Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của TAND TX. Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh về tội buôn bán hàng cấm
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 16/2024/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 16/2024/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của TAND TX. Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh về tội buôn bán hàng cấm |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Trảng Bàng (TAND tỉnh Tây Ninh) |
| Số hiệu: | 16/2024/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 05/02/2024 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 16/2024/HS-ST.
Ngày 05-02-2024.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Thư.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Văn Mum;
Bà Dương Thị Mỹ Liên.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Hảnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã
Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh
tham gia phiên tòa: Ông Võ Trường Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng,
tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số
03/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 10/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Võ Hải N, sinh năm 1997, tại thành phố Hải Phòng; nơi đăng ký nhân khẩu
thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp BC, xã SN, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh;
nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn
giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ VL (đã chết) và bà Vũ HL; vợ, con:
chưa có; tiền án: có 01 tiền án, tại Bản án hình sự phúc thẩm số 167/2022/HS-PT
ngày 19/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều
244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự tuyên phạt Võ Hải
N 01 năm tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy
cấp, quý, hiếm”, thời gian thử thách 02 năm, chưa chấp hành án xong; tiền sự:
không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 21/12/2023, tạm giam từ ngày 30/12/2023 đến nay;
bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Lâm H.A, sinh năm 1990;
cư trú tại: khu phố B, phường L, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 05 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, tại khu phố A, phường AT, thị xã
Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Công an thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh phối hợp
Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an tỉnh Tây Ninh kiểm
tra xe ô tô tải biển số 70H - 8803 do Lâm H.A điều khiển chở Võ Hải N phát hiện
trên xe có 22 thùng xốp màu vàng sọc xanh được bịt kín bằng băng keo bên trong
chứa 396 hộp giấy hình chữ nhật, bên ngoài có in nhiều hoa văn hình pháo hoa
nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Qua điều tra, thể hiện: Vào khoảng 16 giờ, ngày 19/12/2023, Võ Hải N
đang ở nhà tại ấp BC, xã SN, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh thì nhận được điện
thoại của một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua 396 hộp pháo hoa
(loại pháo hoa nổ) thì N đồng ý bán với giá 500.000 đồng/01 hộp và hẹn giao,
nhận vào lúc 05 giờ sáng ngày 21/12/2023 tại khu vực khu phố A, phường AT, thị
xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Đến khoảng 18 giờ ngày 20/12/12023, N gặp 01
người đàn ông khoảng 50 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) tại khu vực vườn cao su
thuộc xã SN, huyện Tân Châu mua 396 hộp pháo hoa đựng bên trong 22 thùng
xốp màu vàng sọc xanh, được bịt kín bằng băng keo với giá tiền 400.000 đồng/01
hộp, tổng cộng 158.400.000 đồng. Sau khi mua pháo, N dùng xe mô tô không biển
số vận chuyển đến địa điểm khác của vườn cao su cách khoảng 442m để cất giấu.
Sau đó, N dùng xe mô tô vận chuyển toàn bộ số pháo hoa về nhà. Đến khoảng 03
giờ ngày 21/12/2023, N thuê anh Lâm H.A vận chuyển 22 thùng xốp và nói dối là
thịt dê với tiền công 2.700.000 đồng. Khi anh H.A chở đến khu phố A, phường
AT, thị xã Trảng Bàng thì bị bắt quả tang.
Ngoài ra, N còn khai nhận mua, bán pháo hoa 04 lần khác với phương thức,
thủ đoạn như trên nhưng không có chứng cứ khác chứng minh.
Kết luận giám định số 323/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phân viện khoa
học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 396 khối hình hộp chữ nhật có
kích thước (17cm x 17cm x 10cm), bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, bên trong
mỗi khối có 49 ống là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra
ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 701,3 kg.
Tại Cáo trạng số 07/CT-VKSTrB ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Viện
kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng đã truy tố bị cáo Võ Hải N về tội “Buôn bán
hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận: hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã
truy tố.
3
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan
điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và
đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h
khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử
phạt bị cáo Võ Hải N từ 09 đến 10 năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Tổng hợp
hình phạt với Bản án hình sự phúc thẩm số 167/2022/HS-PT ngày 19/9/2022 của
Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh theo quy định.
- Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị
cáo.
- Về biện pháp tư pháp: đề nghị căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều
106 Bộ luật Tố tụng Hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo đã biết hành vi của bị cáo là sai, xin Hội
đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã
Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định
của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết
định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều
hợp pháp.
[1.2] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét thấy trong quá trình
điều tra, truy tố đã thể hiện rõ lời khai cùng yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan và việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội
đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, xét xử vắng mặt người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về hành vi của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo khai nhận: vào lúc 05 giờ 30
phút ngày 21/12/2023, Võ Hải N thuê anh Lâm H.A chở 396 (ba trăm chín mươi
sáu) hộp pháo nổ loại pháo hoa nổ có khối lượng 701,3 kg đi từ nhà của N đến khu
4
vực khu phố A, phường AT, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bán lại cho người
khác nhằm thu lợi bất chính thì bị bắt quả tang.
Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả
tang, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ đã
thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy
tố. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được
hành vi mua bán pháo nổ là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý mua 701,3kg
pháo nổ để bán lại cho người khác nhằm thu lợi bất chính. Như vậy, có đủ cơ sở
để xác định: hành vi của bị cáo Võ Hải N phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, tội
phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
[3] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là rất nguy
hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước đối với các
loại hàng hóa Nhà nước cấm kinh doanh. Bị cáo đang chấp hành hình phạt tù cho
hưởng án treo nhưng bị cáo không tự tu dưỡng, sửa đổi mà tiếp tục thực hiện hành
vi phạm tội, cho thấy thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần thiết
phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng
ngừa chung.
[4] Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử còn xem xét đến các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Cụ thể:
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo có 01 tiền án và đang chấp hành án về tội “Vi
phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, chưa được xóa án tích,
nay bị cáo lại cố ý tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, do đó bị cáo phải chịu tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1
Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên
tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của bị cáo nên bị cáo
được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình
sự.
Ngoài ra, theo Bản án hình sự phúc thẩm số 167/2022/HS-PT ngày
19/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã tuyên phạt Võ Hải N 01 năm tù
cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý,
hiếm”, thời gian thử thách 02 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Trong thời gian
đang chấp hành án, đến ngày 21/12/2023 thì bị cáo thực hiện hành vi phạm tội
mới. Do đó, bị cáo phải chấp hành hình phạt 01 năm tù của Bản án số
167/2022/HS-PT ngày 19/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh và hình phạt
của lần phạm tội này theo quy định tại Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
5
[5] Về hình phạt bổ sung: qua điều tra, xác minh bị cáo không có tài sản nên
Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với 02 người đàn ông mua và bán pháo hoa nổ cho bị cáo N, hiện không
rõ họ tên, địa chỉ, chưa làm việc được, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Đối với Lâm H.A không biết hàng hóa bị cáo N thuê chở là pháo hoa nổ và bà
Vũ HL (mẹ ruột N) không biết N cất giấu pháo hoa nổ tại nhà nên không đề cập xử lý
là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 390 (ba trăm chín mươi) khối hộp giấy hình chữ nhật cùng kích
thước (17x17x10)cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49
(bốn mươi chín) ống pháo nổ (pháo hoa nổ), được đựng trong 22 (hai mươi hai)
thùng xốp màu vàng sọc xanh, đã được niêm phong theo quy định: là hàng cấm
nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: OPPO, màu đen: số IMEI 1:
869447053616655; IMEI 2: 869447053616648, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01
(một) sim Viettel có số sê ri: 8984048008815933237, đã được niêm phong bằng bì
thư theo quy định, kí hiệu M23 và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia,
màu đen, số sê ri: 352858053494782, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 (một) sim
Viettel có số sê ri: 8984048000900270726, đã được niêm phong bằng bì thư theo
quy định, kí hiệu M24 thu giữ của bị cáo N: 02 điện thoại này được bị cáo sử dụng
vào việc liên hệ để mua bán pháo nổ nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà
nước.
Đối với 01 (một) xe mô tô không có gắn biển số, số máy: không có; số
khung: không có, không có gắn ốp nhựa bên ngoài, chắn bùn phía trước bằng nhựa
màu sơn xanh, trên xi lanh có dòng chữ “HAVICO KOREA”, dung tích: 107cm
3
,
đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo N: xe mô tô này không có giấy tờ hợp pháp,
không xác định được số khung, số máy; xe mô tô này được bị cáo sử dụng vào
việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu POCOPHONE, màu xanh, số
IMEI 1: 862665040196054, IMEI 2: 862665040196062, đã qua sử dụng, bên
trong gắn 01 (một) sim Viettel có số sê ri: 8984048000318426911 và 01 (một) sim
Viettel có số sê ri: 898404800032147071, đã được niêm phong bằng bì thư theo
quy định, kí hiệu M25 thu giữ của anh Lâm H.A: anh H.A không biết hàng hóa bị
cáo N thuê chở là pháo nổ, điện thoại này không liên quan đến việc thực hiện hành vi
phạm tội nên trả lại cho anh H.A.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tại
phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ.
6
[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản
1 Điều 52; Điều 38, Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Hải N 09 (chín) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Bị
cáo phải chịu hình phạt 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động
vật nguy cấp, quý, hiếm” của Bản án hình sự phúc thẩm số 167/2022/HS-PT ngày
19/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Tổng hợp hình phạt bị cáo Võ Hải
N phải chịu 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày
21/12/2023.
2. Về xử lý vật chứng: căn cứ vào các điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều
106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
2.1. Tịch thu tiêu hủy: 390 (ba trăm chín mươi) khối hộp giấy hình chữ nhật
cùng kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi
khối có 49 (bốn mươi chín) ống pháo nổ (pháo hoa nổ), được đựng trong 22 (hai
mươi hai) thùng xốp màu vàng sọc xanh, đã được niêm phong theo quy định.
2.2. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: OPPO, màu đen: số IMEI 1:
869447053616655; IMEI 2: 869447053616648, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01
(một) sim Viettel có số sê ri: 8984048008815933237, đã được niêm phong bằng bì
thư theo quy định, kí hiệu M23.
- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu đen, số sê ri:
352858053494782, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 (một) sim Viettel có số sê ri:
8984048000900270726, đã được niêm phong bằng bì thư theo quy định, kí hiệu
M24.
- 01 (một) xe mô tô không có gắn biển số, số máy: không có; số khung:
không có, không có gắn ốp nhựa bên ngoài, chắn bùn phía trước bằng nhựa màu
sơn xanh, trên xi lanh có dòng chữ “HAVICO KOREA”, dung tích: 107cm
3
, đã
qua sử dụng.
2.3. Trả cho anh Lê H.A: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu
POCOPHONE, màu xanh, số IMEI 1: 862665040196054, IMEI 2:
862665040196062, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 (một) sim Viettel có số sê ri:
8984048000318426911 và 01 (một) sim Viettel có số sê ri: 898404800032147071,
đã được niêm phong bằng bì thư theo quy định, kí hiệu M25.
7
3. Án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a
khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Võ Hải N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ
thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt
tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định
của pháp luật.
Nơi nhận:
- Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1);
- TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND Cấp cao TP.HCM;
- Phòng KTNV. TATTN;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- VKSND thị xã Trảng Bàng;
- Cơ quan Thi hành án Hình sự;
- Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
- Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng;
- Nhà tạm giữ CA thị xã Trảng Bàng;
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng khác;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký và đóng dấu)
Nguyễn Thị Minh Thư
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Bản án số 367/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm