Bản án số 18/2022/DS-PT ngày 27/01/2022 của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tranh chấp thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 18/2022/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 18/2022/DS-PT ngày 27/01/2022 của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tranh chấp thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Số hiệu: 18/2022/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/01/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Phan Thị VH khởi kiện 03 bị đơn về việc tranh chấp về thừa kế tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Bản án số: 18/2022/DS-PT
Ngày: 27 tháng 01 năm 2022
V/v: Tranh chấp về thừa kế tài sản
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Tnh phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Lệ Thủy
Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Vỹ
Bà Nguyễn Thị Ly
- Thư phiên tòa: Thị Quỳnh Như -Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên
tòa: Ông Thái Quốc Bảo - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Rịa - Vũng Tàu
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 133/2020/TLPT-DS ngày 01
tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm s13/2020/DSST ngày 24 tháng 6 năm 2020 của
Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 151/2020/QĐ-PT ngày
27/10/2020 Quyết định hoãn phiên tòa số 147/2020/QĐ-PT ngày 10/11/2020;
Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2022/QĐPT-DS ngày 19/01/2022 và Thông
báo mở lại phiên tòa số 02/2022/TB-TA ngày 24/01/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị VH, sinh năm 1964 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ 2, ấp SX 2, xã SX, thị xã P, tỉnh Bà Rịa -ng Tàu.
Người đại diện theo ủy quyền:
1. Anh Phan Bá C, sinh năm 1976 (vng mặt)
Địa chỉ: Thôn 7, Ea, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Theo Giấy ủy quyền số 1838,
quyển số 02/2020 –SCT/CK,ĐC lập ngày 10 tháng 12 năm 2020 tại UBND xã SX)
2. Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1982; (có mặt)
Địa chỉ: Số 336/72 Phan Văn T, phường X, quận T, tnh phố Hồ Chí Minh
(Theo Giấy ủy quyền số công chứng 00083, quyển số 01/2021/TP/CC-SCC/HĐGD
lập ngày 08 tháng 01 năm 2021 tại Văn phòng Công chứng Lê QH)
- Bị đơn:
1. Cụ Chu Thị Đ, sinh năm 1937 ( mặt)
Địa chỉ: Tổ 2, ấp SX 2, xã SX, thị xã P, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.
2
2. Anh Nguyễn Hữu AH, sinh năm 1986 ( mặt)
Địa chỉ: Tổ 2, ấp SX 2, xã SX, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
3. Anh Nguyễn Hữu AQ, sinh năm 1987 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ 2, ấp SX 2, xã SX, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị HT, sinh năm 1990
Địa chỉ: Tổ 2, ấp SX 2, xã SX, thị xã P, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu. (có mặt)
- Người kháng cáo: Cụ Chu Thị Đ, anh Nguyễn Hữu AH, anh Nguyễn Hữu AQ
bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn Phan
Thị VH trình bày:
-Về quan hệ nhân thân: Phan Thị VH và ông Nguyễn HH vợ chồng hợp
pháp. Ông H chết ngày 29/12/2000 theo Giấy chứng tử số 04 14/3/2000 của Ủy ban
nhân dân xã SX, thị xã P, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu. Ông H cha là cụ Nguyễn Hữu
H2 (hy sinh năm 1967) và mẹ ruột cụ Chu Thị Đ. Vợ chồng H, ông H 03
người con gồm Nguyễn Hữu AH, Nguyễn Hữu AQ Nguyễn Thị HT. Ngoài ra,
ông H không có con ruột, con nuôi nào khác. Ông H chết không để lại di chúc.
-Về yêu cầu khởi kiện:
H yêu cầu công nhận ½ tài sản của trong khối tài sản chung vợ chồng
gồm tổng diện tích đất 25.605m
2
của các thửa đất số 155, 239, 240, 241, 119, tờ bản
đồ s10 tại xã SX, thị P, tỉnh Rịa Vũng Tàu theo đồ vị trí thửa đất do
Chi nhánh văn phòng đăng đất đai lập ngày 21-12-2019, căn nhà cấp 4, cây trồng,
vật kiến trúc trên đất ½ tài sản còn lại di sản của ông H thì đề nghị chia thừa
kế cho Hng thừa kế thứ nhất gồm cụ Đ, bà H, AH, AQ, chị T.
-Về nguồn gốc và quá trình quản lý, sử dụng đất và n: Năm 1984 H
ông H kết hôn và chung sống với mẹ chồng là cụ Đ tại Nghệ An. Đến tháng 6/1990
thì vợ chồng bà H vào lập nghiệp tại xã SX. Khi đi, vợ chồng bà H đi có mang theo
1.200.000đ là tiền bán tài sản vợ chồng trong đó 1 con trâu của mchồng cho với
giá 180.000đ.
Nguồn gốc diện tích đất 25.605m
2
nêu trên của ông Pha S đã vượt biên đi
Mỹ nên đất giao cho UBND xã H, huyện C, tỉnh Đồng Nai (nay SX, thị xã P)
quản lý; đến tháng 6 năm 1990 thì vợ chồng H nhận chuyển nhượng thông qua
ông Trần Đình G thư H thời điểm đó, gồm diện tích đất 25.605m
2
thuộc thửa
đất số 119 + 155 (số thửa cũ), tờ bản đồ số 10 và căn chòi với giá 3.000.000đ, thỏa
thuận 3 năm sẽ thanh toán đủ. Do không đủ tiền nhận chuyển nhượng đất và đầu tư
trồng cây lâu năm trên đất nên vợ chồng đã vay của những người thân cả hai bên
gồm: vay của Nguyễn Thị Th và Nguyễn Thị L ( của ông H) 4 chỉ vàng 24K;
vay của cha mẹ ruộtH 1.500.000 đ; vay của anh ruột H ông Phan Hồng V
3.500.000 đồng (vay năm 1990 và năm 1992). Đến năm 2000, thì vợ chồng H đã
trả dứt điểm các khoản nợ.
Cụ Chu Thị Đ đến tháng 8 năm 1990 thì bán tài sản quê tại Nghệ An vào
sống cùng với vợ chồng H. Cụ Đ bán nhà được 700.000đ, đất bán được 900.000đ
3
nhưng người mua trả trước 300.000đ, còn nợ lại 600.000đ đến năm 1995 trả dứt
điểm. Bà H xác nhận cụ Đ có đưa số tiền 1.000.000 đ cho bà để phụ giúp vợ chồng
bà chi tiêu sinh hoạt gia đình. Đến năm 2009, cụ Đ có đưa cho bà H 7.000.000 đ để
phụ sửa chữa nhà.
Về căn ntrên đất tkhi mua là căn chòi glợp giấy dầu; đến năm 1993 thì
vợ chồng bà H sửa chữa tnh nhà cấp 4; đến năm 2009 bà H sửa chữa lại như hiện
tại, ngoài ra vợ chồng bà còn khoan giếng, xây sân tông trồng cây lâu năm như
bưởi, cacao, cà phê, điều, tiêu…trên đất.
Sau khi ông H chết, gia đình H đã nhiều lần họp bàn để phân chia di sản của
ông H nhưng không tnhn bà H khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm, H đồng ý hòa giải đã được lập biên bản ghi nhận
nên bà đề nghị Hội đồng xét xử công nhận kết quả hòa giải của gia đình bà.
* Quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, bị đơn cụ Chu Thị Đ trình bày:
- Về quan hệ nhân thân: Cụ Đ đồng ý như lời khai bà H.
- Về nguồn gốc phần đất và n đang tranh chấp:
Cụ Đ vợ ông Nguyễn Hữu H1 (hy sinh năm 1967), cụ ở với các con tại nhà
từ đường họ Nguyễn Hữu tại Nghệ An cho đến năm 1990 do kinh tế khó khăn nên
cụ quyết định bán toàn bộ gia sản để theo con trai trưởng ông Nguyễn HH lập
nghiệp tại xã SX, thị xã P.
Qua giới thiệu của ông Trần Đình G (hiện không biết địa chỉ) thư Đảng
bộ H thời điểm năm 1989 thì gia đình cụ Đ đã mua lại 02 thửa đất số 119, 155
với giá 2,6 lượng vàng 24k. Thời điểm này 02 thửa đất trên thuộc quyền quản của
chính quyền xã H do đất vắng chủ và trên đất đã có trồng cây cà phê và 01 ngôi nhà
lá. Ông H cùng hai cô ruột là Nguyễn Thị Th , Nguyễn Thị L là những người
trực tiếp nhận chuyển nhượng đất; ông H trả trước 1,3 lượng vàng 24 k nợ lại 1,3
lượng vàng 24k. Số vàng 1,3 lượng ông H trả trước do cụ Đ bán trâu,
các đồ dùng gia đình quê đưa cho ông H. Đến 01 năm sau, khi cụ Đ bán được nhà,
đất quê cộng với số tiền 700.000 đồng mượn của ông Nguyễn Hữu Th thì cụ Đ
ông H đã trả hết tiền mua đất; sau này nợ của ông Th cũng đã trả hết.
Mặt khác, vào năm 1985 H mới kết hôn với ông H sống phụ thuộc vào
gia đình chồng, vợ chồng H liên tiếp sinh 03 người con trong giai đoạn này
tình nh kinh tế xã hội khó khăn, làm không đủ ăn nên vợ chồng H không tiền
để mua đất và tạo dựng gia sản riêng. Do đó, cụ Đ xác định toàn bộ nguồn tiền nhận
chuyển nhượng đất nêu trên là tiền của gia tộc cụ Đ bán tài sản quê đưa vào
không có số tiền nào là của vợ chồng ông H.
Qua yêu cầu khởi kiện của H, cụ Đ đề nghị phân chia tài sản trên thành 04
phần: cụ Đ hưởng 01 phần; bà H 01 phần; 01 phần làm n thờ từ đường cho họ tộc
“Nguyễn Hữu”; 01 phần là di sản của ông H thì chia cho 5 người thừa kế của ông H
gồm cụ Đ, bà H, AH, AQ, chị T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, cụ Đ đồng ý hòa giải việc hòa giải đã được lập biên
bản ghi nhận nên cụ đề nghị Hội đồng xét xử công nhận kết quả hòa giải thành.
* Trong quá trình tố tụng, bị đơn anh Nguyễn Hữu AH trình bày:
4
AH thống nhất với trình bày của cụ Đ trong quá trình làm việc tại Tòa án.
Ngoài ra, AH cho biết việc AH vào “Văn bản thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế” ngày 12-8-2003 do bà H yêu cầu vì lúc đó gia đình đang nợ ngân hàng
nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại đứng tên ông H. Do đó, để thuận tiện
trong các giao dịch với ngân ng nên AH mới vào văn bản trên nhưng việc
này không thể hiện ý chí của AH về chuyển di sản thừa kế ông H để lại cho bà H.
Sau khi văn bản trên, AH trực tiếp làm các thtục chuyển quyền sử dụng đất
đứng tên H. Tuy nhiên, do bà H không trả các khoản chi phí sang tên nên AH vẫn
giữ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
AH xác định toàn bộ quyền sử dụng đất H tranh chấp tài sản nguồn
gốc của gia tộc họ Nguyễn Hữu do cụ Đ cụ H1 (chết năm 1967) tạo dựng nên AH
không đồng ý chia di sản theo yêu cầu của H đề nghị xác lập tài sản này tnh
di sản chung của dòng họ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, AH đồng ý hòa giải và việc hòa giải đã được lập biên
bản ghi nhận nên anh đề nghị Hội đồng xét xử công nhận kết quả hòa giải tnh.
* Trong quá trình tố tụng, bị đơn anh Nguyễn Hữu AQ trình bày:
AQ thống nhất với ý kiến của cụ Đ trong quá trình làm việc tại Tòa án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, AQ đồng ý hòa giải và việc hòa giải đã được lập biên
bản ghi nhận nên anh đề nghị Hội đồng xét xử công nhận kết quả hòa giải tnh.
* Trong quá trình tố tụng tại phiên tòa, người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan chị Nguyễn Thị HT trình bày:
Chị T con của ông H, H. Vào năm 1990, cha mchị T cùng hai anh trai
chị T AH AQ từ Nghệ An vào sinh sống tại H (nay là SX). Theo chị T,
nguồn gốc tài sản tranh chấp do cha mchị T tạo lập. Chị T không phủ nhận công
sức của một số bác con đã giúp gia đình chị T trong việc tạo dựng, sửa chữa
n, trồng trọt trên các thửa đất hiện nay nhưng việc xác định các thửa đất trên đất
của gia tộc là không đúng với thực tế.
Năm 2000 ông H bị bệnh mất và không lập di chúc. Năm 2003, gia đình chị T
lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản của ông H để lại và do chị còn nhỏ nên
phần tài sản chị T được hưởng do bà H giám hộ. Việc phân chia tài sản đã được bàn
bạc trong gia đình hoàn toàn tự nguyện, cả cĐ tham gia nhưng khôngtên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị T đồng ý hòa giải và việc hòa giải đã được lập
biên bản ghi nhận nên chị đề nghị Hội đồng xét xử công nhận kết quả hòa giải thành.
- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2020/DSST ngày 24 tháng 6 năm 2020 của
Tòa án nhân dân thị xã P đã quyết định như sau:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị VH về “Tranh chấp về thừa
kế tài sản”.
[1.1] Chia di sản thừa kế theo pháp luật quyền sử dụng diện tích đất 12.802,5m
2
nằm trong tổng diện tích đất 25.605m
2
của các thửa số 155, 239, 240, 241, 119, tờ
bản đồ số 10 tại xã SX, thị xã P, tỉnh Rịa – Vũng Tàu và ½ số tài sản gồm: Căn
n chính loại 4, n phụ loại 2, sân tông, giếng đào, giếng khoan di sản do
ông Nguyễn HH chết để lại không có di chúc.
5
[1.2] Công nhận giao cho Phan Thị VH được quyền quản lý, sử dụng toàn
bộ diện tích đất 12.802,5m
2
nằm trong tổng diện tích đất 25.605m
2
của các thửa đất
số 155, 239, 240, 241, 119, tờ bản đồ số 10 tạiSX, thị P, tỉnh Bà Rịa Vũng
Tàu theo Sơ đồ vị trí thửa đất do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai lập ngày 21-
12-2019 (kèm theo bản án).
[1.3] Công nhận cho bà Phan Thị VH được quyền shữu 01 căn n chính loại
4 (diện tích 89m
2
), 01 n phụ loại 2 (diện tích 83m
2
), 01 sân tông (diện tích
129m
2
), 01 giếng đào và 01 giếng khoan trên các phần đất được công nhận.
[1.4] Phan Thị VH phải thanh toán lại giá trị tài sản thừa kế cho các đồng
thừa kế gồm cụ Chu Thị Đ, anh Nguyễn Hữu AQ, anh Nguyễn Hữu AH ch
Nguyễn Thị HT mỗi người với số tiền 1.297.638.600 đồng (một thai trăm chín
mươi bảy triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn sáu trăm đồng).
[1.5] Anh Nguyễn Hữu AH trách nhiệm giao lại cho Phan Thị VH bản
chính c giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa đất số 155, 239, 240, 241
và 119, tờ bản đồ số 10 tại xã SX, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trường hợp AH không giao lại cho H các giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nêu trên thì H quyền liên hệ với quan, tổ chức có thẩm quyền về đất đai
để làm thủ tục xin cấp lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
[2] Đối với toàn bsố y trồng trên các thửa đất số 155, 239, 240, 241 và 119,
tờ bản đồ số 10 tại SX, thị P, tỉnh Rịa Vũng Tàu được xác định thuộc
quyền sở hữu của bà Phan Thị VH n không giải quyết.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí, nghĩa vụ do chậm
thi nh án và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 03/7/2020 cụ Chu Thị Đ, anh Nguyễn Hữu AH,
anh Nguyễn Hữu AQ có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị a án cấp phúc thẩm
xem xét lại bản án dân sự sơ thẩm số 13/2020/DSST ngày 24/6/2020 của Tòa án
nhân dân thị xã P theo hướng sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần yêu cầu của
nguyên đơn, chia khối di sản tnh 04 phần, một phần chia cho bà Đ, một phần cho
bà H, mt phần làm n thờ từ Đ cho họ tộc “Nguyễn Hữu”, một phần chia 05 phần
thừa kế, trong đó có bà Đ, AH, AQ. AH, AQ đồng ý nhường lại kỷ phần được chia
cho bà Đ.
* Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 19/01/2022:
Sau khi Hội đồng xét xử hòa giải, nguyên đơn Phan Thị VH bị đơn cụ
Chu Thị Đ, anh Nguyễn Hữu AH, anh Nguyễn Hữu AQ, người quyền nghĩa
vụ liên quan chị Nguyễn Thị HT đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn
bộ vụ án như sau:
- Chu Thị Đ được quyền sử dụng diện tích đất 9.995 m
2
thuộc thửa 241, tờ
bản đồ số 10 tọa lạc tại xã SX, thị xã P.
- Bà Phan Thị VH được quyền sử dụng diện tích đất 5.243 m
2
thuộc thửa 240
và 4.739 m
2
thuộc thửa 239, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại xã SX, thị xã P.
- Ch Nguyễn Thị HT được quyền sử dụng diện tích đất 2.891 m
2
thuộc thửa
155, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại xã SX, thị xã P.
6
- Đối với thửa 119, tờ bản đồ số 10 tại xã SX, thị xã P được chia làm 6 phần,
mỗi phần cạnh ngang mặt tiền đường lớn 10 m kéo xuống khoảng 8m đến cuối
thửa 119 (các cạnh trước tọa độ 7 đến 8 sau tọa độ 6 đến 9 của các phần bằng
nhau) theo sơ đồ vị trí khu đất ngày 21/12/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai thị P: Cụ Đ, AH, AQ, ch T mi người 01 phần; H được 02 phần. Trong
đó phần diện tích thửa 119 thuộc quyền sử dụng của cụ Đ, AH, AQ 50m
2
đất ở;
phần diện tích thửa 119 thuộc quyền sử dụng của bà H 25 m
2
và bà T 25m
2
.
Số liệu diện tích các đương sự đồng ý theo đồ vị trí do Chi nhánh Văn
phòng Đăng ký đất đai thị P lập ngày 21/12/2019.
- Thời hạn đến 30-7-2022 anh Nguyễn Hữu AQ sẽ di dời toàn bcây kiểng
trên các thửa 240, 239, 155.
- Các công trình, vật kiến trúc, cây cối hoa màu gắn liền với đất thửa đất thuộc
quyền sử dụng của người nào thì người đó được sở hữu.
- Sau khi quyết định hiệu lực thì AH trách nhiệm bàn giao lại Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất các thửa 240, 239, 155 cho H chị T; các bên có trách
nhiệm tạo điều kiện để làm thủ tục sang tên, cấp giấy.
- Các bên chịu án phí theo quy định pháp luật.
Các đương sự đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Rịa Vũng Tàu tạm ngừng
phiên tòa 19/01/2022 tiến nh yêu cầu quan địa chính đo tách và điều chỉnh
lại sơ đồ vị trí thửa 119 theo phương án thỏa thuận trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 27/01/2022, các đương sự vẫn giữ nguyên kết
quả đã thỏa thuận tại phiên tòa ngày 19/01/2022 thống nhất sơ đồ vị trí điều chỉnh
chia các phần diện tích tại thửa 119 tbản đồ số 10 tại xã SX, thị P như thỏa
thuận
- Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Rịa - Vũng Tàu về
việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của cụ Chu Thị Đ, anh Nguyễn Hữu AH, anh
Nguyễn Hữu AQ phù hợp quy định tại Điều 272 của Bộ luật Tố tụng dân sự và nộp
trong thời hạn luật định. Những người tiến nh tố tụng đã thực hiện đúng đầy đủ
trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện
đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét thấy, việc hòa giải của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm
ngày 19/01/2022 của các bên là tự nguyện, không trái pháp luật tại phiên tòa hôm
nay các đương sự thống nhất cùng ký tên trong sơ đồ vị trí điều chỉnh chia các phần
diện tích tại thửa 119 tờ bản đồ số 10 tại xã SX, thị P. Đề nghị Hội đồng xét xử
áp dụng Điều 300 của Bộ luật Ttụng dân sự năm 2015, công nhận sự thỏa thuận
của các đương sự, sửa bản án sơ thẩm theo sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, trên sở kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1]. Xét tính hợp lệ của đơn kháng cáo:
7
Đơn kháng cáo của bà Chu Thị Đ, anh Nguyễn Hữu AH, anh Nguyễn Hữu AQ
nộp trong thời hạn quy định đã nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều
276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Phan Thị VH bị đơn cụ Chu Thị
Đ, anh Nguyễn Hữu AH, anh Nguyễn Hữu AQ, người quyền và nghĩa vụ liên
quan chị Nguyễn Thị HT đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ
nội dung vụ án như trên. Xét sự thỏa thuận của các đương sự hoàn toàn tự nguyện,
không trái pháp luật và đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận
đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, sửa bản án sơ thẩm theo hướng
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa.
* Về án phí:
Do tại giai đoạn phúc thẩm không yêu cầu định giá tài sản nên Hội đồng
xét xử căn cứ giá định của cấp sơ thẩm để tính án phí cho các đương sự.
-Án phí dân sự thẩm: Các đương sự được hưởng thừa kế phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm đối với phần được nhận. Cụ Chu Thị Đ là người cao tuổi nên được
miễn án phí theo quy định pháp luật
-Án phí dân sự phúc thẩm: Do các đương s thỏa thuận được với nhau về giải
quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm nên các đương sự kháng cáo phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm. Cụ Chu Thị Đ là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy
định pháp luật
* Về chi phí tố tụng khác: Các đương sự đã giải quyết xong nên không yêu cầu
Tòa án xem xét lại.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300 Bộ luật Ttụng dân sự; Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Công nhận sthỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, sửa Bản
án dân sự thẩm số 13/2020/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2020 của Toà án nhân
dân thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, như sau:
1.1. Công nhận và giao cho cụ Chu Thị Đ được quyn s hữu đối vi quyền sử
dụng diện tích 9.995 m
2
(đất nông nghiệp) thuộc thửa 241, tờ bản đsố 10 tọa lạc
tại xã SX, thị P theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CA 034782 được Ủy
ban nhân n huyện T (thị P) cấp ngày 06/5/2016. C Đ được sở hữu căn nhà
chính loại 4, căn nhà phụ loại 2, sân bê tông, 01 giếng đào, 01 giếng khoan; toàn bộ
cây trồng lâu năm gắn liền trên thửa đất 241.
1.2. Công nhận và giao cho bà Phan Thị VH được quyền sở hu đối vi:
+ Quyền sử dụng diện tích 5.243 m
2
(gồm đất nông nghiệp + 100 m
2
đất )
thuộc thửa 240, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại SX, thị P theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CA 034781 được Ủy ban nhân dân huyện T (thị P) cấp ngày
06/5/2016.
8
+ Quyền sử dụng diện tích 4.739 m
2
(gồm đất nông nghiệp + 100 m
2
đất ở)
đất
thuộc 239, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại SX, thị P theo giấy chứng nhận quyền s
dụng đất CA 034780 được Ủy ban nhân dân huyện T (thị xã P) cấp ngày 06/5/2016.
H được sở hữu toàn bộ cây trồng lâu m, vật kiến trúc gắn liền trên thửa
đất 240, 239 tờ bản đồ 10.
1.3. Công nhận giao cho chị Nguyễn Thị HT được quyền sở hữu đối với
quyền sử dụng diện tích đất 2.891 m
2
(đất nông nghiệp) thuộc thửa 155, tờ bản đồ
số 10 tọa lạc tại SX, thP theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH
362485 được Ủy ban nhân dân huyện T (thị P) cấp ngày 02/3/2015. Chị T được
sở hữu toàn bộ cây trồng lâu năm, vật kiến trúc gắn liền trên thửa đất.
1.4. Công nhận sự thỏa thuận của các đương svề phân chia diện tích 2.737 m
2
thuộc thửa 119, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại xã SX, thị xã P như sau:
- Bà Phan Th VH đưc quyền s hữu đi với quyền s dng đất din tích 922,4
m
2
thuộc I +II (có tọa độ đim 1, 2, 3, 4, 13, 14) thửa đất số 119, tờ bản đồ số 10
tại xã SX, thị P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, trong đó có 25 m
2
đất ở và 897,4 m
2
đất
nông nghiệp.
- Ch Nguyễn Thị HT được quyền sở hữu đối với quyền sử dụng đất diện tích
456,3 m
2
thuộc Lô III ( tọa đ điểm 4, 5, 12, 13) tha đất số 119, tờ bản đồ số 10 tại
SX, thị xã P, tỉnh Rịa-Vũng Tàu, trong đó 25 m
2
đất ở và 431,3m
2
đất nông
nghiệp.
- Anh Nguyễn Hữu AQ đưc quyn sở hữu đối với quyền sử dụng đất diệnch
453,4 m
2
thuộc Lô IV (có tọa đ điểm 5, 6, 11, 12) tha đt số 119, tờ bản đsố 10 tại
SX, thị P, tỉnh Rịa-Vũng Tàu, trong đó 25 m
2
đất 428,4 m
2
đất nông
nghiệp.
- Anh Nguyễn Hữu AH đưc quyền sở hữu đối với quyền sử dụng đất din tích
451,7 m
2
thuộc V (có tọa đđiểm 6, 7, 10, 11) tha đt số 119, tờ bản đồ số 10 tại
SX, thị P, tỉnh Rịa-Vũng Tàu, trong đó 25 m
2
đất 426,7 m
2
đất nông
nghiệp.
- Cụ Chu Thị Đ đưc quyền sở hữu đối với quyền sử dụng đất diện tích 451,7 m
2
đất ng nghip thuc VI (có tọa độ đim 7, 8, 9, 10) thửa đất số 119, tờ bản đồ số
10 tại xã SX, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Diện tích đất thuộc thửa 119 theo giấy chứng nhận số BX362484 được Ủy ban
nhân dân huyện T (thị P) cấp đổi ngày12/5/2016 cho Phan Thị VH diện tích
2.594 m
2
(100 m
2
đất ở 2.494 m
2
đất nông nghiệp) và thực tế đo vẽ 2.737 m
2
ranh
giới không thay đổi; quy hoạch đất ở nông thôn và đất giao thông nên các đương sự
có nghĩa vụ thực hiện đúng quy định của UBND tỉnh BR-VT về tách thửa.
(Vị trí và diện tích đất, tài sản trên các thửa đất được xác định theo Sơ đồ vị trí
do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thị P, tỉnh Rịa-Vũng Tàu lập ngày
21/12/2019 và sơ đồ tự thỏa thuận phân lô của các đương sự ngày 27/01/2022, đính
kèm theo theo bản án này).
1.5. Anh Nguyễn Hữu AH trách nhiệm giao lại cho bà Phan Thị VH bản
chính các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa đất số 239, 240, tbản
đồ số 10 tại xã SX, thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu giao lại cho chị T bản chính
9
các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa đất số 155 tờ bản đồ số 10 tại
SX, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – ng Tàu.
1.6. Các đương sự trách nhiệm liên hvới quan thẩm quyền để khai
đăng ký và chỉnh lý quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
1.7. Thời hạn đến 30-7-2022, anh Nguyễn Hữu AQ sẽ di dời toàn bộ cây kiểng
đang kinh doanh trồng trên các thửa 240, 239, 155, tờ bản đồ 10 của bà H, chị T.
2. Án phí dân sự:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho cụ Chu Thị Đ.
Phan Thị VH nộp 113.484.000đ án phí DSST được khấu trừ vào tiền tạm
ứng án phí đã nộp 23.149.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0008076 ngày 13-10-
2017 của Chi cục Thi nh án dân sự huyện T (nay là thị xã P). Như vậy, bà H còn
phải nộp số tiền 90.335.000 đồng (chín mươi triệu ba trăm ba mươi năm nghìn đồng)
án phí.
Chị Nguyễn Thị HT nộp 62.402.000 đ (Sáu mươi hai triệu bốn trăm lẻ haii ngàn
đồng) án phí.
Anh Nguyễn Hữu AQ nộp 11.335.000 đ (Mười một triệu ba trăm ba mươi năm
ngàn đồng) án phí.
Anh Nguyễn Hữu AH nộp 11.292.000 đ (Mười một triệu hai trăm chín hai
ngàn đồng) án phí.
- Án phí dân sự phúc thẩm: AQ, AH mỗi người phải chịu 300.000 (ba trăm
ngàn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm
ngàn) đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp, theo biên lai thu tiền số 0005535,
0005536 ngày 03-07-2020 của Chi cục Thi nh án dân sự thị P, tỉnh Rịa-
Vũng Tàu. Như vậy, AH, AQ đã nộp xong.
Đ được miễn án phí án phí DSPT.
Trường hợp bản án, quyết định được thi nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
nh án dân sự thì người được thi nh án dân sự, người phải thi nh án dân sự có
quyền thỏa thuận thi nh án, quyền yêu cầu thi nh án, tự nguyện thi nh án hoặc
bị cưỡng chế thi nh án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi nh
án dân sự; thời hiệu thi nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
nh án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (27-01-
2022).
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh BR-VT;
- VKSND Tx. P,
- TAND Tx. P;
- Chi cục THA DS Tx. P;
- Các đương sự.
- Lưu: Tòa Dân sự, Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Lý Thị Lệ Thủy
10
Tải về
Bản án 18/2022/DS-PT Bà Rịa - Vũng Tàu Bản án 18/2022/DS-PT Bà Rịa - Vũng Tàu

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 18/2022/DS-PT Bà Rịa - Vũng Tàu Bản án 18/2022/DS-PT Bà Rịa - Vũng Tàu

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất