Bản án số 162/2025/DS-PT ngày 11/09/2025 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 162/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 162/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 162/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 162/2025/DS-PT ngày 11/09/2025 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Thái Nguyên |
| Số hiệu: | 162/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 11/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 162/2025/DS-PT
Ngày: 11/9/2025
V/v: Tranh chấp kiện đòi QSD đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị An và bà Lý Thị Thuý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Thái Nguyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Ông Lương Dương
Tùng Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 11/9/2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 77/2025/DS-PT ngày
22/7/2025 về việc tranh chấp kiện đòi quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 39/2025/DS-ST ngày 16/6/2025 của Tòa án
nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên có kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2025/QĐ-PT ngày 20/8/2025;
giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
1. Ông Lương Ngọc B, sinh năm 1940; địa chỉ: Số nhà G đường T, tổ H,
phường H, thành phố Hà Nội; uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm
1978; địa chỉ: Tổ A, phường P, tỉnh Thái Nguyên; đều có mặt.
2. Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1944; địa chỉ: Số nhà G đường T, tổ H,
phường H, thành phố Hà Nội; có mặt.
Bị đơn:
1. Ông Bùi Thanh S, sinh năm 1952; có mặt.
2. Bà Lương Thị H, sinh năm 1955; có mặt.
Địa chỉ: Tổ D, phường P, tỉnh Thái Nguyên.
3. Bà Lương Thị T, sinh năm 1950; địa chỉ: Tổ A, phường P, tỉnh Thái
Nguyên; có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
2
1. Anh Bùi Thanh H1, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ I, phường P, tỉnh Thái
Nguyên; vắng mặt.
2. Anh Dương Văn Đ, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ D, phường P, tỉnh Thái
Nguyên; vắng mặt.
3. Chị Trần Thị L, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ D, phường P, tỉnh Thái
Nguyên; vắng mặt.
4. Ủy ban nhân dân tỉnh T; đại diện theo ủy quyền: Ông Kiều Quang K -
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Lương Ngọc B, bà Nguyễn Thị B1 trình bày:
Năm 1973, ông B, bà B1 có mua nhà đất của ông Trương Quang P và bà
Trần Thị H2 diện tích 536m
2
, chiều rộng 26m, chiều dài đến ruộng trồng lúa của
Hợp tác xã N1, tại tổ H, phường Đ, thành phố T. Vị trí hiện nay từ giáp số nhà
B đến cống thoát nước công cộng. Khi mua hai bên có viết giấy tờ mua bán và
được chính quyền địa phương xác nhận năm 1973. Cuối năm 1979, ông B, bà
B1 nhượng lại cho bà T một nửa phần đất, vị trí giáp với nhà ông P bây giờ,
chiều rộng 13m mặt đường, chiều dài giáp với ruộng của Hợp tác xã N1 với giá
3.000 đồng. Hai bên có viết giấy mua bán, bà T là người giữ giấy tờ mua bán
nhà đất giữa ông B, bà B1 với bà T và giấy tờ mua bán giữa ông B với ông P, bà
H2. Còn một nửa thửa đất còn lại, ông B, bà B1 cho bà H2, ông S ở nhờ vào đầu
năm 1980. Hai bên chỉ nói miệng với nhau, không có giấy tờ gì. Sau đó, ông bà
có đòi bà H2, ông S trả đất nhiều lần nhưng bà H2, ông S không trả, lúc thì bảo
trả bằng đất khác, lúc thì bảo trả tiền nhưng đều không thực hiện.
Đầu năm 2024, ông bà tiếp tục đòi thì ông S có gửi cho ông G chứng nhận
quyền sử dụng đất của ông S, thể hiện ông S đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ông bà đã cho ông S mượn. Thực tế, ông bà chỉ bán một nửa
thửa đất cho bà T, bà H2, ông S, bà T đều biết đây là thửa đất của ông bà nhưng
vẫn ký giấy tờ mua bán với nhau là không đúng. Ông B có đơn xác nhận của
cảnh sát khu vực, lãnh đạo Trường T3, ủy ban phường Đ xác nhận ông bà có
mua đất của ông P và sinh sống tại phường Đ.
Ông B, bà B1 yêu cầu Tòa án buộc gia đình ông Bùi Thanh S, bà Lương
Thị H, bà Lương Thị T trả lại diện tích 268m
2
đất, thuộc thửa số 75, 04, 02, tờ
bản đồ số 27 phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên và công nhận quyền sử
dụng đất này cho vợ chồng ông. Việc bà H, ông S mua đất của bà T, ông bà
không biết, bà T phải chịu trách nhiệm với bà H, ông S.
Bị đơn ông Bùi Thanh S trình bày:
Nguồn gốc thửa đất ông B, bà B1 yêu cầu ông trả được hình thành như sau:
phần thứ nhất, khoảng năm 1980 - 1982 mua lại quán nước của cụ Đỗ Thị Y mẹ
ông B đang sử dụng. Diện tích này phần lớn nằm trên hành lang giao thông
đường bộ; phần thứ hai, mua lại của bà Lương Thị T khoảng năm 1982-1983;
phần thứ ba: Đền bù sản lượng cho Hợp tác xã N1 năm 1991. Các thửa đất trên
3
được xác định theo Bản đồ giải thửa 299 diện tích 292m
2
, thửa 379 đo đạc năm
1986, bao gồm cả hành lang giao thông theo Nghị định 203/1982 và một phần
đất chưa sử dụng của hợp tác xã N1.
Tại thời điểm này gia đình ông đã kê khai đăng kí quyền sử dụng đất theo
chỉ thị 299/1980 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời (Bìa
trắng), diện tích xấp xỉ 200m². Năm 1995, thành phố T thực hiện đo đạc chỉnh lý
bản đồ 299, diện tích 292m² (thửa 379) được chỉnh lý thành 2 thửa:
Thửa 654, diện tích 64m², năm 1994 anh Hoàng S1 xây dựng gia đình xin
ra ở riêng, ông đã nhượng lại 1 phần diện tích là nhà bán Cafe như hiện nay, khi
cấp số đỏ chỉ còn 46,5m². Sau khi anh S1 mất, vợ anh S1 đã bán thửa đất này
cho anh D, sau đó anh D bán lại cho ông;
Thửa 653, diện tích 140m² của gia đình ông, khu đất này đã trừ hành lang
giao thông, ngoài ra cộng thêm một phần diện tích đền bù sản lượng cho hợp tác
xã nông nghiệp năm 1991, có các bản đồ kèm theo. Năm 1996, thành phố T cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 154m². Năm 1997, ông tách cho anh Bùi
Thanh H1 70m
2
. Năm 1998, ông bán 70m² tách cho anh H1 lấy tiền làm nhà trên
diện tích 84m² còn lại và đang ở đến nay. Các thửa đất nói trên đều đã được
đăng ký quyền sử dụng đất và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước, sử dụng
liên tục, ổn định, không có tranh chấp đến thời điểm 2019. Đề nghị Toà án giải
quyết bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn bà Lương Thị H trình bày:
Năm 1979-1980 ông B, bà B1 chuyển công tác về Hà Nội, có bán toàn bộ
thửa đất cho bà Lương Thị T là chị bà. Số tiền ông B, bà Bình B2 không đủ trả
tiền mua đất ở Hà Nội, anh trai bà là Lương Ngọc H3 đã bỏ ra ¾ số tiền để mua
chung đất cho gia đình ông B ở, nhiều năm sau ông B mới trả hết. Ông B cho
rằng cho gia đình bà mượn ½ đất ở Thái Nguyên là không đúng. Năm 1981-
1982, bà mua lại quán nước của ông B làm cho mẹ bà bán hàng với giá 2.000
đồng và đã trả đủ số tiền này cho ông B. Quán nước này nằm sát mép đường
Quốc lộ 3, sau này nhà nước lấy đất không được đền bù. Năm 1982-1983, quán
làm bằng tre nứa lá ọp ẹp có nguy cơ sụp đổ nên vợ chồng bà thống nhất mua lại
bếp, giếng ở đằng sau quán nước của bà Lương Thị T để mẹ bà ở phòng khi gió
bão gây nguy hiểm chết người. Bà T đã cắt cho bà phần đất từ mép giếng giáp
phần đất của bà T đến giáp cống nước hiện nay. Trên nền đất có bếp, giếng,
công trình phụ, phía sau là ruộng hợp tác xã. Năm 1983, bà được chuyển về
thành phố dạy học. Đến nay, gia đình bà vẫn ở trên thửa đất này. Khoảng năm
1984-1985 gia đình bà được cấp GCNQSD đất tạm thời (bìa trắng), diện tích
bao nhiêu bà không nhớ. Năm 1985 bà xây căn nhà đầu tiên bán kiên cố, 01 gian
thò, 02 gian thụt và 01 nhà bếp nhỏ bên cạnh khoảng 40m
2
giáp cống thoát
nước. Năm 1991, bà được đền bù sản lượng ruộng không canh tác được cho hợp
tác xã, bà đã làm bếp và chuồng lợn ra phía sau nhà. Năm 1994, anh Hoàng
Lương S1 (con bà T) lấy vợ có nhu cầu ra ở riêng, bà có bán lại bếp cạnh nhà
cho anh S1. Năm 1995-1996, thực hiện việc cấp GCNQSD đất theo quy định
của pháp luật, bà được cấp GCNQSD đất lần 2 theo luật định, đổi từ bìa trắng
4
sang bìa đỏ, diện tích 154m
2
. Năm 1997, bà phá nhà cũ, làm lại nhà lần 2 để lại
gian thò và làm lại nhà của 02 gian thụt. Sau đó vợ chồng bà tách gian thò để lại
cho anh H1 diện tích 70m
2
, phòng khi xây nhà, nhà có công việc thì bán đi cho
dễ. Cuối năm 1998, bà bán thửa đất đã cho anh H1 để lấy tiền làm nhà và cho
con gái đi du học. Qua hai lần gia đình bà làm nhà và được cấp GCNQSD đất
không một ai thắc mắc và có ý kiến gì. Trong suốt 40 năm sử dụng ổn định trên
thửa đất này, không tranh chấp với ai. Bà đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
Bị đơn bà Lương Thị T trình bày:
Năm 1979, vợ chồng ông B về Hà Nội, đã bán lại toàn bộ nhà và hoa màu
vợ chồng ông B đang quản lý cho bà với ranh giới giáp nhà ông Trương Quang
P đến cống thoát nước công cộng, một mặt giáp đường Quốc lộ 3 cũ. Khi mua
hai bên có viết giấy tờ mua bán viết tay với nhau, có cả vợ chồng ông B đều ký.
Trên đất lúc đó theo chiều bám mặt đường của thửa đất có 01 nhà 04 gian, cách
một đoạn là giếng, cách giếng một đoạn là bếp, cách bếp một đoạn là nhà vệ
sinh. Trên đất còn có 01 quán nước dưới gốc cây xà cừ, mẹ bà và vợ chồng bà H
vừa ở vừa bán hàng. Sau đó, bà H, ông S1 có bảo bà là để cho ông bà một phần
thửa đất. Lúc đó, ông bà không đo chiều dài, rộng là bao nhiêu, mà chỉ tính tính
từ giếng đến cống thoát nước công cộng, chiều sâu giáp ruộng hợp tác xã. Khi bà
bán đất cho bà H thì vợ chồng bà và vợ chồng bà H đều ký. Bà không nhớ bán
cho bà H vào năm nào, giá bao nhiêu tiền. Chỉ nhớ lúc đó, căn nhà 04 gian đã
dột nát nên bà phải bán đất để làm lại nhà. Từ khi bà mua đất đến nay ông B, bà
B1 chưa bao giờ hỏi bà về thửa đất này. Ông B, bà B1 biết việc bà bán đất cho
bà H, ông S1. Đầu năm 2024, ông B có hỏi bà về giấy tờ bán đất giữa bà và ông
B. Bà bảo là giấy anh bán cho em thì em đã nộp cho phường để làm GCNQSD
đất rồi. Sau đó ông B, bà B1 và con trai đến nhà bà nói với bà là bà phải làm
theo ông B, nếu đòi được thì ông B sẽ cho bà một căn nhà. Bà xác định ông B,
bà Bình B2 cho bà toàn bộ thửa đất của ông B, bà B1 mua của ông P, chứ không
phải là bán một nửa như ông B trình bày. Ông B, bà B1 khởi kiện yêu cầu bà trả
đất, bà không nhất trí, vì ông B, bà B1 đã bán đất rồi, không còn đất nữa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Anh Bùi Thanh H1 trình bày:
Quan hệ đất đai giữa bố mẹ anh và vợ chồng ông B tại thời điểm năm
1980-1981 thì anh không biết. Năm 1996-1997 anh còn đang đi học, bố mẹ anh
tách đất cho anh, nhưng cuối năm đã bán để lấy tiền làm nhà và cho em gái anh
đi du học. Năm 2002-2003 anh ra ở riêng và chưa bao giờ được hưởng lợi từ
mảnh đất này. Do vậy, anh không có nghĩa vụ gì như trong đơn của ông B. Đối
với yêu cầu khởi kiện của ông B anh không đồng ý vì vợ chồng ông B không có
giấy tờ gì chứng minh quyền sở hữu và quyền sử dụng hợp pháp đối với các
thửa đất này. Từ sau năm 1980 đến nay ông B chưa bao giờ đăng ký quyền sử
dụng đất và không có tên trong hồ sơ địa chính của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, không thực hiện nghĩa vụ với nhà nước. Bố mẹ anh ở đây hơn 40 năm và
5
03 lần xây nhà nhưng ông B không có ý kiến gì. Bố mẹ anh đã được cấp
GCNQSD đất theo quy định của pháp luật.
Anh Dương Văn Đ, chị Trần Thị L trình bày:
Năm 2013 vợ chồng anh chị có mua của ông bà Dương Thị P1 thửa đất số
4a, tờ bản đồ số 27 diện tích 70m
2
theo GCNQSD đất UBND tỉnh T cấp ngày
07/6/2001 cho hộ ông bà Dương Thị P1, đã được đính chính nội dung nhận
chuyển nhượng ở bìa. Thửa đất này của chị hiện nay giáp với thửa đất số 4 của
nhà ông S1, bà H. Từ khi anh chị nhận chuyển nhượng thửa đất này đến nay
không thấy ông B, bà B1 hay ai khác đến nhà anh chị có ý kiến hay tranh chấp
gì. Nay, ông B, bà B1 khởi kiện yêu cầu ông S1, bà H, bà T trả lại ông bà thửa
đất số 75, 04, 02 tờ bản đồ số 27, địa chỉ: Phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái
Nguyên, trong đó có thửa đất của anh chị, anh chị không nhất trí. Đề nghị Tòa
án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân tỉnh T trình bày:
Theo nội dung hồ sơ lưu trữ cho thấy: Năm 1982, ông Bùi Thanh S có đơn
xin sử dụng nhà ở tại thửa đất có diện tích khoảng 186m
2
thuộc tổ D, phường P
(nay là phường Đ), thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đã được Ủy ban nhân dân
phường P xác nhận. Năm 1991, ông Bùi Thanh S và bà Lương Thị H tách cho
ông Hoàng V và bà Lương Thị T một phần diện tích là 46,5m
2
từ thửa đất nói
trên. Năm 1995 thửa đất của ông Bùi Thanh S và bà Lương Thị H được đo đạc
bản đồ địa chính xác định tại thửa đất số 04, tờ bản đồ địa chính 113A-c-1, diện
tích 154m
2
đất thổ cư thuộc phường Đ, thành phố T. Năm 1996 ông Bùi Thanh
S có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất nói trên, đơn
được đại diện tổ dân phố, Ủy ban nhân dân phường Đ, phòng Địa chính xác
nhận đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận. Ngày 21/9/1996, Ủy ban nhân dân tỉnh
B ban hành quyết định số 1663/QĐ-UB về việc phê duyệt cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng 154m
2
đất thổ cư cho hộ ông Bùi Thanh S và cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 04, tờ bản đồ 113A, diện tích 154m
2
đất
T, thời hạn sử dụng đất Lâu dài, thuộc phường Đ, thành phố T. Các giấy tờ về
quyền sử dụng đất từ năm 1982 đến nay với thửa đất nói trên đều thể hiện thuộc
quyền sử dụng đất của ông Bùi Thanh S và bà Lương Thị H. Hiện nay trong hồ
sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Bùi Thanh S được lưu trữ tại
Sở Nông nghiệp và Môi trường, Trung tâm lưu trữ lịch sử tỉnh Thái Nguyên
không có giấy tờ mua bán đất giữa ông Lương Ngọc B và ông Bùi Thanh S, bà
Lương Thị H. Tuy nhiên, tại Đơn xin sử dụng nhà ở ghi ngày 12/4/1982 của ông
Bùi Thanh S đã được Ban bảo vệ dân phố, Ban N2 và Ủy ban nhân dân phường
P xác nhận. Trong nội dung xác nhận ghi rõ “Căn cứ giấy nhượng lại nhà có
chữ ký của ông Lương Ngọc B đề ngày 2-3-82. Anh B đã chuyển công tác về Hà
Nội và chuyển cả gia đình vợ con cùng đi. Nhượng lại nhà và hoa màu cho em
ruột là Lương Thị H và em rể là Bùi Thanh S (có sơ đồ kèm theo và giấy nhượng
lại nhà)…”. Nguyên đơn yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy
ban nhân dân tỉnh B cấp ngày 21/9/1996 cho ông S, bà H là không có căn cứ.
6
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 39/2025/DS-ST ngày 16/6/2025 của Tòa án
nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lương Ngọc B, bà
Nguyễn Thị B1 về việc buộc ông Bùi Thanh S, bà Lương Thị H, bà Lương Thị T
trả lại toàn bộ diện tích 268m
2
đất (thửa đất số 75, 04, 02 tờ bản đồ số 27, địa
chỉ: Phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên) và công nhận quyền sử dụng đất
này cho vợ chồng ông.
Ngày 27/6/2025, nguyên đơn ông Lương Ngọc B có đơn kháng cáo toàn bộ
bản án dân sự sơ thẩm số 39/2025/DS-ST ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân
thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Nội dung kháng cáo, ông B cho
rằng, năm 1979, gia đình ông B chuyển về Hà Nội, có chuyển nhượng cho bà T
là em gái ½ diện tích đất chiều dài bám mặt đường 13 mét, đến giáp cống thoát
nước, nửa còn lại có chiều dài 13 mét, trên đất có 01 nhà bếp, 01 quán nước, 01
giếng nước và công trình phụ cùng một số cây hoa màu. Phần đất này ông B cho
vợ chồng em gái là bà H, ông S mượn để ở từ năm 1979, không có việc bán diện
tích đất này cho ông S, bà H. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ án sơ thẩm để
giải quyết lại theo quy định.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn, đại diện theo uỷ quyền của nguyên
đơn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, các đương sự giữ nguyên quan điểm
trình bày tại Toà án cấp sơ thẩm như nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm:
Thẩm phán chủ tọa phiên toà, Hội đồng xét xử và các đương sự chấp hành đúng
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận
kháng cáo của ông Lương Ngọc B, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe
đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Nguyên đơn ông Lương Ngọc B kháng cáo trong hạn luật định, được
miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện, nội dung kháng cáo của nguyên đơn và các tài liệu
có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy:
Về nguồn gốc đất:
7
[2]. Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều xác định: Nguồn gốc thửa
đất đang tranh chấp là một phần thửa đất của ông Lương Ngọc B, bà Nguyễn
Thị B1 mua của ông Trương Quang P, bà Trần Thị H2 năm 1973. Năm 1979-
1980, khi ông B chuyển công tác về Hà Nội thì nhượng lại phần đất này cho bà
Lương Thị T. Ông B, bà B1 cho rằng khi chuyển công tác về Hà Nội, chỉ bán
cho bà T một nửa thửa đất, một nửa còn lại cho ông S, bà H2 mượn để ở. Ông S,
bà H2, bà T xác định khi chuyển về Hà Nội thì ông B, bà B1 đã bán toàn bộ
phần đất ông B đang quản lý, sử dụng cho bà T, phần còn lại là quán bán hàng
của bố mẹ ông B bán cho vợ chồng ông S, bà H2. Sau đó bà T chuyển nhượng
thêm một phần đất mua của ông B cho ông S bà H2.
[3]. Thửa đất các bên đang tranh chấp, xác định theo bản đồ 299 là thửa đất
số 379, theo bản đồ địa chính hiện nay là thửa đất số 75, 04, 02 tờ bản đồ số 27,
địa chỉ: Phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
- Thửa đất số 04: Ông Bùi Thanh S, bà Lương Thị H sinh sống tại thửa đất
tranh chấp từ năm 1983. Ngày 21/9/1996, Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp
GCNQSD đất số I 221430 đối với thửa đất số 4, tờ bản đồ 113A, diện tích
154m
2
, địa chỉ: Phường Đ, thành phố T cho ông S. Hồ sơ cấp GCNQSD đất đối
với thửa đất này đều thể hiện nguồn gốc đất mua của ông Lương Ngọc B. Vị trí
tứ cận: Phía Đông giáp đất ông H4, phía Tây giáp ông Sơn T1, phía Nam giáp
đường quốc lộ 3, phía Bắc giáp ruộng Hợp tác xã. Năm 1997, ông S tách cho
con trai là anh Bùi Thanh H1 một phần diện tích 70m
2
, diện tích còn lại là 84m
2
.
Ngày 29/10/2019, ông S được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp đổi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại Đơn xin sử dụng nhà ở ghi ngày 12/4/1982 của ông Bùi Thanh S, được
Ban bảo vệ dân phố, Ban N2 và Ủy ban nhân dân phường P xác nhận, nội dung:
“Căn cứ giấy nhượng lại nhà có chữ ký của ông Lương Ngọc B đề ngày 2-3-82.
Anh B đã chuyển công tác về Hà Nội và chuyển cả gia đình vợ con cùng đi.
Nhượng lại nhà và hoa màu cho em ruột là Lương Thị H và em rể là Bùi Thanh
S (có sơ đồ kèm theo và giấy nhượng lại nhà)…” (Bút lục số 419).
Sơ đồ kèm theo đơn thể hiện phần diện tích đất ông B chuyển nhượng cho
ông S có chiều rộng 10,5 mét, sâu 17,5 mét, tiếp giáp với phần đất còn lại của
chị gái (bà T1). Ông B, bà B1 cho rằng không có việc ông bà viết giấy chuyển
nhượng đất cho S, bà H như xác nhận trong đơn xin sử dụng nhà ở ngày
12/4/1982 của ông Bùi Thanh S. Hội đồng xét xử thấy:
Trong đơn cầu cứu của ông Lương Ngọc B có nội dung thể hiện ông B bán
một phần đất cho bà T1, thửa đất còn lại có bếp hơn 10m2 cũng bán cho bà T1,
sau đó bà T1 bán lại cho vợ chồng ông S, bà H, ngoài ra còn lại là căn nhà nhỏ
để lại cho mẹ là cụ Đỗ Thị Y bán nước (bút lục số 142).
Như vậy, ông S, bà H trình bày ngoài phần đất ông B quản lý, sử dụng đã
bán cho bà T1, phần quán nước do mẹ đẻ ông B, bà H quản lý, sử dụng, sau đó
8
ông B bán cho ông S, bà H theo Đơn xin sử dụng nhà ở trong hồ sơ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996 là phù hợp với lời trình bày của ông B
trong đơn cầu cứu.
- Thửa đất số 75: Sau khi được cấp GCNQSD đất, ông S tách cho con trai
là anh Bùi Thanh H1 một phần diện tích 70m
2
từ thửa đất số 4 vào năm 1997,
năm 1998, gia đình ông đã bán thửa đất này để làm nhà. Ngày 07/6/2001, Chủ
tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T cấp GCNQSD đất cho bà Dương Thị P1, là thửa đất
số 4a, tờ bản đồ số 27, diện tích 70m
2
, mục đích sử dụng T. Năm 2013, bà P1
chuyển nhượng thửa đất này cho anh Dương Văn Đ, chị Trần Thị L (không cấp
giấy chứng nhận mới). Hiện nay, thửa đất này do anh Đ, chị L đang quản lý, sử
dụng. Anh Đ, chị L trình bày mua thửa đất này của bà Dương Thị P1 năm 2013,
ở từ đó đến nay, không tranh chấp với ai.
- Thửa đất số 2: Năm 1991, bà H chuyển nhượng cho bà Lương Thị T, ông
Hoàng V diện tích thửa đất là 46,5m
2
theo Đơn xin tách nhà và hoa màu ngày
26/10/1991. Năm 1997, ông V tách cho con trai là anh Hoàng Lương S1. Năm
2010, anh S1 chết, năm 2016, vợ anh S1 là chị Nguyễn Thị H5 chuyển nhượng
cho ông Vũ Xuân D; Năm 2017, ông Vũ Xuân D chuyển nhượng cho bà Lương
Thị H. Tại quyết định số 13162/QĐ-UBND ngày 31/12/2020 của Ủy ban nhân
dân thành phố T quyết định cấp thêm cho bà H 11m
2
, nguồn gốc Nhà nước giao
đất có thu tiền sử dụng đất. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ngày 12/3/2021 là thửa đất số 137, tờ bản đồ số 27, diện
tích 57,5m
2
(Nhận chuyển nhượng đất 46,5m
2
, nhà nước giao đất có thu tiền sử
dụng đất 11m
2
).
[4] Ủy ban nhân dân phường Đ đã tiến hành lấy ý kiến khu dân cư về nguồn
gốc và quá trình sử dụng đất tại thửa đất số 75, 04, 02 tờ bản đồ số 27, tổ H,
phường Đ, thành phố T, thể hiện: Nguồn gốc thửa đất số 75, 04, 02 tờ bản đồ số
27 tại tổ H, phường Đ là do mẹ ông Lương Ngọc B sinh sống ở cùng với ông
Bùi Thanh S và bà Lương Thị H từ thời điểm năm 1978.
[5] Lời khai của người làm chứng: Ông Nguyễn Văn H6: Năm 1979 khi
ông H6 về đây sinh sống thì ông Lương Ngọc B đã không ở đây nữa. Khi đó chỉ
có mẹ ông B sinh sống cùng với ông Bùi Thanh S và bà Lương Thị H. Ông Trần
Văn T2 khai: Năm 1978 khi ông đi bộ đội về sinh sống tại khu vực này thì ông
Lương Ngọc B đã không ở nữa, chỉ có mẹ ông B sinh sống cùng với ông Bùi
Thanh S và bà Lương Thị H.
Về quá trình sử dụng đất:
[6] Năm 1985, gia đình bà H, ông S xây căn nhà 01 gian thò, 02 gian thụt
và 01 nhà bếp nhỏ. Năm 1997, gia đình ông S, bà H phá nhà cũ, làm lại nhà lần
2, để lại gian thò và làm lại nhà trên diện tích đất 02 gian thụt, sau đó tách diện
tích đất của gian thò 70 m2 sang tên cho anh H1, cuối năm 1998 bán thửa đất đã
cho anh H1. Quá trình gia đình ông S, bà H sử dụng đất từ năm 1982 đã 02 lần
9
làm nhà kiên cố trên đất, đến năm 2019 phát sinh tranh chấp là 37 năm, ông B,
bà B1 đều biết nhưng không có ý kiến phản đối.
[7] Ông B, bà B1 cho rằng cho vợ chồng ông S, bà H mượn toàn bộ diện
tích đất nêu trên từ năm 1980, và trình bày, nhiều lần yêu cầu ông S, bà H trả lại
đất, nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ chứng minh có việc đòi nhà đất
với ông S, bà H. Bên cạnh đó, ông B bà B1 cũng không kê khai để cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1980 đến năm 2019 phát sinh tranh chấp
là 39 năm. Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi quyền sử
dụng đất của ông B, bà B1 với ông S, bà H, bà T là có căn cứ.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy không có
căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lương Ngọc B; giữ nguyên
bản án dân sự sơ thẩm số 39/2025/DS-ST ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân
thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
[8] Án phí phúc thẩm: Ông Lương Ngọc B là người cao tuổi, nên miễn án
phí dân sự phúc thẩm cho ông Lương Ngọc B.
Từ những phân tích nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn ông Lương Ngọc B; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
39/2025/DS-ST ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên,
tỉnh Thái Nguyên
2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Miễn án phí dân sự
phúc thẩm cho ông Lương Ngọc B.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND Khu vực 1- Thái Nguyên;
- THADS tỉnh Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Hoàng Quý Sửu
10
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Lý Thị Thuý Vũ Thị An Hoàng Quý Sửu
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng