Bản án số 166/2024/HC-PT ngày 03/05/2024 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 166/2024/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 166/2024/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 166/2024/HC-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 166/2024/HC-PT ngày 03/05/2024 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại Đà Nẵng |
| Số hiệu: | 166/2024/HC-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 03/05/2024 |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2023/HC-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
P CAO
TNG
Bản án số: 166/2024/HC-PT
Ngày: 03-5-2024
V/v Khiu kin quy
CI CH T NAM
c lp - T do - Hc
C CI CH T NAM
P CAO TNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có
:
Th- Ch to :
:
ông Lê Tự
ông Võ Ngọc Thông
ông Phạm Tồn
- Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thị Trang - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: bà Bùi Ngô Ý Nhi - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân
cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kon
Tum, mở phiên toà trực tuyến xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số
321/2023/TLPT-HC ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc:
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2023/HC-ST ngày 22 tháng 9 năm
2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum bị kháng cáo.
Giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: ông Hoàng Văn Đ; địa chỉ: thôn M, xã B, huyện N, tỉnh
Kon Tum.
- Người bị kiện: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K.
ông Nguyễn Văn L – Giám đốc.
ông Trịnh Ngọc H – Phó Giám đốc
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh K.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Kon Tum.
2. Bà Ninh Thị X;

2
3. Ông Tống Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị Tuyết H1;
Cùng địa chỉ: Thôn M, xã B, huyện N, tỉnh Kon Tum.
4. Ông Thao Đ2 và bà Y C; Cùng địa chỉ: thôn T, xã B, huyện N, tỉnh Kon
Tum.
Người kháng cáo: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thao Đ2 và
bà Y C.
1. Hoàng Văn Đ
Ngày 19/12/2002 ông Đ được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ thửa đất số
22, tờ bản đồ số 37, diện tích 5.221m
2
tại thôn T, xã B, huyện N. Nguồn gốc do
khai hoang, sau năm 2002 có trồng cây ăn trái nhưng bị chết, năm 2008 trồng lại
nhưng ông đi chữa bệnh nên không quản lý. Năm 2011, thấy ông Thao Đ2 phát
dọn để cây cao su con trên đất vì ông Đ2 xin để nhờ, đến năm 2021 ông phát hiện
ông Đ2 đã trồng cây cao su trên đất nên tháng 6/9/2022 ông làm khiếu kiện việc
ông Đ2 đã có GCNQSDĐ chồng lên đất của ông và đã chuyển nhượng cho ông
Tống Văn Đ1, được sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp GCNQSDĐ diện tích
18.607,3m
2
(thửa đất số 420, diện tích 13.858,1m
2
đất tranh chấp; thửa đất số 421,
diện tích 4.749,21m
2
). Nay yêu cầu hủy một phần diện tích 4.389 m
2
đất, thửa số
420, GCNQSDĐ cấp ngày 29/4/2022 cấp cho ông Đ1 và bà H1 để công nhận cho
ông theo kết quả đo đạc thực tế.
1. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K
Không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Đ. Về nguồn gốc đất: Ngày
17/02/2016, ông Thao Đ2 và vợ là bà Y C được Ủy ban nhân dân huyện N cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số BT 157079, thửa đất số 02, tờ bản đồ số 47 với diện tích 18.607,3m
2
(đất
trồng cây lâu năm 13.858,1m
2
và đất nuôi trồng thủy sản 4.749,2m
2
). Tháng
5/2022 ông Thao Đ2 và bà Y C chuyển nhượng toàn bộ cho ông Tống Văn Đ1 và
bà Nguyễn Thị Tuyết H1 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được
Ủy ban nhân dân xã P chứng thực ngày 25/4/2022. Sau khi người sử dụng đất hoàn
thành nghĩa vụ tài chính theo quy định, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai
huyện N hoàn thiện hồ sơ trình Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ1 và bà H1, thửa đất số 420, diện tích
13.858,1m
2
và thửa đất số 421, tờ bản đồ số 47 diện tích 4.749,21m
2
. Mặt khác, tại
thời điểm giải quyết thủ tục hành chính cho ông Đ1 và bà Tuyết H1, không phát
sinh tranh chấp về đất đai, đồng thời việc cấp này không làm thay đổi hình thể,
kích thước, diện tích và vị trí của thửa đất so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 17/02/2016 nên đúng theo quy định của
pháp luật.
1.
UBND huyện N :

3
Việc cấp giấy chứng nhận và chuyển nhượng thửa đất thống nhất với trình
bày của người bị kiện. Nguồn gốc đất cấp GCNQSDĐ cho ông T Đoàn năm 2016
là do diện tích đất này tại thời điểm làm thủ tục cấp, gia đình ông Thao Đ2 đã trồng
cây cao su và đang khai thác mũ, sử dụng ổn định, không có tranh chấp, các thủ tục
UBND xã P thực hiện đầy đủ, đúng quy định phòng Tài nguyên tham mưu nên
UBND huyện cấp bìa là đúng quy định.
Đối với vị trí đất đã được cấp GCNQSDĐ của hộ ông Hoàng Văn Đ tại thửa
đất số 22, tờ bản đồ số 37, diện tích 5.221m
2
, đất trống cây lâu năm thuộc
GCNQSD đất số W112432 đã được UBND huyện N cấp ngày 19/12/2002. Từ khi
được cấp GCNQSDĐ, hộ ông Hoàng Văn Đ không sử dụng đất liên tục. Đồng
thời, năm 2002 đo đạc cấp GCNQSD là đo đạc giải thửa, giả định, không có tọa
độ. Không có điểm mốc cố định để kiểm tra, đối chiếu nên không xác định được vị
trí đất ngoài thực địa.
Ninh Thị X: Thống nhất lời trình bày của người khởi kiện.
Tống Văn Đ1 Nguyễn Thị Tuyết H1:
Năm 2022 gia đình tôi có nhận chuyển nhượng của ông Thao Đ2 và bà Y C
một thửa đất vườn với diện tích 13.858,1m
2
và 01 ao cá diện tích 4.749,2 m
2
đã có
GCNQSDĐ, tại thời điểm nhận chuyển nhượng đất của ông Thao Đ2 và bà Y C đã
trồng cây cao su từ lâu và khai thác mũ, trước khi nhận chuyển nhượng tôi biết rõ
hộ ông Thao Đ2 sử dụng ổn định, không tranh chấp với ai. Do đó, không đồng ý
với yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Thao Đ2 Y C:
Đất tranh chấp có nguồn gốc do bố mẹ tôi khai hoang từ năm 1986 lúc đầu
gia đình canh tác trồng lúa và mì. Năm 1999 đất trồng mì chuyển sang trồng cao su
hạt theo dự án nhưng cây không phát triển, năm 2011 trồng lại cây cao su bầu cho
đến nay. Năm 2016 tôi được cấp diện tích 18.607,3m
2
đất theo GCNQSDĐ, năm
2022 tôi chuyển nhượng toàn bộ cho ông Tống Văn Đ1, với giá 700.000.000 đồng.
-
Căn cứ Điều 3; Điều 30; Điều 32; khoản 2 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều
193, Điều 357, 358, 359 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Điều 101; điểm d
khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính phủ.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn Đ.
1. Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT157079, số vào
sổ 00994 thửa đất số 420 tờ bản đồ số 47 diện tích 13.858,1 m
2
do Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh K cấp cho ông Tống Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị Tuyết H1 ngày
29/4/2022.
2. Công nhận ông Hoàng Văn Đ được quyền sử dụng diện tích 4.389 m
2
đất
nằm trong diện tích 18.607,3m
2
đất của ông Đ1, vị trí tại: Thôn T, xã B, huyện N,
tỉnh Kon Tum, có tứ cận như sau:

4
Phía Đông giáp đất ông Đ1 159,1m.
Phía Tây giáp đất ông Đ1 các cạnh dài 34,5m; 31,7m; 36,9m; 47,9 m
Phía Nam giáp đất ông Đ1 dài 43,5m
Phía Bắc giáp đất ông Đ1 dài 5,9m.
3. Ông Tống Văn Đ1 có quyền khởi kiện ông Hoàng Văn Đ để yêu cầu bồi
thường thiệt hại toàn bộ số lượng cây cao su trên diện tích 4.389 m
2
đất công nhận
cho ông Đ bằng một vụ án dân sự khác.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí hành chính sơ thẩm và
thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/10/2023, ông Thao Đ2, bà Y C nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án
sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm bác yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn
Đ.
Người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại Sổ mục kê ngày 15/10/2002 ông Hoàng Văn Đĩnh có tên đăng ký thửa
đất 22, tờ bản đồ số 37, với diện tích 5.221m
2
. Ngày 19/12/2002, UBND huyện N
cấp Giấy CNQSD đất hộ ông Hoàng Văn Đ tại thửa đất số 22, tờ bản đồ số 37, với
diện tích 5.221m
2
đất trồng cây lâu năm.
Đối với thửa đất số 420, tờ bản đồ số 47 diện tích 13.858,1m
2
do ông Tống
Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị Tuyết H1 nhận chuyển nhượng của ông Thao Đ2, bà Y
C năm 2022. Thao Đ2 Y C
2
.
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/8/2023, toàn bộ diện tích
tranh chấp chỉ có 4.389m
2
cấp cho ông Đ năm 2002 nằm trong thửa đất số 420 tờ
bản đồ số 47 diện tích 13.858,1m
2
GCNQSDĐ số DĐ 186453 cấp ngày 29/4/2022
cấp cho ông Tống Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị T1 (trước đó là diện tích 18.607,3m
2
,
thửa đất 02 tờ bản đồ số 47 GCNQSDĐ số BT 157079 do UBND huyện N cấp cho
ông Thao Đ2 và bà Y C ngày 17/02/2016). Do đó, có cơ sở khẳng định việc cấp
GCNQSDĐ cho ông Đ2 đã chồng lên diện tích đất của ông Đ.
Theo lời khai của ông Đ và ý kiến của UBND huyện N là cơ quan cấp
GCNQSDĐ cho ông Hoàng Văn Đ là đúng theo quy định tại Điều 36 Luật đất đai
năm 1993, ông Đ thừa nhận khi được Ủy ban nhân dân huyện N cấp GCNQSDĐ
năm 2002 ông không sử dụng đất liên tục, tuy nhiên UBND không có quyết định
thu hồi.

5
Do đó, HĐXX sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn Đ,
hủy một phần GCNQSDĐ số DĐ 186453, thửa đất số 420 tờ bản đồ số 47 diện tích
13.858,1m
2
do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp cho ông Tống Văn Đ1 và
bà Nguyễn Thị Tuyết H1 ngày 29/4/2022 là có căn cứ. Đơn kháng cáo của ông
Thao Đ2 và bà Y C không có cơ sở để chấp nhận.
[1] Về nguồn gốc sử dụng đất:
Đối với thửa đất của ông Hoàng Văn Đ: năm 2002 UBND huyện N lập
phương án đo đạc bản đồ giải thửa, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính để cấp
GCNQSDĐ cho 04 xã; trong đó có hộ ông Đ được cấp diện tích 5.221m
2
, mục
đích trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 22, tờ bản đồ số 37, xã B. Cùng thời điểm
này, theo hồ sơ cấp đất năm 2002, ông Thao Đ2 được cấp thửa đất số 23, tờ bản đồ
số 37, xã B, diện tích 7.320m
2
, mục đích đất trồng lúa; giữa hai thửa đất số 22 và
số 23 là khoảng đất trống.
[2] Đối với thửa đất của ông Đ1, bà H1 đang sử dụng:
Thửa đất số 420 tờ bản đồ số 47 diện tích 13.858,1m
2
hiện ông Đ1 đang
quản lý sử dụng có nguồn gốc do ông Đ1 nhận chuyển nhượng của ông Đ2 vào
năm 2022. Căn cứ hồ sơ cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất 420, diện tích
13.858,1m
2
và thửa số 421, diện tích 4.749,21m
2
thuộc tờ bản đồ số 47 của ông Đ1
và lời khai của ông Thao Đ2: nguồn gốc đất do ông Thao Đ2 khai hoang từ năm
1988, gia đình canh tác trồng lúa và mì đến năm 2011, trồng cao su, năm 2016
được cấp GCNQSDĐ, diện tích 18.607,3m
2
gia đình ông trực tiếp sử dụng ổn định,
khai thác cao su; đến năm 2022 ông Thao Đ2 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên
cho vợ chồng ông Đ1, bà H1.
[3] Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và Sơ đồ trích lục thửa đất ngày
15/8/2023 của Tòa án cấp sơ thẩm, diện tích 4.389 m
2
tranh chấp nằm trong diện
tích 18.607,3m
2
đất của ông Đ1, có tứ cận như sau:
Phía Đông giáp đất ông Đ1 159,1m.
Phía Tây giáp đất ông Đ1 các cạnh dài 34,5m; 31,7m; 36,9m; 47,9 m
Phía Nam giáp đất ông Đ1 dài 43,5m
Phía Bắc giáp đất ông Đ1 dài 5,9m.
[4] Toàn bộ diện tích đất tranh chấp 4.389 m
2
nằm trong thửa đất số 420, tờ
bản đồ số 47, diện tích 13.858,1m
2
, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ
186453 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp ngày 29/4/2022 cho ông Tống
Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị Tuyết H1, trước đây là thửa đất số 02 tờ bản đồ số 47,
diện tích 18.607,3m
2
thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 157079 do
UBND huyện N cấp cho ông Thao Đ2 và bà Y C ngày 17/02/2016.
[5] Mặc dù Ủy ban nhân dân huyện N cho rằng hồ sơ cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông Thao Đ2, bà Y C là đúng trình tự qui định tại Điều 20
Nghị định 143/NĐ-CP nhưng theo hồ sơ cấp đất năm 2002, ông Đ được cấp thửa

6
đất số 22, diện tích 5.221m
2
còn ông Thao Đ2 được cấp thửa đất số 23, diện tích
7.320m
2
, giữa hai thửa đất là khoảng đất trống; căn cứ Biên bản xem xét thẩm định
tại chổ và Sơ đồ trích lục thửa đất ngày 15/8/2023 thấy rằng: diện tích 4.389 m
2
tranh chấp của ông Đ đã được UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất ngày 19/12/2002 nằm trong diện tích 18.607,3 m
2
thửa đất số 2, tờ bản đồ
số 47, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 157079 do UBND huyện N cấp
cho ông Thao Đ2 và bà Y C ngày 17/02/2016.
[6] Về quá trình quản lý, sử dụng đất tranh chấp:
Ông Đ cho rằng sau khi ông được cấp GCNQSDĐ năm 2002 ông có trồng
cây ăn trái nhưng không phát triển, năm 2008 trồng lại; sau đó đến năm 2011, ông
Đ2 xin để nhờ cây cao su. Như vậy, từ khi được cấp đất năm 2002, ông Đ không
sử dụng đất liên tục nhưng UBND huyện N không có quyết định thu hồi.
[7] Ông Thao Đ2 cho rằng toàn bộ diện tích đất tranh chấp do ông khai
hoang từ năm 1986 ông trồng lúa và mì, từ năm 2011 đến nay ông trồng cây cao
su, sử dụng ổn định và khai thác mủ cho đến nay. Tuy nhiên, các tài liệu hồ sơ cấp
đất thể hiện: năm 2002 ông Đ2 được cấp thửa đất số 23, tờ bản đồ số 37, diện tích
7.320m
2
; đến năm 2016 cũng tại vị trí này ông Đ2 được cấp thửa đất số 02 tờ bản
đồ số 47, diện tích 18.607,3m
2
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT
157079 do UBND huyện N cấp ngày 17/02/2016, trong đó diện tích 13.858,1m
2
đất trồng cây lâu năm, 4749,1m
2
đất nuôi trồng thuỷ sản và thửa đất số 22 của ông
Đ được cấp năm 2002 không còn.
[8] Từ những phân tích trên có cơ sở xác định việc UBND huyện N cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 157079 cho ông Thao Đ2 và bà Y C ngày
17/02/2016 là cấp chồng lên đất của ông Đ diện tích được xác định là 4.389 m
2
,
dẫn đến việc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 157079 đối với
thửa đất số 420, tờ bản đồ số 47, diện tích 13.858,1m
2
cho ông Đ1, bà H1 là không
đúng quy định pháp luật.
[9] Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ là có cơ sở,
tuyên hủy một phần GCNQSDĐ số DĐ 186453, thửa đất số 420 tờ bản đồ số 47,
diện tích 13.858,1m
2
do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp cho ông Tống
Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị Tuyết H1 ngày 29/4/2022 là có căn cứ.
[10] Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên công nhận ông Đ được quyền sử
dụng diện tích 4.389 m
2
đất nằm trong diện tích 18.607,3m
2
đất của ông Đ1, vị trí
tại: thôn T, xã B, huyện N, tỉnh Kon Tum là không đúng qui định tại điểm b khoản
2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, theo đó trong vụ án hành chính Tòa án không
có quyền quyết định công nhận đương sự được quyền sử dụng đất đối với một thửa
đất cụ thể. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với một thửa đất cụ
thể do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định pháp luật về đất
đai.
[11] Tranh chấp về bồi thường thiệt hại số lượng cây cao su trên phần đất
diện tích 4.389 m
2
và tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Thao

7
Đ2, bà Y C với ông Đ1, bà H1 sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác, nếu
các bên có yêu cầu.
[12] Ông Thao Đ2 và bà Y C là người cao tuổi được miễn án phí phúc thẩm.
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính;
1. Bác kháng cáo của ông Thao Đ2 và bà Y C;
Sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2023/HC-ST ngày 22 tháng 9 năm
2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn Đ.
Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 186453, số vào sổ
CS01974 ngày 29/4/2022 đối với thửa đất số 420, tờ bản đồ số 47, diện tích
13.858,1 m
2
do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp cho ông Tống Văn Đ1 và
bà Nguyễn Thị Tuyết H1.
2. Án phí hành chính sơ thẩm:
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K phải chịu 300.000đ.
Hoàn trả ông Hoàng Văn Đ3 300.000đ tiền án phí hành chính sơ thẩm đã
nộp tại biên lai số 0000051 ngày 08/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kon
Tum.
3. Án phí hành chính phúc thẩm:
Ông Thao Đ2 và bà Y C được miễn án phí hành chính phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSNDCC tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Kon Tum;
- Cục THADS tỉnh Kon Tum;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu HSVA, P.HCTP, LT.
TM. H M
TH- CH T
(Đã ký)
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm