Bản án số 16/2019/HS-ST ngày 24/09/2019 của TAND huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 16/2019/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 16/2019/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 16/2019/HS-ST ngày 24/09/2019 của TAND huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Vĩnh Lợi (TAND tỉnh Bạc Liêu) |
| Số hiệu: | 16/2019/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/09/2019 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Dương Văn Toán phạm tội trộm cắp tài sản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN M Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH BẠC LIÊU
Bản án số: 16/2019/HSST
Ngày: 24/9/2019
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH BẠC LIÊU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Lan Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Hồng Tư
2/ Ông Lê Minh Chí
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện
M, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên
tòa: Ông Thạch Hoàng Thi – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bạc
Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2019/TLST- HS ngày 20
tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
T, sinh năm: 1991, tại Bạc Liêu. Trú tại: Ấp T, xã V, huyện M, tỉnh Bạc
Liêu. Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ văn hóa: 01/12; Tiền án, tiền sự: không;
Con ông TH và bà M; Vợ H. Bị cáo bị khởi tố ngày 28/3/2019 ( ).
- Người bị hại: Anh N, Sinh năm: 1989 (vắng mặt )
Địa chỉ: Ấp TH, Phường 2, Thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố về hành vi phạm tội
như sau: Khoảng 11 giờ 15 phút, ngày 21/01/2019, anh N điều khiển xe nhãn hiệu
Sirius, màu sơn đỏ - đen biển kiểm soát 83N1 – 0437, từ hướng xã V về thành phố
Bạc Liêu, khi đi qua đoạn cầu vượt V thuộc ấp T, xã V, huyện M, tỉnh Bạc Liêu thì
bị tai nạn giao thông (tự té) và được người dân đưa đến Trạm y tế xã V để điều trị
thương tích và để xe lại hiện trường.
Đến khoảng 14 giờ 00 cùng ngày, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Atila,
màu trắng, biển kiểm soát 52Z5-8671, chở vợ là H đi từ ấp Trung Hưng đến nhà
cậu ruột là ông C, ngụ ấp B cùng xã VA, huyện M, tỉnh Bạc Liêu; khi đi đến khu
vực ấp T, xã V, huyện M, tỉnh Bạc Liêu thì thấy xe mô tô biển kiểm soát 83N1-
0437 của N ngã bên đường, bị hư hỏng và không người canh giữ, T dừng xe lại và
nói với H lấy xe về nhà ông C sửa lại để sử dụng nhưng H không đồng ý. Tuy
nhiên, sau khi T mượn được xe kéo của anh Q, ngụ ấp T, xã V, huyện M, tỉnh Bạc
2
Liêu đến để chở xe biển kiểm soát 83N1-0437 về nhà ông C gửi, thì H và một
người thanh niên đi đường (Không rõ họ tên, địa chỉ) cùng với T đưa xe lên xe
kéo. Khi đưa được xe biển kiểm soát 83N1-0437 lên xe kéo thì T cùng với H mang
đến nhà ông C để gửi. Khi đến nhà ông C thì T gặp anh T2 (con ông C), T nói xe
biển kiểm soát 83N1-0437 là của bạn bị tai nạn, nên đưa đến để gửi và được T2
đồng ý.
Lúc đang ở Trạm y tế xã V để điều trị thương tích thì anh N điện thoại nhờ
anh L đến hiện trường để lấy xe bị tai nạn, tuy nhiên, khi anh L đến nơi anh N bị
tai nạn thì phát hiện xe đã bị mất trộm nên đến Công an xã V trình báo sự việc.
Đến ngày 23/01/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M phát hiện
và tạm giữ xe mô tô biển kiểm soát 83N1-0437 tại nhà ông C thuộc ấp B, xã VA,
huyện M, tỉnh Bạc Liêu.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL - ĐGTS ngày 14/02/2019 Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M đã kết luận: 01 (Một) xe mô tô, nhãn
hiệu SIRIUS, màu sơn: đỏ đen, biển kiểm soát: 83N1 - 0437; số khung:
C6408Y041166; số máy: 5C64041166 tại thời điểm ngày 21/01/2019 có giá trị
4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
Tại bản Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 19/8/2019 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện M truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1
Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh
Bạc Liêu vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo
nội dung Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 19/8/2019 đã truy tố. Đồng thời, đề nghị
Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1
Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo T.
Xử phạt bị cáo T với mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.
Người bị hại anh N đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không yêu cầu về
trách nhiệm dân sự, đồng thời có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào
kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý
kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và lời khai của người bị hại.
XÉT THẤY
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình như Cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo T hoàn toàn phù hợp với lời
khai của người bị hại anh N và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo T đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của người bị hại anh
N để thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển kiểm soát
83N1-0437, tài sản có giá trị là 4.000.000 đồng. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị
cáo T có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, thực hiện với lỗi cố ý trực
tiếp. Hành vi nêu trên của bị cáo T đã đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình

3
sự và đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều
173 Bộ luật hình sự.
Vì vậy, Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 19 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm
sát nhân dân huyện M, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản”
theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi nêu trên của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, không những thể
hiện động cơ tư lợi bất chính, ý thức xem thường pháp luật, trực tiếp xâm hại đến
tài sản của anh N được pháp luật bảo vệ, mà còn gây dư luận xấu, làm ảnh hưởng
đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương nên cần thiết phải áp dụng mức hình
phạt thật nghiêm đối với bị cáo nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một
thời gian nhất định để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo chấp hành nghiêm chỉnh các
quy định của pháp luật và trở thành người công dân tốt, cũng như phục vụ cho
công tác đấu tranh phòng chống các loại tội phạm trong xã hội.
Xét về nhân thân, bị cáo T có nhân thân xấu, năm 2009 bị cáo bị Tòa án
nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội cướp
giật tài sản, bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng cho bản thân mà tiếp tục đi
vào con đường phạm tội, điều đó cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo
rất kém. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, có ông nội
ruột là ông R là người có công cách mạng, được Nhà nước tặng Huân chương
kháng chiến hạng ba, người bị hại cũng đã nhận lại tài sản, đồng thời xin giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo T nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy
định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ
một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về xử lý vật chứng vụ án: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển kiểm
soát 83N1-0437của anh N, Cơ quan điều tra Công an huyện M đã thu hồi giao trả
cho chủ sở hữu; Xét thấy, việc giao trả tài sản trên là có căn cứ nên Hội đồng xét
xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Atila, màu trắng, biển kiểm soát 52Z5 -8671 đã
qua nhiều người mua bán, qua kết quả điều tra xác định xe gắn máy nêu trên hiện
do chị ruột của bị cáo T là chị E, ngụ ấp T3, xã VA, huyện M, tỉnh Bạc Liêu quản
lý, sử dụng. Qua làm việc chị E thừa nhận bị cáo T mượn xe trên làm phương tiện
đi lại. Việc T dùng phương tiện này để phạm tội thì chị E không hay biết nên
không đề cập xử lý là có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh N đã nhận lại tài sản và không yêu
cầu về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với H là vợ của bị cáo T, khi bị cáo T phát hiện xe mô tô của anh N bỏ
lại hiện trường, bị cáo T nói với vợ là H lấy xe về sửa lại để sử dụng và H không
đồng ý. Tuy nhiên, khi bị cáo T mượn được xe kéo của anh Q ngụ tại ấp T, xã V,
huyện M, tỉnh Bạc Liêu để chở xe biển kiểm soát 83N1-0437 về nhà ông C là cậu
ruột của bị cáo để gửi thì chị H đồng ý và cùng bị cáo T đưa xe biển kiểm soát
83N1-0437 lên xe kéo. Xét thấy H có dấu hiệu đồng phạm đối với hành vi phạm
tội của bị cáo T, vì lẽ đó vào ngày 27 tháng 6 năm 2019, H bị Cơ quan cảnh sát

4
điều tra Công an huyện M, tỉnh Bạc Liêu ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị
can đối với H. Tuy nhiên, qua quá trình điều tra xét thấy bị can H có nhiều tình tiết
giảm nhẹ, bị can phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội
nhưng gây thiệt hại không lớn, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ
ràng, có ông nội ruột là ông U là người có công cách mạng, được trao tặng danh
hiệu liệt sỹ, người bị hại anh N có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho H. Đây là
các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm h, i, n, q, s khoản 1, khoản 2
Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, H có nhân thân tốt lại đang mang thai, bị hạn
chế khả năng nhận thức do bệnh lý tâm thần.
Từ những căn cứ nêu trên, ngày 28/7/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công
an huyện Vĩnh Lợi đã căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự và
Khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự để ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án đối với
bị can số 05/QĐ-CQĐT và Quyết định đình chỉ điều tra bị can số 04/QĐ-CQĐT
đối với bị can H về tội “Trôm cắp tài sản” là có căn cứ.
Đối với anh Q người đã cho bị cáo T mượn xe kéo để mang xe biển kiểm
soát 83N1 – 0437 đi cất giấu tại nhà anh T. Qua kết quả điều tra xác định anh Q
không biết việc bị cáo T mượn xe kéo để làm phương tiện vận chuyển xe trộm đi cất
giấu; Anh T không biết xe do trộm cắp mà có nên mới đồng ý cho bị cáo T gửi xe tại
nhà mình nên không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với người thanh niên đi đường, người đã giúp bị cáo T đưa xe mang biển
kiểm soát 83N1 – 0437 lên xe kéo do không biết tên, địa chỉ và theo lời khai của bị
cáo T người thanh niên này không biết xe biển kiểm soát 83N1 – 0437 do bị cáo T
trộm cắp mà có nên không đề cập xử lý.
Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/- Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2/- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51
của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt bị
cáo đi chấp hành án.
3/- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
Hội T hịu 200.000 đồng (
.
4/- Bị cáo T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5
Nơi nhận: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- TAND tỉnh Bạc Liêu;
- Sở tư pháp tỉnh Bạc Liêu;
- VKSND huyện M;
- THADS huyện M;
- Công an huyện M;
- VKSND tỉnh Bạc Liêu
- B ;
- Người bị hại;
- Cơ quan THA hình sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thụy Lan Chi
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 367/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm