Bản án số 208/2026/HS-PT ngày 31/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 208/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 208/2026/HS-PT ngày 31/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 208/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/03/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Văn C. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Ch ta phiên ta: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Lộc;
Ông Nguyễn Hữu Lâm.
- Thư phiên tòa: Hồ Thị Hương Trầm - T Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên toà: Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2026, ti trsTòa án nhân dân Thành phố Hồ C
Minh (sở 2) xét xphúc thẩm công khai vụ án hình sphúc thẩm thụ lý số:
29/2026/TLPT-HS ngày 15 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Việt T, do
kháng cáo của bị hi ông Nguyễn n C đối với Bản án hình sthẩm số:
129/2025/HS-ST ngày 02 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 18 -
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo không kháng cáo: Nguyễn Việt T, sinh năm 1980 ti tỉnh Hậu
Giang; hộ khẩu thường trú: Khóm G, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau (nay là xã
C, tỉnh Mau); chỗ ở: khu phố T, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương
(nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học
vấn: không biết chữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới
tính: nam; con ông Nguyễn Văn B con bà Ngô Thị N; bị cáo có vợ và chưa có
con; tiền án, tiền sự: không; bị o bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi trú,
có mặt ti phiên tòa.
- Bị hại kháng cáo: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1963; địa chỉ: Khu
phố K, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ca bị hại: Ông Lê Minh P, sinh
năm 1998; ông Phan Mnh T1, sinh m 1989; c Luật sư thuộc Công ty L
thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; Luật Minh P mặt, các Luật sư Phan
Mnh T1 có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 208/2026/HS-PT
Ngày 31-3-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến ti phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Việt T thuê nhà của ông Phm n Q cnh đường D, khu phố T,
phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí
Minh) để bán chuối chiên. Ông Nguyễn Văn C nhà bên cnh nhà T thuê
bán nước uống.
Khoảng 18 giờ ngày 09/8/2023, con chó của T chy sang phía trước cửa
nhà ông C đi vệ sinh. Lúc này, ông C đang cầm cây chổi trên tay nên đập cây chổi
xuống dưới nền nhà thì con chó kêu lên bỏ chy. T nghĩ ông C đánh con chó nên
hai người xảy ra mâu thuẫn cự cãi nhau. T bực tức liền nhổ cây tre dài khoảng
1,5m cắm gốc cây xanh phía trước nhà ông C đánh ông C vùng tay, chân thì
ông C cầm chổi n đỡ nên cây tre bị gãy. Sau đó, T bỏ cây tre gãy li chy về nhà
kiếm hung khí nhưng không kiếm được gì nên T quay ra thấy cây tre dài khoảng
1,6m dựng gốc cây phía trước nhà T n cầm chy sang tiếp tục đánh ông C
nhiều cái vào vùng tay chân. Lúc y, người dân đến uống nước nhà ông C
nhìn thấy sự việc nên vào can ngăn, T vứt bỏ cây tre, rồi đi về. Tối cùng ngày,
ông C thấy tay trái tê, chân gối trái sưng đỏ nên mua thuốc giảm đau cao
dán.
Sáng ngày 10/8/2023, ông C đến Bệnh viện Đ khám thì được bác chuẩn
đoán “Viêm màng hot dịch viêm bao n” cấp thuốc uống, dặn tái khám.
Ngày 14/8/2023, ông C tái khám thì bác sĩ chẩn đoán “Chấn thương khủy tay, bàn
tay, khớp gối trái”. Cùng ngày 14/8/2023, ông C đến Công an A trình o sự
việc nhưng không yêu cầu giám định thương tích, khởi tố hình sự mà chỉ yêu cầu
Công an mời T làm việc để răn đe bồi thường tiền thuốc, viện phí cho ông C.
Sau đó, do thương tích chưa khỏi nên ngày 16/8/2023, ông C đến Bệnh viện C1
khám thì được chuẩn đn “Viêm tràn dịch khớp gối trái; tụ máu m đứt
một phần rộng ngoài đon 1/3 dưới chân trái” nhưng không điều trđây.
Ngày 17/8/2023, ông C đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh B khám được bác chuẩn
đoán “Tụ máu kèm đứt một phần cơ rộng ngoài đon 1/3 dưới chân trái, tràn dịch
khớp gối trái lượng ít” đã tiến hành phẫu thuật, nằm viện điều trị đến ngày
25/8/2023 thì xuất viện. Ngày 14/9/2023, ông C đến Công an A gửi đơn yêu
cầu giám định thương tích và xử lý hình sự đối với T (Bút lục 20 - 25, 88 - 93).
Ti Kết luận giám định số 596 ngày 11/10/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh
B kết luận về tỷ lệ thương tật của Nguyễn Văn C:
- Các kết quả chính: Chấn thương phần mềm đùi trái, đứt rộng ngoài,
đứt bán phần thẳng đùi đã phẫu thuật nối gân cơ. Vết mổ mặt ngoài đùi trái
12,5 x 0,3cm, sẹo lành. Hiện ti vận động đùi trái còn đau.
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 10% (Mười phần trăm).
- chế hình thành thương tích: Chấn thương phầm mềm đùi trái, đứt bán
phần cơ thẳng đùi: Khả năng do vật tày gây ra.
3
Ngày 02/01/2025, Nguyễn Việt TNguyễn Văn C thỏa thuận bồi thường
dân sự, ông C yêu cầu bồi thường 600.000.000 đồng nhưng T không tiền, chỉ
đồng ý bồi thường 50.000.000 đồng. Sau đó, ông C yêu cầu giám định li thương
tích thương tích vùng chân không thuyên giảm, tỷ lệ thương tật 10% thấp
và giám định li vùng khủy tay trái nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B
tiến hành trưng cầu giám định li.
Theo Kết luận giám định số 61/KLTTCTGĐ-PVPYQG ngày 12/3/2025
của Phân viện pháp y ti Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- Các kết quả chính: Sẹo kèm theo đứt bán phần cơ thẳng đùi, rộng ngoài
đùi trái yếu chân mức độ ít; Nút lồi cầu trong xương cánh tay trái; Thiểu sản động
mch đốt sống trái; thiểu sản động mch thông sau n phải; Rách sừng sau sụn
chêm trong, rách một phần dây chằng chéo trưc; Suy van tĩnh mch hiển lớn trái,
giãn tĩnh mch sâu 2 chân có suy nhẹ van nh mch sâu.
- Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sẹo mổ kích thước trung bình
đùi trái nứt lồi cầu trong xương cánh tay trái của Nguyễn Văn C ti thời điểm
giám định là: 10% (mười phần trăm).
+ Rách sừng sau sụn chêm trong, rách một phần dây chằng chéo trước: do
không chụp MRI trong lần nhập viện đầu tiên ti Bệnh viện Đ nên không
sở xác định tổn thương y phải do bị đả thương vào ngày 09/8/2023 gây ra
hay không nên không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể và cơ chế hình thành
thương tích.
+ Thiểu sản động mch đốt sống trái; thiểu sản động mch thông sau n
phảiphải; suy van tĩnh mch hiển lớn trái, giãn tĩnh mch sâu 2 chân suy nhẹ
van tĩnh mch sâu tổn thương bệnh nên không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương
cơ thể và cơ chế hình thành thương tích.
- Thương tích vùng đùi trái khuỷu tay trái của Nguyễn n C do vật
tày tác động trực tiếp gây nên.
* Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn n C yêu cầu bồi thường chi phí điều
trị thương tích, thu nhập thực tế hoặc giảm sút bị mất của bị hi, thu nhập thực tế
hoặc giảm sút bị mất của người chăm sóc và tổn thất về tinh thần với tổng số tiền
1.670.937.656 đồng. Ngày 12/02/2025, Nguyễn Việt T giao nộp 10.000.000 đồng
để bồi thường chi phí điều trị thương tích cho ông C nhưng ông C không đồng ý
nhận và đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Ti o trng số 09/CT-VKS ngày 13 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm
sát nhân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị o Nguyễn Việt T về
tội “Cố ý y thương tích”, quy định ti điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bluật
Hình sự năm 2015 (sửa đổi, b sung năm 2017).
Ti Bản án hình sự thẩm số 129/2025/HS-ST ngày 02 tháng 12 m
2025 Thông báo sửa chữa bổ sung bản án s20/TB-TA ngày 10/12/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
4
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt T phm tội “Cố ý gây thương
tích”.
2. Về áp dụng điều luật và hình pht: Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134;
điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử pht bị cáo Nguyễn Việt T 01 (một) năm tù, thời hn tù tính từ ngày bắt
bị cáo đi thi hành án.
3. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 585; 590 Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Việt T trách nhiệm bồi thường
cho bị hi ông Nguyễn Văn C 60.000.000 đồng. Bị cáo đã nộp 10.000.000 đồng
ti cơ quan Thi hành án, bị cáo còn phải tiếp tục nộp 50.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng và biện pháp tư
pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06 tháng 12 năm 2025, bị hi Nguyễn Văn C kháng cáo đề nghị tăng
hình pht đối với bị cáo yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hi đối với ông
Nguyễn n C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
ta trình bày quan điểm giải quyết vụ án:
Về thời hn kháng cáo đúng quy định nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh đưa vụ án ra t xử theo thủ tục phúc thẩm đúng thẩm quyền theo
quy định của pháp luật ti các Điều 331, 333 của Bộ luật T tụng hình sự.
Về nội dung: Sau khi xét xthẩm, bị hi ông Nguyễn Văn C đơn
kháng cáo với nội dung tăng mức hình pht đối với bị cáo tăng mức bồi thường
trách nhiệm dân snhưng không cung cấp thêm được nh tiết giảm nhẹ mới.
Nhận thấy:
- Về hình pht: Trong vụ án này, bị cáo dùng hung khí (cây tre) đánh bị hi
gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 10%, tuy tội phm do bị thực hiện
ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phm đến sức khoẻ của bị hi được pháp luật bảo
vệ. Giữa bị cáo và bị hi không có mâu thuẫn từ trước nhưng vì xuất phát từ việc
nhỏ trong sinh hot bị o hành vi dùng y tác động nhiều i vào người
bị hi cho thấy bị cáo bản chất côn đồ, cố ý thực hiện tội phm, bất chấp hậu
quả xảy ra, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, ảnh hưởng xấu đến tình hình
trật tự trị an ti địa phương, y tâm hoang mang cho người dân sinh sống ti
khu vực. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình pht 01 năm tù
đối với bị cáo là phù hợp.
- Về phần bồi thường trách nhiệm dân sự: bị hi ông Nguyễn Văn C yêu
cầu bị cáo bồi thường với tổng số tiền 1.670.937.656 đồng gồm: Chí phí khám
chữa bệnh 166.547.611 đồng; chi phí thuê phương tiện đưa đi khám chữa bệnh
124.678.600 đồng; chi phí thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc
5
417.300.000 đồng; thu nhập thực tế của bị hi trong thời gian không làm việc
được từ khi bị xâm phm cho đến ngày 26/11/2025 839.000.000 đồng; chi phí
bồi dưỡng sức khoẻ 6.173.845 đồng; chi pphục hồi sức khoẻ chức năng b
giảm sút 6.000.000 đồng bồi thường về tổn thất tinh thần 117.000.000 đồng.
Tuy nhiên, căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự, Nghị quyết
số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao và các hóa đơn, chứng từ thực tế có cơ sở chấp nhận:
+ Các khoản chi phí hợp cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức
khỏe trong khoảng thời gian bị hi điều trị ti các bệnh viện trong khoảng thời
gian từ ngày 10/8/2023 đến ngày 25/8/2023 15.697.300 đồng, gồm: chi phí
khám bệnh, chữa bệnh, tiền thuốc 2.728.275 đồng; chi phí đi li 3.600.000
đồng; chi phí bồi dưỡng sức khoẻ trong 16 ngày 1.980.000 đồng; chi phí phục
hồi sức khoẻchức năng bị mất, bị giảm sút: 6.000.000 đồng.
+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút tương ứng 01 ngày lương tối
thiểu vùng nơi trú của bị hi, cụ thể: 190.769 đồng x 16 ngày = 3.052.304 đồng.
+ Chi phí hợp phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc cho
bị hi trong 16 ngày là 190.769 đồng x 16 ngày = 3.052.304 đồng.
+ Bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hi là mười lần mức lương cơ sở do
Nhà nước quy định: 2.340.000 đồng x 10 lần = 23.400.000 đồng.
Tổng số tiền theo yêu cầu của bị hi chỉ sở để chấp nhận 45.201.908
đồng/1.670.937.656 đồng. Và ti phiên tòa thẩm, bị cáo tự nguyện bồi thường
cho bị hi với số tiền 60.000.000 đồng (bị cáo đã tự nguyện nộp 10.000.000 đồng
bồi thường cho bị hi ti Phòng Thi nh án n sự khu vực 18 - Thành phố Hồ
Chí Minh), đây stiền cao hơn số tiền được xem xét lợi cho bhi n
bản án thẩm đã ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và tuyên bị cáo phải tiếp tục
bồi thường số tiền 50.000.000 đồng cho bị hi là phù hợp.
Từ những phân tích trên, xét tính chất, mức độ nguy hiểm nh vi phm tội
của bị cáo mức độ lỗi của bị o, thấy rằng không căn cứ chấp nhận kháng
cáo tăng hình pht và tăng mức bồi thường của bị hi.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của
Bộ luật Ttụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị hi ông
Nguyễn Văn C, giữ nguyên Bản án hình sự thẩm s129/2025/HS-ST ngày
02/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh.
* Bị cáo không tranh luận.
* Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp ca bị hại trình bày: Thnhất,
kết luận giám định giám định s61/KLTTCT-PVPYQG ngày 12/3/2025 của
Phân viện Pháp y ti Thành phố Hồ Chí Minh không đúng quy định pháp luật, có
sai sót, không đảm bảo tính chính xác, khách quan, vi phm nguyên tắc cộng lùi
tỷ lệ thương tích. Cụ thể, trong kết luận này, mặc dù có thêm phần vết thương nút
lồi cầu trong xương cánh tay trái nhưng vẫn giữ tỷ lệ 10% cùng với sẹo mổ đùi
6
trái, việc gia tăng số lượng thương tích nhưng tỷ lệ tổn thương không thay đổi
hoặc không được tính toán tăng thêm thiếu căn cứ khoa học pháp lý. Sthiếu
nhất quán trong việc áp dụng bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể theo Thông tư
22/2019/TT-BYT rõ ràng cho thấy cần phải có sự xem xét, đánh giá li từ một cơ
quan giám định khác chuyên môn độc lập để đảm bảo tính chính xác tuân
thủ pháp luật. Nếu chỉ bị thương tích 10% thì bị hi sẽ không phải chống nng đi
li khó khăn như hiện nay.
Đồng thời, việc từ chối tính tỷ lệ đi với tổn thương rách sừng sau sụn chêm
trong, rách một phần dây chằng chéo trước với do không MRI trong lần nhập
viện đầu tiên, tuy nhiên, việc không chụp MRI không phải lỗi của bị hi do
chỉ định của bác sĩ ti thời điểm đó. Việc chỉ căn cứ duy nhất vào thiếu MRI ban
đầu để từ chối cứng nhắc, không phù hợp với thực tế nguyên tắc đánh giá
toàn diện các chứng ctrong vụ án hình sự. Một số tổn thương thể không được
phát hiện ngay lập tức và cần thời gian để biểu hiện rõ ràng hơn.
Từ những phân tích trên, nhận thấy các kết luận giám định hiện chưa
đảm bảo tính khách quan, toàn diện nhiều thiếu sót, chưa phản ánh đúng
mức độ tổn thương thực tế mà bị hi phải gánh chịu. Điều này ảnh hưởng trực tiếp
đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án và quyền lợi của bị hi
Về việc xác định chi phí bồi thường của Tòa án cấp thẩm chưa phù
hợp theo quy định pháp luật. Theo quy định ti các Điều 584, 585, 590 của Bộ
luật Dân sự và Điều 7 của Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân n tối cao thì việc bản án giới hn thời điểm
tính thiệt hi đến khi phẫu thuật xong vi phm nguyên tắc bồi thường toàn bộ
kịp thời. Thực tế y khoa cho thấy quá trình hồi phục sau phẫu thuật là giai đon
rất quan trọng, không thể tách rời khỏi quá trình điều trị tổng thể. Trong thời gian
này, bị hi vẫn cần được chăm sóc, điều trị, phục hồi chức năng hoàn toàn
không thể tham gia lao động để to thu nhập được. Bị hi từ một người khỏe
mnh, lao động chính trong gia đình nay phải trở thành gánh nặng trong gia
đình, phải gánh chịu nỗi đau về thể xác tổn thất nặng nề về kinh tế. Do đó, bị
hi yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí khám, chữa bệnh, tổn thất tinh thần với s
tiền 1.765.793.114 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của
bị hi ông Nguyễn Văn C.
Bị hại thống nhất nội dung o chữa ca Luật không tranh luận bổ
sung.
Bị cáo không trình bày lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên snội dung vụ án, căn cứ o các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng ti phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
7
[1] Đơn kháng cáo của bị hi Nguyễn Văn C được thực hiện trong thời hn
luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của
pháp luật.
[2] Về nội dung: ti phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phm tội như nội
dung bản án thẩm, đủ sở xác định: Khoảng 18 giờ ngày 09/8/2023, ti
khu phố K, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành
phố Hồ Chí Minh), do mâu thuẫn trong sinh hot đời sống, bị cáo Nguyễn Việt
T đã thực hiện hành vi dùng 02 cây tre đánh vào vùng tay, chân của ông Nguyễn
Văn C gây thương tích. Kết luận giám định số 596 ngày 11/10/2023 của Trung
tâm Pháp y tỉnh B kết luận về tỷ lệ thương tật của Nguyễn Văn C là 10%; kết quả
giám định li của Phân viện pháp y ti Thành phố Hồ Chí Minh ti Kết luận giám
định số 61/KLTTCT-PVPYQG ngày 12/3/2025, kết luận tỷ lệ thương tật 10%.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Việt T đã đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương
tích” quy định ti điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ
thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Việt T về tội danh, điều khoản u trên có căn cứ,
đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị hi Nguyễn Văn C, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Đối với yêu cầu tăng hình pht đối với bị cáo, xét thấy: quá trình điều
tra ti phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai o, ăn n hối cải; bị cáo phm tội
lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện nộp 10.000.000
đồng để bồi thường cho bị hi, ti phiên toà sơ thẩm, bị cáo tự nguyện bồi thường
thêm 50.000.000 đồng. Đồng thời, ti cấp phúc thẩm, bị cáo đã tự nguyện nộp bồi
thường khắc phục thêm cho bị hi số tiền 10.000.000 đồng (theo Biên lai thu tiền
số 0005275 ngày 26 tháng 3 năm 2026 ti Phòng Thi hành án khu vực 18 - Thành
phố Hồ Chí Minh). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định ti
điểm i, b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị hi kháng cáo yêu cầu tăng
hình pht đối với bị cáo nhưng không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ cho yêu
cầu kháng cáo của bị hi, mức hình pht Tòa cấp thẩm đã áp dụng cho bị
cáo phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự của bị cáo. Do đó, không căn cứ để chấp nhận kháng cáo tăng
hình pht của bị hi.
[3.2] Đối với yêu cầu giám định li thương tích, t thấy: Kết luận giám
định số 61/KLTTCTGĐ-PVPYQG ngày 12/3/2025 của Phân viện Pháp y ti
Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp, không sai sót. Do đó, yêu cầu giám định li
thương tích của bị hi không sxem xét, Hội đồng xét xử không chấp
nhận.
[3.3] Đối với u cầu tăng mức bồi thường trách nhiệm dân sự, t thấy:
ông C yêu cầu bị cáo bồi thường 1.765.793.114 đồng gồm các chi phí giai đon
phục hồi chức năng và những tổn thất nghiêm trọng về khả năng lao động của ông
C nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Mặt khác, các chi phí phẫu
thuật phát sinh sau khi t xử sơ thẩm sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi ông
C có yêu cầu. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn
8
C, giữ nguyên bản án thẩm s129/2025/HS-ST ngày 02 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh.
[4] Đi diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ CMinh đề nghị
không chấp nhận kháng cáo của bị hi là có cơ sở nên chấp nhận.
[5] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hi là không
cùng quan điểm của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
[6] Tm gi s tin 10.000.000 đồng bo Nguyn Vit T np khc phc
hu qu theo Biên lai thu tiền s0005275 ngày 26 tháng 3 m 2026 ti Phòng
Thi hành án khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bo thi hành án.
[7] Các phần quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng
nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hn kháng o, kháng nghị.
[8] Về án phí hình sự phúc thẩm: bị hi kng phải chịu án phí hình s phúc
thẩm theo quy định ti Điều 135, Điều 136 ca B lut T tng hình s năm 2015
khoản 2 Điều 23 Ngh quyết s 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 ca Ủy ban Thường v Quc hội quy định v mc thu, min, gim, thu,
np, qun lý và s dng án phí và l phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Ttụng hình
sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C. Giữ nguyên Bản
án hình sthẩm số: 129/2025/HS-ST ngày 02 tháng 12 năm 2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Điều 38
của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử pht bị cáo Nguyễn Việt T 01 (một) năm về tội “Cố ý gây thương
tích”. Thời hn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
2. Tiếp tc tm gi s tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) b o
Nguyn Vit T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005275 ngày 26 tháng 3 năm
2026 ti Phòng Thi hành án khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bo thi
hành án.
3. Căn cứ Điều 135, Điều 136 của B lut T tng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa
14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án;
Bị hi Nguyễn Văn C không phải chịu án phí phúc thẩm.
9
4. Các quyết định khác của bản án thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM;
- Phòng Hồ sơ - Công an TP. HCM;
- Tòa án nhân dân khu vực 18 - TP. HCM;
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18 - TP. HCM;
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng khác;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 18 - TP. HCM;
- UBND phường, nơi bị cáo cư trú;
- Lưu hồ sơ vụ án, VP, 20. (54)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Huỳnh Đức
Tải về
Bản án số 208/2026/HS-PT Bản án số 208/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 208/2026/HS-PT Bản án số 208/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất