống hai nơi khác nhau.
Ông V và bà N có 03 con chung, cháu B- sinh ngày 08/6/2005; cháu Đ –
sinh ngày 20/7/2012; cháu E– sinh ngày 09/4/2017; cháu B đã trên 18 tuổi và có
cuộc sống riêng; cháu đang học lớp 7 trường THCS xã Đ và sinh sống cùng với
ông V; cháu E học lớp 2 trường tiểu học K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk và sinh sống
cùng bà N.
Ông V và bà N có tài sản là nhà và đất, không có tài sản riêng
Ông V có quan điểm như sau:
- Ông V không đồng ý ly hôn với bà N. Vì con còn nhỏ và không muốn
con thiếu thốn tình cảm của cha mẹ.
- Nếu ly hôn:
Về con chung: Cháu B đã trên 18 tuổi và tự lo được cuộc sống riêng nên
không yêu cầu giải quyết. Ông V có nguyện vọng được nuôi cháu Đ và không
yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Ông V đồng ý giao cháu E cho bà N nuôi
dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Không yêu cầu giải quyết. Công nợ không có.
Đối với cấp dưỡng nuôi con chung: Trong đơn khởi kiện nguyên đơn bà
N yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, trong quá trình làm việc và đơn xin xét xử
vắng mặt, nguyên đơn bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
2

Trong các buổi hoà giải đoàn tụ, công khai chứng cứ và hoà giải, tại phiên
tòa ông V vắng mặt không có lý do.
3. Cháu E – sinh ngày 09/4/2017, có nguyện vọng được sinh sống cùng
với bà N- tại thôn E, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Cháu E lớp 02, trường tiểu
học N xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Cháu Đ – sinh ngày 20/7/2012, cháu Đ đang học lớp 7 trường THCS xã
Đ, K, tỉnh Đắk Nông và sinh sống cùng với ông V, cháu Đ được Toà án triệu tập
(ông V và cháu Đ) tiến hành lấy lời khai xem có nguyện vọng ở với ai nhưng
vắng mặt không có ly do, nên không lấy được lời khai của cháu Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên toà
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án xác định người
tiến hành tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm đều tuân thủ quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 51, Điều 56,
Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn xin ly hôn và cho bà ly
hôn với ông V (chấm dứt hôn nhân). Giao cháu E – sinh ngày 09/4/2017 cho bà N
nuôi dưỡng; giao cháu Đ – sinh ngày 20/7/2012 cho ông V nuôi dưỡng. Đình chỉ
yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của nguyên đơn, do nguyên đơn rút yêu cầu.
Tài sản chung không yêu cầu giải quyết. Tài sản riêng và công nợ không có nên
không yêu cầu giải quyết. Bà N chịu án phí 300.000 đồng, tiền án phí dân sự sơ
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án xin ly hôn giữa nguyên đơn bà
N và bà ông V. Bị đơn ông V có đăng ký thường trú tại Thôn X, xã Đ, huyện K,
tỉnh Đắk Nông. Nên Tòa án nhân dân huyện Krông Nô thụ lý là đúng quy định
tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Ông V đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng trong vụ án, nhưng ông
V chỉ đến Toà án làm việc vào ngày 13/8/2024. Ông V đã được Toà án tống đạt giấy
triệu tập và Thông báo phiên hoà giải, Thông báo phiên họp và hoà giải, Quyết định
xét xử và Quyết định hoãn phiên toà để mới ông V đến làm việc theo quy định pháp
luật, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Ông V vắng mặt không có lý do và bà N
có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt ông V, bà N
là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông V chỉ có mặt vào ngày 13/8/2024,
sáu đó đều vắng mặt, tại phiên tòa ông V vắng mặt không có lý do, đồng thời
không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong
quá trình giải quyết vụ án, bà N không cung cấp thêm chứng nào khác. Theo
khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng
cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ
3

chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập
được có trong hồ sơ vụ việc”. Như vậy, ông V, bà N phải chịu hậu quả về việc
không đưa ra được hoặc đưa ra không đầy đủ chứng cứ để bảo vệ cho quyền và
lợi ích hợp pháp của mình.
[3] Về hôn nhân: ông V và bà N xây dựng gia đình trên cơ sở hoàn toàn tự
nguyện, không bị ai ép buộc, tự do đi đến hôn nhân. Có đăng ký kết hôn tại Ủy
ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông vào ngày 21/01/2005 và được cấp
giấy chứng nhận kết hôn số 208, quyển sổ 02. Do đó, hôn nhân giữa ông V và bà
N là hợp pháp.
[4] Mâu thuẫn dẫn đến ly hôn: Ông V và bà N đều thừa nhận: Ông V và bà
N phát sinh mâu thuẫn trong gia đình, trong lối sống và sinh hoạt trong gia đình,
hai vợ chồng có cách nghĩ, quan điểm sống trái ngược nhau, không có tiếng nói
chung; giữa ông V và N thường xuyên cãi nhau, xung đột trong gia đình, hai
người không còn thương yêu, không quý trọng nhau, không chăm sóc, không
giúp đỡ nhau, chỉ biết bổn phận của riêng mình, bỏ mặc nhau; ông V và bà N đã
sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, sống hai nơi khác nhau và không còn
liên lạc với nhau.
Như vậy, mâu thuẫn giữa ông V và bà N đến mức trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vợ chồng
không còn thương yêu, không quan tâm, hạnh phúc gia đình không có. Do đó,
để giải phóng cho hôn nhân không còn mục đích, Hội đồng xét xử căn cứ vào
các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn
của nguyên đơn và cho nguyên đơn bà Nđược ly hôn với ông V.
[5] Con chung: Ông V và bà N có 03 người con chung, cháu B- sinh ngày
08/6/2005; cháu Đ – sinh ngày 20/7/2012; cháu E– sinh ngày 09/4/2017.
Cháu B đã trên 18 tuổi và có cuộc sống riêng nên đương sự không yêu
cầu giải quyết.
Ông V có nguyện vọng nuôi cháu Đ, Toà án triệu tập ông V dẫn cháu Đ
ra Toà án làm việc xem nguyện vọng cháu Đ ở với ai, nhưng vắng mặt không lý
do, bà Nđồng ý giao cháu Đ cho ông V nuôi dưỡng. Bà N có nguyện vọng nuôi
dưỡng cháu E, cháu E có nguyện vọng được ở cùng với bà N, ông V đồng ý giao
cháu E cho bà N được quyền nuôi dưỡng.
Các đương sự đều có trách nhiệm của người mẹ, người cha đối với con,
nhưng cũng phải xem xét điều kiện để nuôi con của đương sự, đảm bảo ăn ở,
học hành của các cháu, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các cháu. Do đó,
Hội đồng xét thấy cần giao cháu Đ cho ông V nuôi dưỡng, giao cháu E cho bà N
nuôi dưỡng là phù hợp, đúng với nguyện vọng ông V và bà N.
[6] Cấp dưỡng nuôi con chung: Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn bà N
yêu cầu cấp dưỡng dưỡng nuôi con chung, nhưng trong quá trình làm việc tại
Toà án và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi
con chung. Như vậy, nguyên đơn rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, đồng
thời bị đơn anh V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét
4

xử không xem xét giải quyết. Đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của
nguyên đơn N.
[7] Tài sản chung có nhưng không yêu cầu giải quyết. Tài sản riêng và
công nợ không yêu cầu giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải
quyết.
[8] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà N phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử
cấn chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 94; Điều
144; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của
Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 01/2024/NQ – HĐTP, ngày 16/5/2024 của
Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy
định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27
của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của nguyên đơn bà N đối với bị đơn ông V.
2. Về hôn nhân: Bà N được ly hôn với ông V (chấm dứt hôn nhân).
3. Về con chung:
- Giao cháu Đ – sinh ngày 20/7/2012 cho ông V được trực tiếp nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà Nđược quyền đi lại, thăm nom,
chăm sóc con chung, ông V không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm
nom, giáo dục con chung.
- Giao cháu cháu E– sinh ngày 09/4/2017 cho bà N được trực tiếp nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Ông V được quyền đi lại, thăm
nom, chăm sóc con chung, bà N không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc
thăm nom, giáo dục con chung.
Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa
vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của
cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn
nhân và gia đình.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con
chung của nguyên đơn bà N.
Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có
thể quyết định: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, thay đổi mức cấp
5

dưỡng, chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
theo quy định tại các Điều 84, 107, 110,116 của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Nphải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ
thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm
ứng án phí số 0008099 ngày 05/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện
Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.
- Hoàn trả cho bà N số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng
án phí, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền
kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án
hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân
sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đắk Nông;
- VKSND huyện Krông Nô;
- Chi cục THADS huyện Krông Nô;
- UBND xã Đ, huyện Krông Nô,
tỉnh Đắk Nông;
- Các đương sự;
- Lưu HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lại Hồng Duy
6
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 13/03/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm