Bản án số 1754/2026/DS-PT ngày 16/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng ủy quyền

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1754/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1754/2026/DS-PT ngày 16/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng ủy quyền
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng ủy quyền
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1754/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T - Phạm Thị T2
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1754/2026/DS-PT Bản án số 1754/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1754/2026/DS-PT Bản án số 1754/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1754/2026/DS-PT
Ngày: 16/9/2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản, hợp đồng ủy quyền và hợp
đồng chuyển nhượng quyền sở hữu
nhà ở và quyền sử dụng đất ở
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền
Bà Nguyễn Thị Minh Phượng
Bà Phạm Thị Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Lê Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hồng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1049/2026/TLPT-DS
ngày 26 tháng 06 năm 2026 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng ủy
quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 669/2026/DS-ST ngày 17/4/2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5257/2026/QĐ-PT ngày
17 tháng 08 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1 Ông Phạm Văn T, sinh năm 1981. (có mặt)
CCCD số: 05208xxxxxxx
1.2 Bà Bùi Thị Bích L, sinh năm 1983. (có mặt)
CCCD số: 04518xxxxxxx
Địa chỉ: 39/28C Đường I, phường P, TP. Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp của ông Phạm Văn T (theo Giấy ủy quyền ngày
29/7/2024 tại VPCC Y, TP. HCM, BL.101): ông Trương Thanh T1, sinh năm
1973. (có mặt)
Địa chỉ liên lạc: 283 Đường Q, phường B, TP. Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Phạm Thị T2, sinh năm 1968. (vắng mặt)
CCCD số: 08216xxxxxxx
Địa chỉ: 38/10 Liên khu 2-10, phường H, TP. Hồ Chí Minh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
3.1 Bà Huỳnh Thị Thục U, sinh năm 1974. (có mặt)
CCCD số: 07917xxxxxxx
Địa chỉ: 273 Đường D, phường D1, TP. Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp của bà U (theo Giấy ủy quyền ngày 08/7/2026 tại VPCC
R, TP. HCM: Ông Hoàng Ngọc T3, sinh năm 1976. (có mặt)
Địa chỉ: 529 đường S, phường H1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà U: Ông Huỳnh Ngô Tường
B1 – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh. (có mặt)
3.2 Văn phòng công chứng K. (vắng mặt)
Địa chỉ: 639 Đường V, phường P, TP. Hồ Chí Minh.
3.3 Văn phòng công chứng C. (vắng mặt)
Địa chỉ: 519/5-519/7 V1, phường L1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Bà Huỳnh Thị Thục U - Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn – ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị Bích L trình bày:
Vợ chồng ông T, bà L làm ăn nên cần tiền để xử lý công việc, thông qua
hội nhóm cho vay tiền trên mạng internet, ông T bà L đã liên hệ bà Phạm Thị T2
để vay tiền vào ngày 25/11/2023.
Sau khi trao đổi qua lại và thống nhất số tiền vay, lãi suất cho vay và thời
hạn vay, hai bên đã ký kết Giấy cho mượn tiền ngày 25/11/2023 (BL.83) với nội
dung: ông T, bà L vay của bà T2 là 500.000.000đồng (Năm trăm triệu đồng),
thời hạn vay sáu tháng kể từ ngày 25/11/2023 đến ngày 25/05/2024, thế chấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số thửa 740, tờ bản đồ số 56 tại Đường I,
phường P1, thành phố D2. Lãi suất cho vay không ghi trong Giấy cho mượn tiền
nhưng thực tế thỏa thuận lãi suất 2.5%/tháng và phí ban đầu là 1.5% trên số tiền
vay. Vợ chồng ông T chỉ có nhu cầu vay 01 tháng nhưng bà T2 yêu cầu cứ ký
giấy mượn tiền 06 tháng.
Để bảo đảm số tiền vay và trách nhiệm trả nợ đúng hạn, bà Phạm Thị T2
yêu cầu vợ chồng ông T phải ký Hợp đồng với nội dung ủy quyền cho bà T2
được quyền định đoạt căn nhà của ông T, bà L nếu vợ chồng ông T không trả nợ
gốc và lãi đúng hạn. Cùng ngày 25/11/2023 vợ chồng ông Phạm Văn T, bà Bùi
Thị Bích L với bà Phạm Thị T2 hẹn nhau đến Văn phòng công chứng K để làm
Hợp đồng ủy quyền cho bà T2 được quyền định đoạt căn nhà đất của ông T, bà
L.
Vì cần tiền nên vợ chồng ông T chấp nhận. Cùng ngày 25/11/2023, vợ
chồng ông T, bà L và bà T2 ký Hợp đồng ủy quyền số: 006919 quyển số:
11/2023/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng K, Thành phố Hồ Chí
Minh – BL.91-93), với nội dung: ông T, bà L ủy quyền cho bà Phạm Thị T2
được quyền Bán, chuyển nhượng, tặng cho, khai nộp thuế... đối với nhà và đất
tại địa chỉ số: Đường I, phường P1, thành phố D2, Thành phố Hồ Chí Minh
3
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền
với đất số CM594795 do UBND Quận 9 cấp ngày 24/12/2018 cho ông Nguyễn
Bình Luận và bà Nguyễn Thị Oanh Kiều, cập nhật sang tên ông Phạm Văn T
ngày 22/07/2020. Thời hạn ủy quyền là 06 tháng (từ 25/11/2023 đến
25/05/2024). Hai bên thỏa thuận miệng là trong thời gian ủy quyền thì bà T2
không được nhận đặt cọc, nhận chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp nhà đất nêu
trên cho bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào.
Sau khi ký Giấy cho mượn tiền với số tiền vay 500.000.000đồng và Hợp
đồng ủy quyền, vợ chồng ông T thực tế nhận số tiền vay của bà T2 là
480.000.000đồng sau khi đã trừ đi tiền lãi và tiền phí của tháng đầu tiên. Vợ
chồng ông T đã giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và
tài sản gắn liền với đất số CM594795 do UBND Quận 9 cấp ngày 24/12/2018
cho bà T2 giữ.
Chưa đầy một tháng sau, ngày 20/12/2023, bà L - vợ ông T có gọi điện cho
bà T2 để trả lại số tiền gốc, tiền lãi vay và lấy lại giấy tờ nhà đất (bà L có ghi âm
lại) nhưng bà T2 trốn tránh không chịu gặp mặt giải quyết. Sau đó vợ chồng ông
T mới biết bà Phạm Thị T2 đã ký Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng
quyền sử dụng đất số 010724 ngày 08/12/2023 cho bà Huỳnh Thị Thục U tại
Văn phòng công chứng C (BL.84-88).
Ngày 28/12/2023, vợ chồng ông T nộp Đơn khởi kiện (BL.158), yêu cầu:
1. Tuyên vô hiệu Hợp đồng ủy quyền số 006919 quyển số 11/2023/TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 25/11/2023.
2. Tuyên vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà và quyền sử
dụng đất số 010724 quyển số 11/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/12/2023
giữa bà Phạm Thị T2 và bà Huỳnh Thị Thục U.
Ông Trương Thanh T1 đại diện ông Phạm Văn T có Đơn đề nghị ngày
10/04/2023 (BL.155), yêu cầu:
- Bà Huỳnh Thị Thục U trả lại cho vợ chồng ông T Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CM594795 do
UBND Quận 9 cấp ngày 24/12/2018, đăng bộ sang tên cho ông Phạm Văn T
ngày 22/7/2020.
- Đối với số tiền đã nhận của bà T2 là 480.000.000đồng, vợ chồng ông T
chấp nhận trả lại tiền gốc và tiền lãi theo nhà nước quy định cho bà Phạm Thị
T2.
Về phía bị đơn - bà Phạm Thị T2 vắng mặt và không có văn bản trình bày ý
kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Huỳnh Thị Thục U có Bản tự khai ngày 29/12/2024 (BL.162) và
người đại diện hợp pháp, trình bày:
4
Ngày 08/12/2023 bà Huỳnh Thị Thục U có nhận chuyển nhượng lại thửa
đất số 740, tờ bản đồ số 56 có nhà ở tại Đường I, phường P1, Quận X nay là
phường P, Thành phố Hồ Chí Minh của bà Phạm Thị T2 theo Hợp đồng mua
bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 010724 ngày 08/12/2023 tại
VPCC C.
Việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không trực tiếp giao dịch với
vợ chồng ông T mà căn cứ vào Hợp đồng ủy quyền số 006919 quyển số
11/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/11/2023 giữa vợ chồng ông T với bà T2.
Giá trị chuyển nhượng là 900.000.000đồng (Chín trăm triệu đồng). Thực tế số
tiền bà U phải trả để giao dịch căn nhà trên là 995.000.000đồng, giá nhà chỉ là
900.000.000đồng, phần còn lại là phí môi giới.
Bà U đã giao đủ tiền cho bà T2, đã nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CM594795 do UBND
Quận 9 cấp ngày 24/12/2018.
Sau khi ký hợp đồng công chứng bà U làm thủ tục đăng bộ nhưng bị Văn
phòng đăng ký đất đai thành phố Thủ Đức (nay là Văn phòng đăng ký đất đai
Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh) ngăn chặn vì nhà đất đã bị Tòa án nhân
dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
cấm chuyển dịch do đang bị tranh chấp.
Từ khi ký hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho đến nay,
bà U chưa nhận nhà đất, hiện nhà đất do ông T, bà L đang trực tiếp sử dụng nên
bà U yêu cầu vợ chồng ông T bà L phải giao trả lại nhà cho bà U.
Bà U không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Đề nghị Tòa án công nhận Hợp đồng mua bán nhà ở và quyền sử dụng đất
giữa bà U với bà T2 lập ngày 08/12/2023 tại Văn phòng công chứng C là hợp
pháp.
Đề nghị ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị Bích L trả tiền thuê nhà là
5.000.000đồng/tháng cho bà U, tính từ ngày 08/12/2023 đến 08/12/2024.
Nếu trường hợp hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà và quyền
sử dụng đất số 010724 quyển số 11/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/12/2023
do vô hiệu, bà U không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu mà sẽ
khởi kiện yêu cầu giải quyết trong một vụ kiện khác.
Bà U có Đơn yêu cầu độc lập ngày 10/04/2025 (BL.152), yêu cầu như sau:
- Yêu cầu ông T và bà L trả lại nhà đất số 39/28C Đường I phường P1,
Quận X cho bà U.
- Yêu cầu bồi thường thiệt hại tính theo giá tiền thuê nhà mỗi tháng
5.000.000đồng tính từ ngày 08/12/2023 theo thời gian chiếm dụng nhà cụ thể.
5
2. Văn phòng công chứng K có văn bản ngày 16/07/2025 (BL.166-167)
trình bày: Văn phòng công chứng K đã thực hiện thủ tục công chứng đúng quy
định pháp luật và yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3. Văn phòng công chứng C có Văn bản số 95/2025/VBTA ngày 14/07/2025
(BL.61) trình bày: Văn phòng công chứng C đã thực hiện thủ tục công chứng
đúng quy định pháp luật và yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa vụ án ra xét
xử và quyết định tại Bản án dân sự sơ thẩm số 669/2026/DS-ST ngày
17/04/2026 như sau:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền số 006919 quyển số 11/2023/TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 25/11/2023 giữa vợ chồng ông Phạm Văn T, bà Bùi Thị Bích
L và bà Phạm Thị T2 vô hiệu do giả tạo.
- Tuyên bố Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất
số 010724 ngày 08/12/2023 giữa bà Phạm Thị T2 và bà Huỳnh Thị Thục U vô
hiệu.
- Buộc bà Huỳnh Thị Thục U phải trả lại cho vợ chồng ông Phạm Văn T, bà
Bùi Thị Bích L Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài
sản gắn liền với đất số CM594795 do UBND Quận 9 cấp ngày 24/12/2018 đăng
ký sang tên cho ông Phạm Văn T ngày 22/7/2020.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị
Bích L mà bà Huỳnh Thị Thục U không trả lại cho ông T, bà L Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CM594795
do UBND Quận 9 cấp ngày 24/12/2018 đăng ký sang tên cho ông Phạm Văn T
ngày 22/7/2020 thì ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị Bích L có quyền liên hệ với
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xin cấp lại Giấy chứng nhận nêu trên.
- Buộc vợ chồng ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị Bích L có trách nhiệm trả
cho bà Phạm Thị T2 số tiền nợ gốc 480.000.000đồng, tiền lãi là 6.575.342đồng.
Tổng cộng là 486.575.342đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Huỳnh Thị Thục U về yêu cầu
trả lại nhà đất tại địa chỉ số: I, phường P1, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh
(nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) và yêu cầu trả tiền thuê nhà là
140.000.000đồng. (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà
ở và tài sản gắn liền với đất số CM594795 do UBND Quận 9 cấp ngày
24/12/2018 đăng ký sang tên cho ông Phạm Văn T ngày 22/7/2020)
Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 25/2023/QĐ-
BPKCTT ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức (nay là Tòa
án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh).
6
- Giành quyền khởi kiện cho bà Huỳnh Thị Thục U, về việc giải quyết hậu
quả của Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số
010724 ngày 08/12/2023 giữa bà Phạm Thị T2 và bà Huỳnh Thị Thục U vô hiệu
nếu có phát sinh tranh chấp.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ phát sinh khi chậm thi
hành án, án phí, quyền và nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các
đương sự.
Ngày 28/04/2026, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Huỳnh Thị
Thục U kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để giải
quyết lại theo hướng công nhận hợp đồng ủy quyền ngày 25/11/2023 và hợp
đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/12/2023 và
xử lý tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người kháng cáo – bà Huỳnh Thị Thục U do người đại diện trình bày:
Bà U rút toàn bộ yêu cầu độc lập nhưng giữ nguyên kháng cáo, yêu cầu
hủy toàn bộ bản án do việc đánh giá tình tiết không phù hợp chứng cứ khách
quan, điều tra không đầy đủ.
Tuy nhiên, để giải quyết dứt điểm vụ án, bà U mong muốn được hòa giải
với ông T, bà L để ông T và bà L chịu trách nhiệm thực hiện việc giải quyết hậu
quả của hợp đồng mua bán nhà đất mà bà T2 đã đại diện ông T, bà L để giao
kết, cụ thể là ông T bà L sẽ trả cho bà U số tiền 800.000.000đồng và bà U sẽ trả
lại Giấy tờ nhà bản chính cho ông T, bà L.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà U phát biểu quan điểm
tranh luận:
Bà U kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm do có một số vi phạm
pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết toàn bộ vụ án, đề nghị công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự.
Phía bị đơn - bà Phạm Thị T2 vắng mặt và không có văn bản trình bày ý
kiến.
Nguyên đơn gồm ông Phạm Văn T, bà Bùi Thị Bích L và người đại diện
hợp pháp của ông T cùng trình bày:
Ông T và bà L không nhận tiền mua bán nhà từ bà T2, tuy nhiên, do bà T2
đã nhận tiền bán nhà từ bà U nhưng bà T2 cũng đã giao cho ông T, bà L số tiền
(cho vay) 500.000.000đồng (thực tế là 480.000.000đồng). Nay để giải quyết dứt
điểm vụ án, ông T và bà L đồng ý hoàn lại cho bà U số tiền 800.000.000đồng để
bà U trả lại Giấy chứng nhận số CM594795 cho ông T, bà L, đồng thời hủy bỏ
hợp đồng chuyển nhượng số 010724 ngày 08/12/2023 và hợp đồng ủy quyền
ngày 25/11/2023 do vô hiệu; Đồng ý với phần rút yêu cầu của bà U. Đối với bà
7
T2, ông T và bà L đồng ý cấn trừ số tiền bà T2 đã nhận từ bà U (là
900.000.000đồng) vào số tiền mà vợ chồng ông T, bà L đã vay của bà T2 (tiền
gốc là 500.000.000đồng), đối với phần tiền (400.000.000đồng) vượt quá số tiền
vay gốc thì ông T và bà L không tranh chấp với bà T2.
Án phí theo quy định pháp luật, chi phí tố tụng do nguyên đơn đã tạm ứng
nên nguyên đơn đồng ý chịu toàn bộ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan
điểm:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm kết thúc phần tranh luận
tại phiên tòa phúc thẩm và trước khi nghị án, những người tiến hành tố tụng đã
thực hiện đúng và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về nội dung kháng cáo: Các đương sự đã thỏa thuận với nhau về việc giải
quyết toàn bộ nội dung vụ án, thỏa thuận này là tự nguyện, không vi phạm pháp
luật và không trái đạo đức xã hội, đề nghị công nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và sau khi nghe ý
kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bà Huỳnh Thị Thục U trong thời hạn luật
định và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định nên được chấp nhận để
xem xét lại bản án theo thủ tục phúc thẩm.
Bị đơn vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, Người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác có Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, Hội đồng
xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2, 3 Điều
296 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2] Về nội dung kháng cáo, bà Huỳnh Thị Thục U yêu cầu hủy toàn bộ bản
án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án.
Xét yêu cầu kháng cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Đối với yêu cầu tuyên vô hiệu Hợp đồng ủy quyền giữa vợ chồng
nguyên đơn và bà Phạm Thị T2, xét thấy:
Nguyên đơn yêu cầu tuyên vô hiệu do giả tạo đối với Hợp đồng ủy quyền
ngày 25/11/2023 vì cho rằng vợ chồng nguyên đơn không thực sự ủy quyền cho
bà T2 bán nhà, việc lập Hợp đồng ủy quyền chỉ là nhằm mục đích thế chấp nhà
đất cho bà T2 để đảm bảo cho giao dịch thực sự là vay tài sản với số tiền
500.000.000đồng theo Giấy cho mượn tiền ngày 25/11/2023 (BL.83).
8
Lập luận của nguyên đơn là có căn cứ, vì: giao dịch vay mượn tiền diễn ra
cùng ngày 25/11/2023 với Hợp đồng ủy quyền; tại Giấy cho mượn tiền ngày
25/11/2023 có ghi rõ nội dung là người vay tiền thế chấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số thửa 740 tờ bản đồ số 56 tại đường I phường P1, thành
phố D2; nội dung file ghi âm do nguyên đơn nộp Tòa cho thấy: khoảng một
tháng sau khi ký hợp đồng ủy quyền và Giấy cho mượn tiền, bà L đã liên hệ yêu
cầu bà T2 ký hủy hợp đồng công chứng để trả lại Giấy chứng nhận. Bị đơn vắng
mặt và không có văn bản trình bày ý kiến dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Do
vậy, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 tuyên bố vô hiệu
đối với Hợp đồng ủy quyền ngày 25/11/2023 là đúng quy định pháp luật.
Khi Hợp đồng ủy quyền ngày 25/11/2023 vô hiệu thì giao dịch vay mượn
tiền theo Giấy cho mượn tiền ngày 25/11/2023 là có hiệu lực pháp luật theo quy
định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự
một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự
giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường
hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có
liên quan.”
Để giải quyết hậu quả của Hợp đồng ủy quyền ngày 25/11/2023 bị vô hiệu
và Giấy cho mượn tiền ngày 25/11/2023, nguyên đơn đề nghị hoàn trả tiền đã
nhận và yêu cầu trả lại Giấy tờ nhà, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 131 Bộ
luật Dân sự 2015: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình
trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể
hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.”
Nhưng người giao tiền và nhận giấy tờ nhà của nguyên đơn là bà T2 - bị
đơn. Do vậy, bà T2 là người được nhận lại số tiền đã giao là 500.000.000đồng,
việc bà T2 vắng mặt và không có yêu cầu tính lãi, đồng thời bà T2 cũng là người
chịu trách nhiệm hoàn trả Giấy tờ nhà cho nguyên đơn do bà T2 là người trực
tiếp nhận giấy tờ nhà bản chính của nguyên đơn khi ký kết Hợp đồng ủy quyền,
là một bên trong giao dịch dân sự vô hiệu với bên còn lại là nguyên đơn.
Tuy nhiên, do bà T2 vắng mặt trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bản
thân bà T2 cũng đã nhận số tiền bán nhà của ông T, bà L từ bà U thanh toán là
900.000.000đồng, phía nguyên đơn không yêu cầu bà T2 hoàn trả số tiền
900.000.000đồng bán nhà này mà đồng ý tự nguyện cấn trừ số tiền
900.000.000đồng này vào số tiền gốc 500.000.000đồng và tiền lãi mà nguyên
đơn đã vay của bà T2, xem như giải quyết xong tranh chấp về việc giải quyết
hậu quả pháp lý của việc tuyên vô hiệu Hợp đồng ủy quyền giữa vợ chồng
nguyên đơn với bà T2. Đề nghị này là tự nguyện và phù hợp pháp luật nên được
chấp thuận.
[2.2] Về yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Huỳnh
Thị Thục U:
9
Tại Đơn kháng cáo, bà U cho rằng bà giao dịch hợp pháp khi nhận chuyển
nhượng nhà đất của nguyên đơn thông qua bà T2 đại diện thực hiện giao dịch
theo Hợp đồng ủy quyền ngày 25/11/2023.
Xét thấy:
Yêu cầu đòi nhà của bà U đã bao gồm việc yêu cầu công nhận Hợp đồng
mua bán nhà ngày 08/12/2023.
Nhà đất của nguyên đơn được định giá 2.229.422.000đồng tại thời điểm
trong khoảng 06 tháng theo Chứng thư số 496 ngày 15/09/2025, trong khi giao
dịch diễn ra trước đó vào tháng 12/2023, do đó giá trị nhà đất có thể thay đổi.
Số tiền bà U thanh toán cho bà T2 để mua căn nhà này là 900.000.000đồng
bằng hình thức chuyển khoản, có xác nhận bằng tin nhắn Zalo tại thời điểm đó.
Bà U thừa nhận giá nhà đất bà T2 chào bán thấp hơn giá thị trường nên bà U tin
mình mua được căn nhà phù hợp túi tiền.
Bà U thực tế có xem nhà đất, tuy không gặp chủ nhà là ông T bà L nhưng
biết họ là chủ nhà và biết bà T2 là người đại diện của chủ nhà để mua bán theo
Hợp đồng ủy quyền ngày 25/11/2023. Vậy, về mặt pháp lý, bà U có biết và có
kiểm tra, nhưng việc kiểm tra có phần vội vàng do nghĩ mình mua được nhà đất
với giá hời.
Theo khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014: Hợp đồng chuyển nhượng
nhà đất phải được công chứng hoặc chứng thực và có hiệu lực từ thời điểm công
chứng, chứng thực.
Với những sự kiện này, thể hiện bà U tuy là người mua ngay tình nhưng
giao dịch nhận chuyển nhượng nhà đất với bà T2 vẫn bị vô hiệu theo quy định
tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Trường hợp tài sản phải đăng
ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân
sự với người thứ ba bị vô hiệu”.
Do Hợp đồng mua bán nhà ở ngày 08/12/2023 vô hiệu nên yêu cầu của bà
U về việc buộc chủ nhà đang cư ngụ trong nhà phải giao nhà là không được
chấp nhận.
Giải quyết hậu quả do Hợp đồng mua bán nhà ở ngày 08/12/2023 vô hiệu,
tuy bà U không yêu cầu nhưng việc giải quyết này là cần thiết và triệt để trong
vụ án.
Tại phiên tòa, các đương sự đề nghị ông T và bà L với tư cách là chủ nhà sẽ
hoàn trả cho bà U số tiền 800.000.000đồng và bà U đồng ý hoàn trả lại giấy tờ
nhà đất cho ông T, bà L.
Xét thấy, bà T2 tuy là người nhận tiền của bà U thanh toán mua nhà, nhưng
bà T2 nhận với tư cách người được vợ chồng chủ nhà ủy quyền, do vậy, nay các
bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, cần ghi nhận việc ông T bà L tự
nguyện hoàn trả 800.000.000đồng cho bà U và bà U hoàn trả lại Giấy tờ bản
10
chính nhà đất cho ông T, bà L để giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô
hiệu được triệt để.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh đề nghị chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm để công nhận sự
thỏa thuận của các đương sự.
Xét thấy thỏa thuận của các bên là tự nguyện và phù hợp quy định pháp
luật, không trái đạo đức xã hội, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều
308 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015: chấp nhận kháng cáo của bà U, sửa bản án sơ
thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa.
Án phí dân sự được tính lại theo quy định tại khoản 2 Điều 148 và Điều
147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa
án, như sau:
Các bên đương sự gồm vợ chồng nguyên đơn và bà U phải chịu án phí sơ
thẩm là 36.000.000đồng (đối với số tiền đã thỏa thuận thanh toán là
800.000.000đồng), mỗi bên chịu ½ là 18.000.000đồng, được cấn trừ vào tạm
ứng án phí đã nộp, các bên phải nộp tiếp số tiền án phí còn lại.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc tuyên vô hiệu các hợp đồng ủy
quyền và hợp đồng chuyển nhượng nhà đất được chấp nhận, bị đơn phải chịu án
phí không giá ngạch là 600.000đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Đối với yêu cầu độc lập bà U đã rút toàn bộ thì bà U vẫn chịu án phí sơ
thẩm cho yêu cầu đã rút theo quy định tại khoản 6 Điều 29 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14, gồm: 300.000đồng cho yêu cầu buộc nguyên đơn giao
nhà và 7.000.000đồng (đối với yêu cầu nguyên đơn bồi thường chậm giao nhà
bằng tiền thuê nhà 140.000.000đồng) tổng cộng là 7.300.000đồng.
Về chi phí tố tụng: bà T2 phải chịu nhưng do phía nguyên đơn đã nộp tạm
ứng chi phí tố tụng nên nay tự nguyện chịu toàn bộ và đã thực hiện xong.
[3] Án phí phúc thẩm: Do chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm, công
nhận sự thỏa thuận nên đương sự kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm là
300.000đồng, được trừ vào tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp, bà U đã nộp đủ án
phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 138, khoản 2 Điều 148, Điều 271, 272, 273,
276, Điều 300 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
11
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí tòa án;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Huỳnh Thị Thục U.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm 669/2026/DS-ST ngày 17/4/2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh, công nhận sự thỏa thuận của
các đương sự như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự:
- Tuyên bố vô hiệu đối với Hợp đồng ủy quyền số 006919 quyển số
11/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/11/2023 tại Văn phòng công chứng K, TP.
HCM giữa vợ chồng ông Phạm Văn T, bà Bùi Thị Bích L và bà Phạm Thị T2.
- Tuyên bố vô hiệu đối với Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng
quyền sử dụng đất số 010724 quyển số 11/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày
08/12/2023 tại Văn phòng công chứng C, TP. HCM giữa bà Phạm Thị T2 đại
diện cho vợ chồng ông Phạm Văn T, bà Bùi Thị Bích L với bà Huỳnh Thị Thục
U.
- Ông Phạm Văn T, bà Bùi Thị Bích L có trách nhiệm liên đới trả cho bà
Huỳnh Thị Thục U số tiền 800.000.000đồng (Tám trăm triệu đồng).
- Bà Huỳnh Thị Thục U phải trả lại cho vợ chồng ông Phạm Văn T, bà Bùi
Thị Bích L Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với đất số CM594795 do Ủy ban nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí
Minh cấp ngày 24/12/2018, đăng ký sang tên ông Phạm Văn T ngày 22/7/2020.
Việc trả tiền và giao nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở
hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CM594795 nêu trên được các bên thực
hiện cùng lúc tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Trường hợp chậm trả tiền thì kể từ ngày bà U có đơn yêu cầu thi hành án,
hàng tháng ông T, bà L còn phải liên đới trả thêm khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự
2015 cho bà U cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên.
Sau khi thực hiện giao đủ số tiền 800.000.000đồng cho bà Huỳnh Thị Thục
U, ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị Bích L được quyền liên hệ với cơ quan có
thẩm quyền lập thủ tục hủy bỏ giao dịch công chứng số 010724 ngày
08/12/2023 tại Văn phòng công chứng C.
2. Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Huỳnh Thị Thục U về yêu cầu nguyên
đơn trả lại nhà đất tại địa chỉ số I, phường P1, Quận X, nay là phường P, Thành
phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà
ở và tài sản gắn liền với đất số CM594795 do Ủy ban nhân dân Quận 9, Thành
phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/2018 đăng ký sang tên cho ông Phạm Văn T
12
ngày 22/7/2020) và yêu cầu bồi thường thiệt hại chậm trả nhà theo mức giá cho
thuê nhà là 140.000.000đồng tính theo thời gian chiếm dụng nhà từ ngày
08/12/2023.
3. Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 25/2023/QĐ-
BPKCTT ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức (nay là Tòa
án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh) chấm dứt hiệu lực ngay khi
các bên thi hành án xong.
Ông Phạm Văn T được nhận lại số tiền đã phong tỏa tại tài khoản tiền gửi
theo Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 15/2023/QĐ-BPBĐ ngày
28/12/2023 ngay khi Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số
25/2023/QĐ-BPKCTT ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ
Đức (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh) hết hiệu lực.
4. Về chi phí tố tụng: ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị Bích L tự nguyện
chịu toàn bộ chi phí tố tụng và đã thực hiện xong.
5. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Phạm Thị T2 phải chịu án phí 600.000đồng (Sáu trăm nghìn đồng) và
nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị Bích L phải chịu án phí 18.000.000đồng
(Mười tám triệu đồng) được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 12.000.000đồng
(Mười hai triệu đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0000276 ngày 29/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức
nay Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2, Thành phố Hồ Chí Minh; Ông T và
bà L còn phải nộp số tiền án phí còn lại là 6.000.000đồng (Sáu triệu đồng) tại
Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Bà Huỳnh Thị Thục U phải chịu án phí là 25.300.000đồng (Hai mươi lăm
triệu ba trăm nghìn đồng) được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí
4.300.000đồng (Bốn triệu ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí,
lệ phí Tòa án số 0072991 ngày 09/4/2025 Chi cục Thi hành án dân sự thành phố
Thủ Đức nay Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2, Thành phố Hồ Chí Minh, bà
U còn phải nộp số tiền án phí còn lại là 21.000.000đồng (Hai mươi mốt triệu
đồng) tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
6. Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Huỳnh Thị Thục U phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000đồng (Ba
trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm
ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0029464 ngày 12/05/2026 của Thi hành án
dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, bà U đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
13
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 34,
36, 37, 38, 71 và 72 Luật thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự năm 2025.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND TP.HCM;
- TAND Khu vực 2 - TP.HCM;
- THADS TP.HCM;
- Phòng THADS Khu vực 2 - TP.HCM;
- Các đương sự;
- Lưu/25.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thị Thanh Hiền
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1754/2026/DS-PT Bản án số 1754/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1754/2026/DS-PT Bản án số 1754/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất