Bản án số 17/2023/HS-ST ngày 22/02/2023 của TAND TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 17/2023/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 17/2023/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 17/2023/HS-ST ngày 22/02/2023 của TAND TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Mỹ Tho (TAND tỉnh Tiền Giang) |
| Số hiệu: | 17/2023/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/02/2023 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Trộm cắp tài sản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 17/2023/HS-ST
Ngày: 22-02-2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến.
Các Hội thẩm nhân nhân dân:
Ông Nguyễn Tất Ái.
Bà Lê Thị Thu Yến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Như Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang tham gia
phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Bạch - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ
Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số
87/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 07/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Dương Quốc Gi, sinh năm 1989, tại Tiền Giang.
Nơi cư trú: 288 ấp T, xã S, huyện Ch, tỉnh Tiền Giang.
Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam;
tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Ngọc M và bà Nguyễn Thị
L; bị cáo có vợ, con nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền sự: không có; tiền án: 02 lần:
Ngày 03/4/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xử phạt 01 năm tù
về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật
Hình sự) theo Bản án số 26/2019/HS-ST. Chấp hành xong án phạt tù ngày 20/11/2019
(Bản án số 101/2020/HSST).
Ngày 10/12/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xử phạt 01 năm 03
tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự) theo
Bản án số 101/2020/HSST. Chấp hành xong án phạt tù ngày 26/11/2021.
Bị bắt, tạm giữ: ngày 30/6/2022; Tạm giam: ngày 06/7/2022 đến nay. Bị cáo
“Có mặt”.
2. Hoàng Đức S, sinh năm 1966, tại Tiền Giang.

2
Nơi cư trú: 113/1 đường L, phường S, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Nghề nghiệp: Chạy xe mô tô khách; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: kinh;
giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đức T và bà
Đỗ Thị L1; bị cáo có vợ, có 01 con sinh năm 1996; tiền sự: không có; tiền án:
không có. Bị cáo “Có mặt”.
* Bị hại: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1937 (Vắng mặt).
Địa chỉ: 49 đường Tr, ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau: Khoảng 02 giờ ngày 30/6/2022 Dương Quốc Gi đi xe ôm
đến nhà Hoàng Đức S nhờ chở đến khu vực Ch, phường T1, thành phố Mỹ Tho
tỉnh Tiền Giang để tìm bạn tên H mượn tiền thì Hoàng Đức S đồng ý và đưa xe
môtô hiệu ATILA biển số 63X6-0467 của Hoàng Đức S Sơn cho Dương Quốc Gi
chở. Nhưng không gặp được bạn nên về nhà của Dương Quốc Gi. Khi đi ngang nhà
số 49 đường Tr, ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang thì Dương Quốc Gi
nhìn thấy trong sân nhà của ông Nguyễn Văn C có cây cảnh (mai vàng) nên nảy
sinh ý định chiếm đoạt bán lấy tiền. Theo Dương Quốc Gi, lúc này nói với Hoàng
Đức S “Qua coi cây mai, bán cây mai lấy tiền trả nợ” thì Hoàng Đức S nói “Ai biết
mày”. Tuy nhiên Hoàng Đức S khai là không nghe rõ mà chỉ nghe Dương Quốc Gi
nói “Đứng đợi qua lấy đồ” nên đứng chờ. Dương Quốc Gi đi bộ qua bên lộ, leo rào
vào trong sân nhà của ông Cương, lấy 01 cái bay dùng trong xây dựng để gần đó
đào gốc cây mai trong chậu bêtông. Sau đó Dương Quốc Gi leo rào ra bên ngoài, đi
bộ đến gặp Hoàng Đức S nói “Đến phụ đỡ cây mai” thì Hoàng Đức S đồng ý. Do
đó Dương Quốc Gi và Hoàng Đức S quay xe lại nhà của ông Cương, tại đây Hoàng
Đức S đứng đợi bên ngoài, Dương Quốc Gi leo rào vào trong sân dùng hai tay nhổ
cây mai ra khỏi chậu. Khi Hoàng Đức S nhìn thấy Dương Quốc Gi leo rào vô thì
biết Dương Quốc Gi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là cây mai nhưng vẫn đỡ
lấy cây mai để xuống đất do Dương Quốc Gi chuyển từ trong rào ra bên ngoài. Sau
đó Dương Quốc Gi điều khiển xe môtô biển số 63X6-0467 chở Hoàng Đức S ngồi
sau ôm cây mai. Khi cả hai chạy đến đoạn đường Lê Thị Hồng Gấm, phường 6,
thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang thì bị phát hiện, Dương Quốc Gi bị bắt cùng tài
sản chiếm đoạt, giữ xe mô tô biển số 63X6-0467.
Vật chứng thu giữ theo biên bản tạm giữ đồ vật ngày 30/6/2022 gồm: 01
(một) cây mai vàng có chiều cao 1,25 mét, tàng rộng nhất 94cm, bề hoành gốc
43cm; 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Attila màu đen biển số 63X6-0467 và 01 (một)
giấy đăng ký xe môtô biển số 63X6-0467 tên Nguyễn Thị Kim L.
3
Tại Bản kết luận định giá tài sản Số: 23/KL-HĐĐGTS ngày 01/7/2022 của
Hội đồng định giá tài sản thành phố Mỹ Tho kết luận: 01 (một) cây cảnh (mai
vàng) có chiếu cao 1,25m, tàng rộng nhất 94cm, bề hoành gốc 43cm trị giá
6.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số 86/CT-VKSMT ngày 25-10-2022 của Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Dương Quốc Gi về tội “Trộm
cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự vì bị cáo đã tái phạm
nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm; bị cáo Hoàng Đức S
về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Đại diện Viện
kiểm sát giữ quyền công tố và luận tội: Các bị cáo thừa nhận có hành vi chiếm đoạt
tài sản nêu trên của bị hại, tài sản chiếm đoạt có giá trị là 6.000.000 đồng. Do đó,
Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh trên và điều
khoản truy tố. Quá trình điều tra các bị cáo thật thà khai báo được áp dụng tình tiết
giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề
nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Quốc Gi, Hoàng Đức S phạm tội
“Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 50, điểm s khoản 1
Điều 51, Điều 17, 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Dương Quốc Gi 02 đến
03 năm tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17,
38của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Hoàng Đức S 06 đến 09 tháng tù. Về xử lý
vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Điều 47 Bộ luật hình sự
tịch thu xe mô tô Attila màu đen biển số 63X6-0467 sung vào ngân sách nhà nước
do bị cáo làm phương tiện dùng vào việc phạm tội. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản
bị chiếm đoạt đã trả cho chủ sở hữu và bị hại không có yêu cầu gì, không đặt ra
xem xét.
Bị cáo Dương Quốc Gi và Hoàng Đức S nhất trí với ý kiến luận tội của đại
diện Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” về hình phạt, xử lý
vật chứng. Các bị cáo nhận thức hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại là vi pháp
pháp luật, khai báo trung thực, hứa sửa sai, không phạm tội và xin Hội đồng xét xử
xem xét xử mức hình phạt thấp để sớm về tích cực lao động, nuôi con.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn C vắng mặt. Nhưng theo tài liệu chứng cứ có
trong hồ sơ bị hại trình bày: khoảng 03 giờ sáng ngày 30/6/2022 ông phát hiện cây
mai trồng trong chậu khoảng 30 năm để trong sân trước nhà 49 Trần Nguyên Hãn,
ấp Mỹ An, xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang bị nhổ lấy đi mất do
leo rào vào vì nhà ông có hàng rào kiên cố và cổng khoá. Ông đã nhận lại tài sản bị
mất nên không có yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
4
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố
Mỹ Tho, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo,
bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố
tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp
pháp.
[2] Tại phiên tòa, sự thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo phù hợp với
lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án
nên Hội đồng xét xử đủ cở sở kết luận: Khoảng 02 giờ 20 ngày 30/6/2022 tại nhà
của ông Nguyễn Văn C số 49 Trần Nguyên Hãn, ấp Mỹ An, xã Mỹ Phong thành
phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Dương Quốc Gi và Hoàng Đức S thực hiện hành vi
chiếm đoạt tài sản 01 (một) cây cảnh (mai vàng) của ông Cương với giá trị tài sản
các bị cáo chiếm đoạt là 6.000.000 đồng. Do đó, các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp
tài sản”. Tội phạm và hình phạt của bị cáo Hoàng Đức S được quy định tại khoản 1
Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Dương Quốc Gi đã tái phạm theo
Bản án số 101/2020/HSST, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội
do cố ý nên được coi là tái phạm nguy hiểm nên tội phạm và hình phạt của bị cáo
được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền
sở hữu tài sản của bị hại; làm ảnh hưởng đến trật tự, an ninh ở địa phương. Khi
thực hiện tội phạm các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức
được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố
ý thực hiện nhằm thỏa mãn lợi ích cá nhân. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình
phạt nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ do hành vi của bị cáo gây ra nhằm
giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[4] Các bị cáo thực hiện hành vi chiếm tài sản của bị hại, không có sự bàn
bạc, thỏa thuận, phân công nhiệm vụ với nhau. Bị cáo Giàu là người rủ rê, trực tiếp
thực hiện tội phạm. Bị cáo Sơn là đồng phạm giúp sức theo khoản 1,3 Điều 17 của
Bộ luật hình sự. Bởi chứng kiến và biết bị cáo Dương Quốc Gi thực hiện hành vi
chiếm đoạt tài sản của bị hại nhưng bị cáo Hoàng Đức S không ngăn cản, cùng bị
cáo Dương Quốc Gi thực hiện tội phạm.
[5] Về nhân thân, bị cáo Dương Quốc Gi đã tái phạm, chưa được xóa án tích
mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này được coi là tái
phạm nguy hiểm. Chứng tỏ bị cáo không có ý thức tự giác tuân thủ, chấp hành
pháp luật. Bị cáo Hoàng Đức S không có tiền, tiền sự; nhưng vào năm 1993 bị cáo đã bị
kết án về tội này nên lần phạm tội này không được xem là phạm tội lần đầu và thuộc
trường hợp ít nghiêm trọng. Tuy nhiên, tại cơ q uan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo
5
có thái độ thành khẩn khai báo. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nh
trách nhiệm hình sự quy định tại s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về xử lý vật chứng: Cây cảnh (mai vàng) trả cho ông Cương vào ngày
06/7/2022 là có căn cứ. Đối với xe môtô nhãn hiệu Attila màu đen biển số 63X6-
0467 của Nguyễn Thị Kim L. Tuy nhiên bà Liên khai đã bán, giao xe cho người
mua nên không có quyền lợi, nghĩa vụ về tài sản này là phù hợp với lời khai của bị
cáo Hoàng Đức S khai là người mua nhưng chưa làm thủ tục đăng ký đối với xe mô
tô 63X6-0467 nên xe này thuộc quyền sở hữu của bị cáo. Nhưng bị cáo dùng xe mô
tô 63X6-0467 làm phương tiện để bị cáo Dương Quốc Gi chở bị cáo thực hiện hành
vi chiếm đoạt tài sản của bị hại nên xe mô tô 63X6-0467 trực tiếp liên quan đến tội
phạm nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2
Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình hình; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
[7] Về bồi thường dân sự: Ông Nguyễn Văn C nhận lại tài sản bị chiếm đoạt
nói trên, không ai có yêu cầu gì, không đặt ra xem xét.
[8] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho phân tích tính chất
mức độ phạm tội; đặc điểm nhân thân, tình tiết giảm nh của các bị cáo. Đề nghị
Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Dương Quốc Gi 02 đến 03 năm tù; bị cáo Hoàng
Đức S 06 đến 09 tháng tù.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở, phù hợp qui định của pháp luật và
nhận định trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Dương Quốc Gi, Hoàng Đức S phạm tội “Trộm cắp tài
sản”.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều
38, khoản 1, 3 Điều 17, 58 của Bộ Luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Dương Quốc Gi 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị
bắt, tạm giữ là ngày 30-6-2022.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38,
khoản 1, 3 Điều 17, Điều 58 của Bộ Luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Hoàng Đức S 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng
hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;
01 (Một) xe môtô nhãn hiệu Attila màu đen biển số 63X6-0467, 01 giấy
đăng ký xe môtô biển số 63X6-0467 tên Nguyễn Thị Kim L tịch thu sung vào ngân
sách nhà nước.
6
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28 tháng 10 năm
2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo Dương Quốc Gi, Hoàng Đức S phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn)
đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được
bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tiền Giang;
- VKSND TP.Mỹ Tho, Tiền Giang;
- Chi cục THADS TP.Mỹ Tho, Tiền Giang; (Đã ký)
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu.
Nguyễn Hoàng Yến
7
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Thu Yến Nguyễn Tất Ái Nguyễn Hoàng Yến
8
9
10
11
12
13
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm