Bản án số 208/2026/HS-PT ngày 31/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 208/2026/HS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 208/2026/HS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 208/2026/HS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 208/2026/HS-PT ngày 31/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 208/2026/HS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 31/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Văn C. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Ch ta phiên ta: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Lộc;
Ông Nguyễn Hữu Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hương Trầm - Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2026, ti trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh (Cơ sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số:
29/2026/TLPT-HS ngày 15 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Việt T, do
có kháng cáo của bị hi ông Nguyễn Văn C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số:
129/2025/HS-ST ngày 02 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 18 -
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo không có kháng cáo: Nguyễn Việt T, sinh năm 1980 ti tỉnh Hậu
Giang; hộ khẩu thường trú: Khóm G, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau (nay là xã
C, tỉnh Cà Mau); chỗ ở: khu phố T, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương
(nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học
vấn: không biết chữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới
tính: nam; con ông Nguyễn Văn B và con bà Ngô Thị N; bị cáo có vợ và chưa có
con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú,
có mặt ti phiên tòa.
- Bị hại có kháng cáo: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1963; địa chỉ: Khu
phố K, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ca bị hại: Ông Lê Minh P, sinh
năm 1998; ông Phan Mnh T1, sinh năm 1989; là các Luật sư thuộc Công ty L
thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; Luật sư Lê Minh P có mặt, các Luật sư Phan
Mnh T1 có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 208/2026/HS-PT
Ngày 31-3-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến ti phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Việt T thuê nhà của ông Phm Văn Q cnh đường D, khu phố T,
phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí
Minh) để bán chuối chiên. Ông Nguyễn Văn C ở nhà bên cnh nhà T thuê ở và
bán nước uống.
Khoảng 18 giờ ngày 09/8/2023, con chó của T chy sang phía trước cửa
nhà ông C đi vệ sinh. Lúc này, ông C đang cầm cây chổi trên tay nên đập cây chổi
xuống dưới nền nhà thì con chó kêu lên bỏ chy. T nghĩ ông C đánh con chó nên
hai người xảy ra mâu thuẫn cự cãi nhau. T bực tức liền nhổ cây tre dài khoảng
1,5m cắm ở gốc cây xanh phía trước nhà ông C đánh ông C ở vùng tay, chân thì
ông C cầm chổi lên đỡ nên cây tre bị gãy. Sau đó, T bỏ cây tre gãy li chy về nhà
kiếm hung khí nhưng không kiếm được gì nên T quay ra thấy cây tre dài khoảng
1,6m dựng ở gốc cây phía trước nhà T nên cầm chy sang tiếp tục đánh ông C
nhiều cái vào vùng tay và chân. Lúc này, người dân đến uống nước nhà ông C
nhìn thấy sự việc nên vào can ngăn, T vứt bỏ cây tre, rồi đi về. Tối cùng ngày,
ông C thấy tay trái tê, chân gối trái sưng đỏ nên có mua thuốc giảm đau và cao
dán.
Sáng ngày 10/8/2023, ông C đến Bệnh viện Đ khám thì được bác sĩ chuẩn
đoán “Viêm màng hot dịch và viêm bao gân” và cấp thuốc uống, dặn tái khám.
Ngày 14/8/2023, ông C tái khám thì bác sĩ chẩn đoán “Chấn thương khủy tay, bàn
tay, khớp gối trái”. Cùng ngày 14/8/2023, ông C đến Công an xã A trình báo sự
việc nhưng không yêu cầu giám định thương tích, khởi tố hình sự mà chỉ yêu cầu
Công an mời T làm việc để răn đe và bồi thường tiền thuốc, viện phí cho ông C.
Sau đó, do thương tích chưa khỏi nên ngày 16/8/2023, ông C đến Bệnh viện C1
khám thì được chuẩn đoán “Viêm tràn dịch khớp gối trái; Ổ tụ máu kèm đứt cơ
một phần cơ rộng ngoài đon 1/3 dưới chân trái” nhưng không điều trị ở đây.
Ngày 17/8/2023, ông C đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh B khám được bác sĩ chuẩn
đoán “Tụ máu kèm đứt một phần cơ rộng ngoài đon 1/3 dưới chân trái, tràn dịch
khớp gối trái lượng ít” và đã tiến hành phẫu thuật, nằm viện điều trị đến ngày
25/8/2023 thì xuất viện. Ngày 14/9/2023, ông C đến Công an xã A gửi đơn yêu
cầu giám định thương tích và xử lý hình sự đối với T (Bút lục 20 - 25, 88 - 93).
Ti Kết luận giám định số 596 ngày 11/10/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh
B kết luận về tỷ lệ thương tật của Nguyễn Văn C:
- Các kết quả chính: Chấn thương phần mềm đùi trái, đứt cơ rộng ngoài,
đứt bán phần cơ thẳng đùi đã phẫu thuật nối gân cơ. Vết mổ mặt ngoài đùi trái
12,5 x 0,3cm, sẹo lành. Hiện ti vận động đùi trái còn đau.
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 10% (Mười phần trăm).
- Cơ chế hình thành thương tích: Chấn thương phầm mềm đùi trái, đứt bán
phần cơ thẳng đùi: Khả năng do vật tày gây ra.
3
Ngày 02/01/2025, Nguyễn Việt T và Nguyễn Văn C thỏa thuận bồi thường
dân sự, ông C yêu cầu bồi thường 600.000.000 đồng nhưng T không có tiền, chỉ
đồng ý bồi thường 50.000.000 đồng. Sau đó, ông C yêu cầu giám định li thương
tích vì thương tích ở vùng chân không thuyên giảm, tỷ lệ thương tật 10% là thấp
và giám định li vùng khủy tay trái nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B
tiến hành trưng cầu giám định li.
Theo Kết luận giám định số 61/KLTTCTGĐ-PVPYQG ngày 12/3/2025
của Phân viện pháp y ti Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- Các kết quả chính: Sẹo kèm theo đứt bán phần cơ thẳng đùi, cơ rộng ngoài
đùi trái yếu chân mức độ ít; Nút lồi cầu trong xương cánh tay trái; Thiểu sản động
mch đốt sống trái; thiểu sản động mch thông sau bên phải; Rách sừng sau sụn
chêm trong, rách một phần dây chằng chéo trước; Suy van tĩnh mch hiển lớn trái,
giãn tĩnh mch sâu 2 chân có suy nhẹ van tĩnh mch sâu.
- Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sẹo mổ kích thước trung bình
đùi trái và nứt lồi cầu trong xương cánh tay trái của Nguyễn Văn C ti thời điểm
giám định là: 10% (mười phần trăm).
+ Rách sừng sau sụn chêm trong, rách một phần dây chằng chéo trước: do
không chụp MRI trong lần nhập viện đầu tiên ti Bệnh viện Đ nên không có cơ
sở xác định tổn thương này có phải do bị đả thương vào ngày 09/8/2023 gây ra
hay không nên không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể và cơ chế hình thành
thương tích.
+ Thiểu sản động mch đốt sống trái; thiểu sản động mch thông sau bên
phảiphải; suy van tĩnh mch hiển lớn trái, giãn tĩnh mch sâu 2 chân có suy nhẹ
van tĩnh mch sâu là tổn thương bệnh lý nên không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương
cơ thể và cơ chế hình thành thương tích.
- Thương tích vùng đùi trái và khuỷu tay trái của Nguyễn Văn C là do vật
tày tác động trực tiếp gây nên.
* Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn C yêu cầu bồi thường chi phí điều
trị thương tích, thu nhập thực tế hoặc giảm sút bị mất của bị hi, thu nhập thực tế
hoặc giảm sút bị mất của người chăm sóc và tổn thất về tinh thần với tổng số tiền
1.670.937.656 đồng. Ngày 12/02/2025, Nguyễn Việt T giao nộp 10.000.000 đồng
để bồi thường chi phí điều trị thương tích cho ông C nhưng ông C không đồng ý
nhận và đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Ti Cáo trng số 09/CT-VKS ngày 13 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm
sát nhân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Việt T về
tội “Cố ý gây thương tích”, quy định ti điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật
Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Ti Bản án hình sự sơ thẩm số 129/2025/HS-ST ngày 02 tháng 12 năm
2025 và Thông báo sửa chữa bổ sung bản án số 20/TB-TA ngày 10/12/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
4
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt T phm tội “Cố ý gây thương
tích”.
2. Về áp dụng điều luật và hình pht: Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134;
điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử pht bị cáo Nguyễn Việt T 01 (một) năm tù, thời hn tù tính từ ngày bắt
bị cáo đi thi hành án.
3. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 585; 590 Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Việt T có trách nhiệm bồi thường
cho bị hi ông Nguyễn Văn C 60.000.000 đồng. Bị cáo đã nộp 10.000.000 đồng
ti cơ quan Thi hành án, bị cáo còn phải tiếp tục nộp 50.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng và biện pháp tư
pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06 tháng 12 năm 2025, bị hi Nguyễn Văn C kháng cáo đề nghị tăng
hình pht đối với bị cáo và yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hi đối với ông
Nguyễn Văn C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
ta trình bày quan điểm giải quyết vụ án:
Về thời hn kháng cáo đúng quy định nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm là đúng thẩm quyền theo
quy định của pháp luật ti các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nội dung: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị hi ông Nguyễn Văn C có đơn
kháng cáo với nội dung tăng mức hình pht đối với bị cáo và tăng mức bồi thường
trách nhiệm dân sự nhưng không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ mới.
Nhận thấy:
- Về hình pht: Trong vụ án này, bị cáo dùng hung khí (cây tre) đánh bị hi
gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 10%, tuy tội phm do bị thực hiện là
ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phm đến sức khoẻ của bị hi được pháp luật bảo
vệ. Giữa bị cáo và bị hi không có mâu thuẫn từ trước nhưng vì xuất phát từ việc
nhỏ trong sinh hot mà bị cáo có hành vi dùng cây tác động nhiều cái vào người
bị hi cho thấy bị cáo có bản chất côn đồ, cố ý thực hiện tội phm, bất chấp hậu
quả xảy ra, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, ảnh hưởng xấu đến tình hình
trật tự trị an ti địa phương, gây tâm lý hoang mang cho người dân sinh sống ti
khu vực. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình pht 01 năm tù
đối với bị cáo là phù hợp.
- Về phần bồi thường trách nhiệm dân sự: bị hi ông Nguyễn Văn C yêu
cầu bị cáo bồi thường với tổng số tiền 1.670.937.656 đồng gồm: Chí phí khám
chữa bệnh 166.547.611 đồng; chi phí thuê phương tiện đưa đi khám chữa bệnh
124.678.600 đồng; chi phí thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc
5
417.300.000 đồng; thu nhập thực tế của bị hi trong thời gian không làm việc
được từ khi bị xâm phm cho đến ngày 26/11/2025 là 839.000.000 đồng; chi phí
bồi dưỡng sức khoẻ 6.173.845 đồng; chi phí phục hồi sức khoẻ và chức năng bị
giảm sút 6.000.000 đồng và bồi thường về tổn thất tinh thần 117.000.000 đồng.
Tuy nhiên, căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự, Nghị quyết
số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao và các hóa đơn, chứng từ thực tế có cơ sở chấp nhận:
+ Các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức
khỏe trong khoảng thời gian bị hi điều trị ti các bệnh viện trong khoảng thời
gian từ ngày 10/8/2023 đến ngày 25/8/2023 là 15.697.300 đồng, gồm: chi phí
khám bệnh, chữa bệnh, tiền thuốc là 2.728.275 đồng; chi phí đi li là 3.600.000
đồng; chi phí bồi dưỡng sức khoẻ trong 16 ngày là 1.980.000 đồng; chi phí phục
hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút: 6.000.000 đồng.
+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút tương ứng 01 ngày lương tối
thiểu vùng nơi cư trú của bị hi, cụ thể: 190.769 đồng x 16 ngày = 3.052.304 đồng.
+ Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc cho
bị hi trong 16 ngày là 190.769 đồng x 16 ngày = 3.052.304 đồng.
+ Bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hi là mười lần mức lương cơ sở do
Nhà nước quy định: 2.340.000 đồng x 10 lần = 23.400.000 đồng.
Tổng số tiền theo yêu cầu của bị hi chỉ có cơ sở để chấp nhận là 45.201.908
đồng/1.670.937.656 đồng. Và ti phiên tòa sơ thẩm, bị cáo tự nguyện bồi thường
cho bị hi với số tiền 60.000.000 đồng (bị cáo đã tự nguyện nộp 10.000.000 đồng
bồi thường cho bị hi ti Phòng Thi hành án dân sự khu vực 18 - Thành phố Hồ
Chí Minh), đây là số tiền cao hơn số tiền được xem xét và có lợi cho bị hi nên
bản án sơ thẩm đã ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và tuyên bị cáo phải tiếp tục
bồi thường số tiền 50.000.000 đồng cho bị hi là phù hợp.
Từ những phân tích trên, xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phm tội
của bị cáo và mức độ lỗi của bị cáo, thấy rằng không có căn cứ chấp nhận kháng
cáo tăng hình pht và tăng mức bồi thường của bị hi.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị hi ông
Nguyễn Văn C, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 129/2025/HS-ST ngày
02/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh.
* Bị cáo không tranh luận.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ca bị hại trình bày: Thứ nhất,
kết luận giám định giám định số 61/KLTTCTGĐ-PVPYQG ngày 12/3/2025 của
Phân viện Pháp y ti Thành phố Hồ Chí Minh không đúng quy định pháp luật, có
sai sót, không đảm bảo tính chính xác, khách quan, vi phm nguyên tắc cộng lùi
tỷ lệ thương tích. Cụ thể, trong kết luận này, mặc dù có thêm phần vết thương nút
lồi cầu trong xương cánh tay trái nhưng vẫn giữ tỷ lệ 10% cùng với sẹo mổ đùi
6
trái, việc gia tăng số lượng thương tích nhưng tỷ lệ tổn thương không thay đổi
hoặc không được tính toán tăng thêm là thiếu căn cứ khoa học và pháp lý. Sự thiếu
nhất quán trong việc áp dụng bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể theo Thông tư
22/2019/TT-BYT rõ ràng cho thấy cần phải có sự xem xét, đánh giá li từ một cơ
quan giám định khác có chuyên môn độc lập để đảm bảo tính chính xác và tuân
thủ pháp luật. Nếu chỉ bị thương tích 10% thì bị hi sẽ không phải chống nng đi
li khó khăn như hiện nay.
Đồng thời, việc từ chối tính tỷ lệ đối với tổn thương rách sừng sau sụn chêm
trong, rách một phần dây chằng chéo trước với lý do không có MRI trong lần nhập
viện đầu tiên, tuy nhiên, việc không chụp MRI không phải lỗi của bị hi mà do
chỉ định của bác sĩ ti thời điểm đó. Việc chỉ căn cứ duy nhất vào thiếu MRI ban
đầu để từ chối là cứng nhắc, không phù hợp với thực tế và nguyên tắc đánh giá
toàn diện các chứng cứ trong vụ án hình sự. Một số tổn thương có thể không được
phát hiện ngay lập tức và cần thời gian để biểu hiện rõ ràng hơn.
Từ những phân tích trên, nhận thấy các kết luận giám định hiện có chưa
đảm bảo tính khách quan, toàn diện và có nhiều thiếu sót, chưa phản ánh đúng
mức độ tổn thương thực tế mà bị hi phải gánh chịu. Điều này ảnh hưởng trực tiếp
đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án và quyền lợi của bị hi
Về việc xác định chi phí bồi thường của Tòa án cấp sơ thẩm là chưa phù
hợp theo quy định pháp luật. Theo quy định ti các Điều 584, 585, 590 của Bộ
luật Dân sự và Điều 7 của Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì việc bản án giới hn thời điểm
tính thiệt hi đến khi phẫu thuật xong là vi phm nguyên tắc bồi thường toàn bộ
và kịp thời. Thực tế y khoa cho thấy quá trình hồi phục sau phẫu thuật là giai đon
rất quan trọng, không thể tách rời khỏi quá trình điều trị tổng thể. Trong thời gian
này, bị hi vẫn cần được chăm sóc, điều trị, phục hồi chức năng và hoàn toàn
không thể tham gia lao động để to thu nhập được. Bị hi từ một người khỏe
mnh, là lao động chính trong gia đình nay phải trở thành gánh nặng trong gia
đình, phải gánh chịu nỗi đau về thể xác và tổn thất nặng nề về kinh tế. Do đó, bị
hi yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí khám, chữa bệnh, tổn thất tinh thần với số
tiền 1.765.793.114 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của
bị hi ông Nguyễn Văn C.
Bị hại thống nhất nội dung bào chữa ca Luật sư và không tranh luận bổ
sung.
Bị cáo không trình bày lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng ti phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
7
[1] Đơn kháng cáo của bị hi Nguyễn Văn C được thực hiện trong thời hn
luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của
pháp luật.
[2] Về nội dung: ti phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phm tội như nội
dung bản án sơ thẩm, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 18 giờ ngày 09/8/2023, ti
khu phố K, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành
phố Hồ Chí Minh), do có mâu thuẫn trong sinh hot đời sống, bị cáo Nguyễn Việt
T đã thực hiện hành vi dùng 02 cây tre đánh vào vùng tay, chân của ông Nguyễn
Văn C gây thương tích. Kết luận giám định số 596 ngày 11/10/2023 của Trung
tâm Pháp y tỉnh B kết luận về tỷ lệ thương tật của Nguyễn Văn C là 10%; kết quả
giám định li của Phân viện pháp y ti Thành phố Hồ Chí Minh ti Kết luận giám
định số 61/KLTTCTGĐ-PVPYQG ngày 12/3/2025, kết luận tỷ lệ thương tật 10%.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Việt T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương
tích” quy định ti điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ
thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Việt T về tội danh, điều khoản nêu trên là có căn cứ,
đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị hi Nguyễn Văn C, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Đối với yêu cầu tăng hình pht đối với bị cáo, xét thấy: quá trình điều
tra và ti phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phm tội
lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện nộp 10.000.000
đồng để bồi thường cho bị hi, ti phiên toà sơ thẩm, bị cáo tự nguyện bồi thường
thêm 50.000.000 đồng. Đồng thời, ti cấp phúc thẩm, bị cáo đã tự nguyện nộp bồi
thường khắc phục thêm cho bị hi số tiền 10.000.000 đồng (theo Biên lai thu tiền
số 0005275 ngày 26 tháng 3 năm 2026 ti Phòng Thi hành án khu vực 18 - Thành
phố Hồ Chí Minh). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định ti
điểm i, b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị hi kháng cáo yêu cầu tăng
hình pht đối với bị cáo nhưng không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ cho yêu
cầu kháng cáo của bị hi, mức hình pht mà Tòa cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị
cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự của bị cáo. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo tăng
hình pht của bị hi.
[3.2] Đối với yêu cầu giám định li thương tích, xét thấy: Kết luận giám
định số 61/KLTTCTGĐ-PVPYQG ngày 12/3/2025 của Phân viện Pháp y ti
Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp, không sai sót. Do đó, yêu cầu giám định li
thương tích của bị hi là không có cơ sở xem xét, Hội đồng xét xử không chấp
nhận.
[3.3] Đối với yêu cầu tăng mức bồi thường trách nhiệm dân sự, xét thấy:
ông C yêu cầu bị cáo bồi thường 1.765.793.114 đồng gồm các chi phí giai đon
phục hồi chức năng và những tổn thất nghiêm trọng về khả năng lao động của ông
C nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Mặt khác, các chi phí phẫu
thuật phát sinh sau khi xét xử sơ thẩm sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi ông
C có yêu cầu. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn
8
C, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 129/2025/HS-ST ngày 02 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh.
[4] Đi diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị
không chấp nhận kháng cáo của bị hi là có cơ sở nên chấp nhận.
[5] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hi là không
cùng quan điểm của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
[6] Tm giữ số tiền 10.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Việt T nộp khắc phục
hậu quả theo Biên lai thu tiền số 0005275 ngày 26 tháng 3 năm 2026 ti Phòng
Thi hành án khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo thi hành án.
[7] Các phần quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hn kháng cáo, kháng nghị.
[8] Về án phí hình sự phúc thẩm: bị hi không phải chịu án phí hình sự phúc
thẩm theo quy định ti Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
và khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình
sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C. Giữ nguyên Bản
án hình sự sơ thẩm số: 129/2025/HS-ST ngày 02 tháng 12 năm 2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38
của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử pht bị cáo Nguyễn Việt T 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương
tích”. Thời hn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
2. Tiếp tục tm giữ số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) bị cáo
Nguyễn Việt T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005275 ngày 26 tháng 3 năm
2026 ti Phòng Thi hành án khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo thi
hành án.
3. Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa
14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án;
Bị hi Nguyễn Văn C không phải chịu án phí phúc thẩm.
9
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM;
- Phòng Hồ sơ - Công an TP. HCM;
- Tòa án nhân dân khu vực 18 - TP. HCM;
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18 - TP. HCM;
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng khác;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 18 - TP. HCM;
- UBND phường, xã nơi bị cáo cư trú;
- Lưu hồ sơ vụ án, VP, 20. (54)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Huỳnh Đức
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 09/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 08/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 06/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 06/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm