Bản án số 154/2025/DS-ST ngày 18/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 154/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 154/2025/DS-ST ngày 18/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 154/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kk
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 154/2025/DS-ST Bản án số 154/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 154/2025/DS-ST Bản án số 154/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16–THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 154/2025/DS-ST
Ngày: 18-9-2025
V/v tranh chấp di sản thừa kế
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bạch Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Ngọc Phương
2. Bà Lê Thị Thiện
Thư phiên toà: Thái Thị Yến - Thư Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành
phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phHồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 m 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 632/2024/TLST-DS
ngày 07 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 222/2025/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1956; địa chỉ: C, khu phố B, phường B,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đậu Đức N, sinh năm 1992;
địa chỉ: Thôn A, Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (nay Q, tỉnh Nghệ An); ông
Thành T1, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn T, Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa (nay Đ,
tỉnh Khánh Hòa). Vắng mặt.
2. Bị đơn: Trần Thị B, sinh m 1973; địa chỉ: Số A, khu phC, phường L,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Trần Thị B1, sinh năm 1952; địa chỉ: Số B, khu phố H, phường H, thành
phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.2. Bà Trần Thị H, sinh năm 1959; địa chỉ: Số B, khu phố B, phường B, thành phố
T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
2
3.3. Ông Văn V, sinh năm 1965; địa chỉ: Tổ A, Khu phố A, phường M, thành
phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.) Vắng mặt.
3.4. Ông Trần Văn T2, sinh năm 1957; địa chỉ: Số A, Tổ C, Khu phố E, phường H,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.5. Trần Thị H1, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ E, Khu phố A, phường T, huyện
B, tỉnh Bình Dương (nay là phường V, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.6. Ông Trần Văn C, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ E, Khu phố A, phường T, huyện
B, tỉnh Bình Dương (nay là phường V, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.7. Phạm Thị E, sinh năm 1949; địa chỉ: B, Khu phố B, phường T, thành phố
T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.8. Ông Trần Văn T3, sinh năm 1973; địa chỉ: B, Khu phố B, phường T, thành
phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.9. Ông Trần Anh K, sinh năm 1978; địa chỉ: B, Khu phố B, phường T, thành phố
T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.10. Bà Trần Thị Kim T4, sinh năm 1980; địa chỉ: B, Khu phố B, phường T, thành
phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.11. Nguyễn Gia H2, sinh năm 2005; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường B,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.12. Nguyễn Thị Thu L, sinh năm 1998; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B,
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
3.13. Nguyễn A, sinh năm 1956; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường B, thành
phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.14. Ông Nguyễn Phi B2, sinh năm 1965; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B,
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
3.15. Ông Lê Hoài B3, sinh năm 1986; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường B,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.16. Nguyễn Thành C1, sinh năm 1965; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B,
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
3.17. Bà Phạm Thị T5, sinh năm 1981; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường B,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.18. Thị L1, sinh năm 1978; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường B,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.19, Nguyễn Thị Khánh C2, sinh năm 1954; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B,
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
3
3.20. Ông Phạm Nhựt Q, sinh năm 1999; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường
B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.21. Phạm Thị Trúc P, sinh năm 1964; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B,
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
3.22. Hồ Ngọc S, sinh năm 1966; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường B,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.23. Ông Võ Hoàng N1, sinh năm 2002; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường
B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.24. Trần Thị Kim T6, sinh năm 1980; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B,
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
3.25. Ông Hoàng Văn T7, sinh năm 1976; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B,
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
3.26. Ông Văn T8, sinh năm 1966; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường B,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.27. Ông Đinh Hoàng L2, sinh năm 1997; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B,
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
3.28. Trương Thị Nguyệt Y, sinh m 1964; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B,
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
3.29. Bà Trần Thị H3, sinh năm 1970; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường B,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.30. Ông Đinh Văn C3, sinh năm 1961; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường
B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.31. Ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1978; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B,
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
3.32. Cháu Nguyễn Huy K1, sinh ngày 23/4/2011. Người đại diện hợp pháp của
cháu K1: Ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1978; Thị L1, sinh năm 1978; cùng địa
chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L,
Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.33. Hoàng Kim L3, sinh năm 1987; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường
B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.34. Ông Nguyễn Ngọc L4, sinh năm 1972; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B,
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
4
3.35. Hồ Thị Thảo N2, sinh năm 2001; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B,
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
3.36. Phạm Ngọc T9, sinh năm 1984; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường B,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.37. Phạm Ngọc T10, sinh năm 1988; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường B,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.38. Phạm Thị Trúc P, sinh năm 1964; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B,
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
3.39. Ông Văn T11, sinh năm 1973; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường
B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.40. Ông Thạch Kiêm Nhựt T12, sinh năm 1970; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B,
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
3.41. Nguyễn Thị Dạ T13, sinh năm 1986; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B,
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
3.42. Bà Trần Thị H3, sinh năm 1970; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường B,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.43. Cháu Nguyễn Thành N3, sinh ngày 09/02/2013. Người đại diện hợp pháp của
cháu N3: Trần Thị H3, sinh năm 1970; ông Nguyễn Ngọc L4; cùng địa chỉ: C, Đường
B, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ
Chí Minh). Vắng mặt.
3.44. Hồ Ngọc H5, sinh năm 1955; đại chỉ: C375C, Đường B, khu phố B,
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
3.45. Ông Đặng Thanh T14. sinh năm 1975; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B,
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
3.46. Cháu Thạch Phương T15, sinh ngày 25/6/2023. Người đại diện hợp pháp của
cháu T15: Đặng Thanh T14. sinh năm 1975; ông Ông Thạch Kiêm Nhựt T12, sinh
năm 1970; cùng địa chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình
Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.47. Ông Thạch Phương N4, sinh năm 2003; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B,
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
3.48. Thị H6, sinh năm 1977; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường B,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
5
3.49. Cháu Hồ Thị Thảo N2, sinh m 2011. Người đại diện hợp pháp của cháu
N2: Hồ Ngọc S, sinh năm 1966; địa chỉ: C, Đường B, khu phố B, phường B, thành
phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.50. Cháu Huỳnh Như P1, sinh ngày 08/6/2007; cháu Huỳnh Phúc A1, sinh ngày
22/4/2011; cháu Huỳnh Phúc An K2, sinh ngày 08/6/2027. Người đại diện hợp pháp của
cháu P1, A1, K3: Trần Thị Kim T6, sinh năm 1980; địa chỉ: SC, Đường B, khu phố
B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khi kin, khi kin b sung, các li khai và tại phiên tòa người đại
din theo y quyn của nguyên đơn ông Thành T1 trình bày:
Ông Trần Văn T con trai của ông Trần Văn G (chết năm 2009) theo Giấy chứng
tử số 76; Quyển số 01/2009 cấp ngày 01/10/2009 tại UBND phường B, thành phố T, tỉnh
Bình Dương và bà Thị H7 (chết năm 2000).
Ông Trần Văn G chết để lại di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 522;
tờ bản đsố 02; tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình ơng theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 do UBND huyện T, tỉnh
Bình Dương cấp cho hộ ông Trần Văn G.
Diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn lại 852,5m
2
. Tuy nhiên,
gia đình ông đã bán một phần cho những hgia đình xung quanh. Hiện nay, gia đình ông
đang quản lý, sử dụng một phần diện tích còn lại theo kết quả đo đạc thực tế
198,2m
2
(trên đất xây dựng nhà). Gia đình ông đang quản lý, sử dụng phần đất này từ
khi ông G qua đời đến nay.
Hiện nay, phần nhà đất này đang được gia đình ông thay mặt c đồng thừa kế
quản lý, trông nom. Các đồng thừa kế đã trao đổi nhưng chưa thống nhất được phương án
thỏa thuận phân chia di sản đối với tài sản ông G để lại.
Ông Trần Văn G chết không để lại di chúc nên di sản thừa kế được chia theo quy
định của pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất của ông G gồm:
1. Ông Trần Văn H8 (chết năm 2021). Vợ của ông H8 Phạm Thị E, sinh năm
1949.
Ông Trần Văn H8 và bà Phạm Thị E có 03 người con gồm: Ông Trần Văn T3, sinh
năm 1973; ông Trần Anh K, sinh năm 1978; bà Trần Thị Kim T4, sinh năm 1980.
2. Bà Trần Thị B1, sinh năm 1952
3. Ông Trần Văn T, sinh năm 1956
4. Bà Trần Thị H, sinh năm 1959
5. Ông Lê Văn V, sinh năm 1965
6. Ông Trần Văn T2, sinh năm 1957
7. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1964
6
8. Ông Trần Văn C, sinh năm 1970
9. Bà Trần Thị B, sinh năm 1973.
Ngoài ra, ông Trần Văn G và bà Lê Thị H7 không có người con riêng và người con
nuôi nào khác.
Do các đồng thừa kế không thỏa thuận được nên ông Trần n T khởi kiện yêu
cầu Tòa án giải quyết, cụ thể: Chia di sản thừa kế của ông Trần Văn G quyền sử dụng
đất đối với một phần thửa đất số 522, tờ bản đồ số 02 diện tích theo kết quả đo đạc thực tế
198,2m
2
, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hộ ông Trần Văn G
thành 09 kỷ phần thừa kế. Ông Trần Văn T yêu cầu được nhận bằng hiện vật. Ông T đồng
ý hoàn lại cho các đồng thừa kế số tiền tương ứng giá trị tài sản các đồng thừa kế
được nhận.
Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp gồm: Căn cước công dân; giấy khai sinh;
trích lục khai sinh; Bản tường trình quan hệ nhân thân; Trích lục khai tử; Giấy chứng
nhận kết hôn; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…
Theo bản tự khai bị đơn bà Trần Thị B trình bày:
con của ông Trần Văn G (chết năm 2009) theo Giấy chứng tử số 76; Quyển
số 01/2009 cấp ngày 01/10/2009 tại UBND phường B, thành phố T, tỉnh nh Dương
Lê Thị H7 (chết năm 2000).
Ông Trần Văn G chết để lại di sản thừa kế quyền sử dụng đất đối với một phần
thửa đất số 522; tờ bản đồ số 02; tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 do UBND
huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương cấp cho hộ ông Trần Văn G.
Diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn lại 852,5m
2
. Tuy nhiên,
khi còn sống, ông G đã bán một phần cho những người khác để xây dựng nhà trên đất.
Phần đất còn lại ông G đã tặng cho ông Trần Văn T, các anh em trong gia đình đều biết sự
việc này không ai phản đối hay tranh chấp gì. Ông T đã quản lý, sử dụng phần đất này
ổn định xây dựng ntrên đất từ đó cho đến nay, toàn bộ tài sản trên đất do ông T
xây dựng, bà không có quyền lợi, liên quan gì.
Nay ông T khởi kiện ra Tòa án để tranh chấp di sản thừa kế của ông G thì đồng
ý yêu cầu Tòa án công nhận phần đất này cho ông T. Trường hợp được nhận kỷ
phần thừa kế của ông G thì đồng ý giao lại cho ông T được hưởng không yêu cầu
ông T phải thanh toán lại tiền mà bà được chia
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị B1, Trần Thị H, ông
Văn V, ông Trần Văn T16, bà Trần Thị H1, ông Trần Văn C thống nhất trình bày:
Các ôngcon của ông Trần Văn G (chết năm 2009) theo Giấy chứng tử số 76;
Quyển số 01/2009 cấp ngày 01/10/2009 tại UBND phường B, thành phố T, tỉnh Bình
Dương và bà Lê Thị H7 (chết năm 2000).
Ông Trần Văn G chết để lại di sản thừa kế quyền sử dụng đất đối với một phần
thửa đất số 522; tờ bản đồ số 02; tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo
7
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 do UBND
huyện T, tỉnh Bình Dương cấp cho hộ ông Trần Văn G.
Diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn lại 852,5m
2
. Tuy nhiên,
khi còn sống, ông G đã bán một phần cho những người khác để xây dựng nhà trên đất.
Phần đất còn lại ông G đã tặng cho ông Trần Văn T, các anh em trong gia đình đều biết sự
việc này không ai phản đối hay tranh chấp gì. Ông T đã quản lý, sử dụng phần đất này
ổn định xây dựng ntrên đất từ đó cho đến nay, toàn bộ tài sản trên đất do ông T
xây dựng, các ông bà không có quyền lợi, liên quan gì.
Nay ông T khởi kiện ra Tòa án để tranh chấp di sản thừa kế của ông G thì các anh
em trong gia đình đồng ý và yêu cầu Tòa án công nhận phần đất này cho ông T.
Trường hợp các ông được nhận kỷ phần thừa kế của ông G thì các ông đồng
ý giao lại cho ông T được hưởng không yêu cầu ông T phải thanh toán lại tiền các
ông bà được chia.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị E trình bày:
vợ của ông Trần Văn H8 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 93/2018 ngày
05/11/2018 của UBND phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ông Trần Văn H8
con của ông Trần Văn G (chết năm 2009) theo Giấy chứng tử số 76; Quyển số 01/2009
cấp ngày 01/10/2009 tại UBND phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương Thị
H7 (chết năm 2000).
Ông Trần Văn G chết để lại di sản thừa kế quyền sử dụng đất đối với một phần
thửa đất số 522; tờ bản đồ số 02; tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 do UBND
huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương cấp cho hộ ông Trần Văn G.
Diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn lại 852,5m
2
. Tuy nhiên,
khi còn sống, ông G đã bán một phần cho những người khác để xây dựng nhà trên đất.
Phần đất còn lại ông G đã tặng cho ông Trần Văn T, các anh em trong gia đình đều biết sự
việc này không ai phản đối hay tranh chấp gì. Ông T đã quản lý, sử dụng phần đất này
ổn định xây dựng ntrên đất từ đó cho đến nay, toàn bộ tài sản trên đất do ông T
xây dựng, bà không có quyền lợi, liên quan gì.
Nay ông T khởi kiện ra Tòa án để tranh chấp di sản thừa kế của ông G thì đồng
ý và yêu cầu Tòa án công nhận phần đất này cho ông T.
Trường hợp được nhận kỷ phần thừa kế của ông Trần Văn H8 tđồng ý
giao lại cho ông T được hưởng không u cầu ông T phải thanh toán lại tiền
được chia
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T3, ông Trần Anh K,
Phạm Thị Kim T17 thống nhất trình bày:
Các ông là con của ông Trần Văn H8. Ông Trần Văn H8 con của ông Trần
Văn G (chết năm 2009) theo Giấy chứng tử số 76; Quyển số 01/2009 cấp ngày
01/10/2009 tại UBND phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương Thị H7 (chết
năm 2000).
8
Ông Trần Văn G chết để lại di sản thừa kế quyền sử dụng đất đối với một phần
thửa đất số 522; tờ bản đồ số 02; tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 do UBND
huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương cấp cho hộ ông Trần Văn G.
Diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn lại 852,5m
2
. Tuy nhiên,
khi còn sống, ông G đã bán một phần cho những người khác để xây dựng nhà trên đất.
Phần đất còn lại ông G đã tặng cho ông Trần Văn T, các anh em trong gia đình đều biết sự
việc này không ai phản đối hay tranh chấp gì. Ông T đã quản lý, sử dụng phần đất này
ổn định xây dựng ntrên đất từ đó cho đến nay, toàn bộ tài sản trên đất do ông T
xây dựng, bà không có quyền lợi, liên quan gì.
Nay ông T khởi kiện ra Tòa án để tranh chấp di sản thừa kế của ông G thì các ông
bà đồng ý và yêu cầu Tòa án công nhận phần đất này cho ông T.
Trường hợp c ông bà được nhận kỷ phần thừa kế của ông Trần Văn H8 thì các
ông bà đồng ý giao lại cho ông T được hưởng và không yêu cầu ông T phải thanh toán lại
tiền mà các ông bà được chia.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị H6, ông Văn T11 thống nhất
trình bày:
Vào ngày 12/10/2004 ông Trần Văn G chuyển nhượng cho ông Bùi V1 diện
tích đất 30,2m
2
(ngang 3,5m, dài 9m), diện tích đất này một phần nằm trong tổng diện
tích thuộc thửa đất số 522, tờ bản đồ s02, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình
Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004
cấp cho hộ ông Trần Văn G. Việc chuyển nhượng đất giữa 02 bên lập bằng giấy tay, với
giá chuyển nhượng 8.500.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng ông V1 đã thanh
toán đủ tiền cho ông G ông G đã giao đất cho ông V1 quản sử dụng từ năm 2004.
Đến ngày 20/10/2005 ông V1 chuyển nhượng cho ông Tấn K4 Nguyễn Thị H9
diện tích đất nêu trên 02m đường đi. Đến ngày 28/8/2015 vợ chồng ông nhận
chuyển nhượng lại của ông K4, bà H9 với giá chuyển nhượng 78.000.000 đồng. Khi ông
nhận chuyển nhượng thì trên đất đã căn nhà cấp 4. Sau khi nhận chuyển nhượng vợ
chồng ông bà đã thanh toán hết tiền cho ông K4, bà H9ông K4, bà H9 đã giao nhà cho
vợ chồng ông quản lý, sử dụng từ m 2008 đến nay. Hiện nay trên đất vợ chồng
ông bà và con Võ Hoàng N1. Ngoài ra, không còn có ai ở nhà này. Từ khi nhận chuyển
nhượng đất của ông K4, H9 đến nay thì hai bên không phát sinh tranh chấp cũng
không ai tranh chấp với vợ chồng ông nhà ông đã được địa phương cấp số
nhà.
Nay, ông G chết, con ông G ông Trần Văn T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa
kế của ông Trần Văn G quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 522, tờ bản đ
số 02 diện tích đất còn lại, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hộ ông
Trần Văn G thành 09 kỷ phần thừa kế. Ông Trần Văn T yêu cầu được nhận bằng hiện vật.
Ông T đồng ý hoàn lại cho các đồng thừa kế số tiền tương ứng giá trị tài sản mà c đồng
thừa kế được nhận thì ông bà không có ý kiến gì.
9
Đối với phần đất của ông đang khi nào nhà nước chính sách đủ điều kiện
thì gia đình ông bà sẽ làm thủ tục tách thửa, sang tên theo quy định. Ông không có yêu
cầu độc lập trong vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Hoàng N1 trình bày:
Ông là con của bà Lê Thị H6 và ông Võ Văn T11. Ông thống nhất lời trình bày của
cha mẹ ông. Đối với phần đất của gia đình ông đang ở khi nào nhà nước có chính sách đủ
điều kiện thì gia đình ông sẽ làm thủ tục tách thửa, sang tên theo quy định. Ông không
yêu cầu độc lập trong vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thanh T14, ông Thạch Kiêm Nhựt
T12 thống nhất trình bày:
Vào ngày 25/3/2009 vợ chồng ông nhận chuyển nhượng của Bùi Thị Cẩm
T18 diện tích đất 40,5m
2
(ngang 4,5m, dài 8m) 01 căn nhà cấp 4 gắn liền trên đất.
Nguồn gốc đất này của ông Trần Văn G, diện tích đất này một phần nằm trong tổng
diện tích thuộc thửa đất số 522, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh
Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày
18/5/2004 cấp cho hộ ông Trần Văn G. Việc chuyển nhượng đất giữa 02 bên lập bằng
giấy tay, với giá chuyển nhượng là 178.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng vợ
chồng ông đã thanh toán đủ tiền cho T18 T18 đã giao đất, nhà cho vợ chồng
ông quản sử dụng từ năm 2009 đến nay. Hiện nay trên đất vợ chồng ông
02 con tên Thạch Phương N4, sinh năm 2003; Thạch Phương T15, sinh ngày 25/6/2013.
Ngoài ra, không còn ai ở nhà này. Từ khi nhận chuyển nhượng đất của T18 đến nay
thì hai bên không phát sinh tranh chấp cũng không có ai tranh chấp với vợ chồng ông
bà và nhà ông bà đã được địa phương cấp số nhà và đã đăng ký KT3.
Nay, ông G chết, con ông G ông Trần Văn T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa
kế của ông Trần Văn G quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 522, tờ bản đ
số 02 diện tích đất còn lại, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hộ ông
Trần Văn G thành 09 kỷ phần thừa kế. Ông Trần Văn T yêu cầu được nhận bằng hiện vật.
Ông T đồng ý hoàn lại cho các đồng thừa kế số tiền tương ứng giá trị tài sản mà c đồng
thừa kế được nhận thì ông bà không có ý kiến gì.
Đối với phần đất của gia đình ông đang khi nào nhà nước có chính sách đủ
điều kiện thì gia đình ông sẽ làm thủ tục tách thửa, sang tên theo quy định. Ông
không có yêu cầu độc lập trong vụ án. Ông không biết bà T18 hiện nay đang sinh sống
ở địa chỉ nào nên ông bà không cung cấp được cho Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thạch Phương N4 trình bày:
con của ông Thạch Kiêm Nhựt T12 Đặng Thanh T14. thống nhất
lời trình bày của cha mẹ bà. Đối với phần đất của gia đình đang khi nào nhà nước
chính sách đủ điều kiện thì gia đình sẽ làm thủ tục tách thửa, sang tên theo quy định.
không u cầu độc lập trong vụ án. không biết T18 hiện nay đang sinh sống
ở địa chỉ nào nên bà không cung cấp được cho Tòa án.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị H3 ông Nguyễn Ngọc Lành
T19 trình bày:
10
Vào ngày 19/8/2004 ông Trần Văn G chuyển nhượng cho Huỳnh Thị H10 diện
tích đất 100m
2
(ngang 8m, dài 12,5m), diện tích đất này một phần nằm trong tổng diện
tích thuộc thửa đất số 522, tờ bản đồ s02, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình
Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004
cấp cho hộ ông Trần Văn G. Việc chuyển nhượng đất giữa 02 bên lập bằng giấy tay, với
giá chuyển nhượng 28.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng H10 đã thanh
toán đủ tiền cho ông G ông G đã giao đất cho H10 quản lý, sử dụng từ năm 2004.
Sau đó H10 chuyển nhượng bằng giấy tay cho ông Văn T20 toàn bộ diện tích
đất nêu trên với giá chuyển nhượng 28.000.000 đồng. Đến ngày 25/02/2009 ông T20 tặng
cho ông Đinh Văn C3 toàn bộ diện tích đất nêu trên. Khi ông T20 tặng cho ông C3 đất thì
trên đất chưa nhà. Cùng năm 2009 vợ chồng ông C3 xây dựng căn nhà cấp 4 trên đất.
Sử dụng một thời gian vào năm 2010 vợ chồng ông C3 chuyển nhượng bằng giấy tay cho
vợ chồng ông diện tích 32m
2
cho vợ chồng ông sử dụng chung đường đi 12m.
Hiện nay trên đất vợ chồng ông đang sinh sống. Từ khi mua đất nhà cho đến
nay các bên không phát sinh tranh chấp ng không ai tranh chấp với gia đình ông
bà và nhà đã được địa phương cấp số nhà.
Nay, ông G chết, con ông G ông Trần Văn T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa
kế của ông Trần Văn G quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 522, tờ bản đồ
số 02 diện tích đất còn lại, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hộ ông
Trần Văn G thành 09 kỷ phần thừa kế. Ông Trần Văn T yêu cầu được nhận bằng hiện vật.
Ông T đồng ý hoàn lại cho các đồng thừa kế số tiền tương ứng giá trị tài sản mà c đồng
thừa kế được nhận thì ông bà không có ý kiến gì.
Đối với phần đất của gia đình ông đang khi nào nhà nước chính sách đủ
điều kiện thì gia đình ông sẽ làm thủ tục tách thửa, sang tên theo quy định. Ông
không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Ngọc H5, Phạm Thị T5; Phạm
Ngọc T9; Phạm Ngọc T10, Hoàng Kim L3; Phạm Nhựt Q thống nhất trình bày:
Vào ngày 19/8/2004 ông Trần Văn G chuyển nhượng cho Huỳnh Thị H10 diện
tích đất 100m
2
(ngang 8m, dài 12,5m), diện tích đất này một phần nằm trong tổng diện
tích thuộc thửa đất số 522, tờ bản đồ s02, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình
Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004
cấp cho hộ ông Trần Văn G. Việc chuyển nhượng đất giữa 02 bên lập bằng giấy tay, với
giá chuyển nhượng 28.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng H10 đã thanh
toán đủ tiền cho ông G ông G đã giao đất cho H10 quản sử dụng từ năm 2004. Sau
đó bà H10 ký chuyển nhượng bằng giấy tay cho ông Lê Văn T20 toàn bộ diện tích đất nêu
trên với giá chuyển nhượng 28.000.000 đồng. Đến ngày 17/9/2005 ông T20 chuyển
nhượng cho gia đình ông 36m
2
với giá chuyển nhượng 28.000.000 đồng. Khi nhận
chuyển nhượng trên đất chưa nhà. Sau khi nhận chuyển nhượng gia đình ông xây
dựng 01 căn nhà cấp 4 và gia đình ông bà đã thanh toán đủ tiền cho ông T20. Từ khi nhận
chuyển nhượng đất cho đến nay hai bên không phát sinh tranh chấp cũng không ai
tranh chấp với gia đình ông nhà ông đã được địa phương cấp số nhà đã sổ
hộ khẩu.
11
Nay, ông G chết, con ông G ông Trần Văn T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa
kế của ông Trần Văn G quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 522, tờ bản đ
số 02 diện tích khoảng 150m
2
, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hộ
ông Trần Văn G thành 09 kỷ phần thừa kế. Ông Trần Văn T yêu cầu được nhận bằng hiện
vật. Ông T đồng ý hoàn lại cho các đồng thừa kế số tiền tương ứng giá trị tài sản các
đồng thừa kế được nhận thì ông bà không có ý kiến gì.
Đối với phần đất của gia đình ông đang khi nào nhà nước chính sách đủ
điều kiện thì gia đình ông sẽ làm thủ tục tách thửa, sang tên theo quy định. Ông
không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Dạ T13, Hồ Thị Thảo
N2, bà Hồ Ngọc S thống nhất trình bày:
Vào ngày 19/11/2011 gia đình các nhận chuyển nhượng của Nguyễn Thị G1
diện tích đất 30m
2
(ngang 3,5m, dài 9m) và 01 căn nhà cấp 4 gắn liền trên đất. Nguồn gốc
đất này của ông Trần Văn G, diện tích đất này một phần nằm trong tổng diện tích
thuộc thửa đất số 522, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình
Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004
cấp cho hộ ông Trần Văn G. Việc chuyển nhượng đất giữa 02 bên lập bằng giấy tay, với
giá chuyển nhượng 120.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng gia đình các đã
thanh toán đủ tiền cho G1 G1 đã giao đất, nhà cho gia đình các quản sử
dụng từ năm 2011 đến nay. Từ khi nhận chuyển nhượng đất của G1 đến nay hai bên
không phát sinh tranh chấp cũng không ai tranh chấp với gia đình các bà, đã được
địa phương cấp số nhà và các bà đã đăng ký KT3.
Nay, ông G chết, con ông G ông Trần Văn T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa
kế của ông Trần Văn G quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 522, tờ bản đ
số 02 diện tích đất còn lại, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hộ ông
Trần Văn G thành 09 kỷ phần thừa kế. Ông Trần Văn T yêu cầu được nhận bằng hiện vật.
Ông T đồng ý hoàn lại cho các đồng thừa kế số tiền tương ứng giá trị tài sản mà c đồng
thừa kế được nhận thì các bà không có ý kiến gì.
Đối với phần đất của gia đình các đang khi nào nhà nước chính sách đủ
điều kiện thì gia đình sẽ làm thủ tục tách thửa, sang tên theo quy định. Các không
yêu cầu độc lập trong vụ án.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H4, Thị L1, cháu
Nguyễn Gia H2 thống nhất trình bày:
Vào ngày 07/12/2007 ông Trần Văn G chuyển nhượng cho gia đình ông diện
tích đất 100m
2
(ngang 6,2m, dài 15,2m), trong đó có 40m
2
đất thổ cư và ông G thỏa thuận
cho 02m đường đi, diện tích đất này một phần nằm trong tổng diện tích thuộc thửa đất
số 522, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hộ ông
Trần Văn G. Việc chuyển nhượng đất giữa 02 bên lập bằng giấy tay, với giá chuyển
nhượng 78.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng gia đình ông đã thanh toán
12
đủ tiền cho ông G và ông G đã giao đất cho gia đình ông bà quản lý sử dụng từ năm 2007
đến nay và đến khoảng năm 2010 gia đình ông bà xây dựng căn nhà cấp 4 trên đất và ở từ
đó cho đến nay. Khi xây dựng nhà gia đình ông bà có làm thủ tục xin phép được xây dựng
được địa phương chấp nhận. Từ khi nhận chuyển nhượng đất của ông G đến nay hai
bên không phát sinh tranh chấp ng không ai tranh chấp với gia đình ông đã
được địa phương cấp số nhà, gia đình ông bà đã có hộ khẩu thường trú.
Nay, ông G chết, con ông G ông Trần Văn T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa
kế của ông Trần Văn G quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 522, tờ bản đ
số 02 diện tích đất còn lại, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hộ ông
Trần Văn G thành 09 kỷ phần thừa kế. Ông Trần Văn T yêu cầu được nhận bằng hiện vật.
Ông T đồng ý hoàn lại cho các đồng thừa kế số tiền tương ứng giá trị tài sản mà c đồng
thừa kế được nhận thì gia đình ông bà không có ý kiến gì.
Đối với phần đất của gia đình ông đang khi nào nhà nước có chính sách đủ
điều kiện thì gia đình ông slàm thủ tục tách thửa, sang tên theo quy định. Gia đình
ông bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh n C3, Trương Thị Nguyệt
Y, ông Đinh Hoàng L2, bà Nguyễn Thị Thu L thống nhất trình bày:
Vào ngày 19/8/2004 ông Trần Văn G chuyển nhượng cho Huỳnh Thị H10 diện
tích đất 100m
2
(ngang 8m, dài 12,5m), diện tích đất này một phần nằm trong tổng diện
tích thuộc thửa đất số 522, tờ bản đồ s02, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình
Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004
cấp cho hộ ông Trần Văn G. Việc chuyển nhượng đất giữa 02 bên lập bằng giấy tay, với
giá chuyển nhượng 28.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng H10 đã thanh
toán đủ tiền cho ông G ông G đã giao đất cho H10 quản sdụng từ năm 2004.
Sau đó H10 chuyển nhượng bằng giấy tay cho ông Văn T20 toàn bộ diện tích
đất nêu trên với giá chuyển nhượng 28.000.000 đồng. Đến ngày 25/02/2009 gia đình ông
được ông T20 tặng cho toàn bộ diện tích đất nêu trên. Khi ông T20 tặng cho gia đình
ông bà đất thì trên đất chưa có nhà. Cùng năm 2009 gia đình ông bà xây dựng căn nhà cấp
4 trên đất. Sử dụng một thời gian vào m 2010 gia đình ông chuyển nhượng bằng
giấy tay cho Trần Thị H3 diện tích 32m
2
cho H3 sử dụng chung đường đi 12m.
Từ khi được tặng cho đất đến nay hai bên không phát sinh tranh chấp cũng không có
ai tranh chấp với gia đình ông bà và gia đình ông bà đã được địa phương cấp số nhà và đã
có sổ hộ khẩu.
Nay, ông G chết, con ông G ông Trần Văn T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa
kế của ông Trần Văn G quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 522, tờ bản đ
số 02 diện tích khoảng 150m
2
, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hộ
ông Trần Văn G thành 09 kỷ phần thừa kế. Ông Trần Văn T yêu cầu được nhận bằng hiện
vật. Ông T đồng ý hoàn lại cho các đồng thừa kế số tiền tương ứng giá trị tài sản các
đồng thừa kế được nhận thì gia đình ông bà không có ý kiến gì.
13
Đối với phần đất của gia đình ông đang khi nào nhà nước chính sách đủ
điều kiện thì gia đình ông sẽ làm thủ tục tách thửa, sang tên theo quy định. Ông
không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T8 trình bày:
Vào ngày 23/11/2020 bà Đỗ Thị Kim T21 chuyển nhượng cho ông Lê Văn T8 diện
tích đất 36m
2
, diện tích đất này một phần nằm trong tổng diện tích thuộc thửa đất số
522, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình ơng theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hộ ông
Trần Văn G. Việc chuyển nhượng đất giữa 02 bên lập bằng giấy tay, với giá chuyển
nhượng 800.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng ông T8 đã thanh toán đủ tiền
cho T21 T21 đã giao đất cho ông T8 quản sử dụng từ năm 2020. Khi nhận
chuyển nhượng thì trên đất đã có căn nhà cấp 4. Hiện nay ở trên đất có một mình ông sinh
sống. Từ khi nhận chuyển nhượng đất cho đến nay hai bên không phát sinh tranh chấp
cũng không ai tranh chấp với ông, ông đã được địa phương cấp số nhà. Nguồn gốc
diện tích đất nêu trên của ông G sau đó ông G chuyển nhượng cho ai ông không biết,
ông chỉ biết Huỳnh Thị Ngọc T22 chuyển nhượng cho bà Đỗ Thị Kim T21, sau đó
T21 chuyển nhượng cho ông.
Nay, ông G chết, con ông G ông Trần Văn T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa
kế của ông Trần Văn G quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 522, tờ bản đ
số 02 diện tích đất còn lại, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hộ ông
Trần Văn G thành 09 kỷ phần thừa kế. Ông Trần Văn T yêu cầu được nhận bằng hiện vật.
Ông T đồng ý hoàn lại cho các đồng thừa kế số tiền tương ứng giá trị tài sản mà c đồng
thừa kế được nhận thì ông không có ý kiến gì.
Đối với phần đất của ông đang khi nào nhà nước chính sách đủ điều kiện thì
ông sẽ làm thủ tục tách thửa, sang tên theo quy định. Ông không yêu cầu độc lập trong
vụ án.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn T7, Nguyễn Thị Khánh
C2, thống nhất trình bày:
Vào ngày 19/4/2005 ông Trần Văn G chuyển nhượng cho ông Trần Thanh B4 diện
tích đất 101,5m
2
(ngang 3,5m, dài 29m), diện tích đất này một phần nằm trong tổng
diện tích thuộc thửa đất số 522, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh
Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày
18/5/2004 cấp cho hộ ông Trần Văn G. Việc chuyển nhượng đất giữa 02 bên lập bằng
giấy tay, với giá chuyển nhượng 30.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng ông
B4 đã thanh toán đủ tiền cho ông G ông G đã giao đất cho ông B4 quản lý, sử dụng từ
năm 2005. Đến ngày 15/02/2006 vợ chồng ông nhận chuyển nhượng lại của ông B4
với giá giá chuyển nhượng 65.000.000 đồng, cùng thời điểm y ông B4 nhận chuyển
nhượng thêm diện tích đất làm đường đi là 0,5mx15m = 7,5m
2
chuyển nhượng lại toàn
bộ đất cho vợ chồng ông bà. Sau khi nhận chuyển nhượng vợ chồng ông đã thanh toán
hết tiền cho ông B4 ông B4 đã giao đất cho vợ chồng ông quản lý, sử dụng từ năm
2006 đến nay. Đến năm 2008 vợ chồng ông xây dựng căn nhà cấp 4. Từ khi nhận
chuyển nhượng đất của ông B4 đến nay hai bên không phát sinh tranh chấp và cũng
14
không ai tranh chấp với vợ chồng ông nhà ông đã được địa phương cấp số
nhà. Hàng năm vợ chồng ông bà đã nộp đủ thuế cho nhà nước.
Nay, ông G chết, con ông G ông Trần Văn T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa
kế của ông Trần Văn G quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 522, tờ bản đ
số 02 diện tích đất còn lại, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hộ ông
Trần Văn G thành 09 kỷ phần thừa kế. Ông Trần Văn T yêu cầu được nhận bằng hiện vật.
Ông T đồng ý hoàn lại cho các đồng thừa kế số tiền tương ứng giá trị tài sản mà c đồng
thừa kế được nhận thì vợ chồng ông bà không có ý kiến gì.
Đối với phần đất của vợ chồng ông đang khi nào nhà nước chính sách đủ
điều kiện thì vợ chồng ông sẽ làm thủ tục tách thửa, sang tên theo quy định. Ông
không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim T6 trình bày:
Ông Trần Văn G ông nội của bà. Vào khoảng năm 2011 ông G tặng cho cha
ông Trần Văn T bằng miệng diện diện tích đất n lại, diện tích đất này một phần
nằm trong tổng diện ch thuộc thửa đất số 522, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại phường B,
thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705
QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hộ ông Trần Văn G. Cùng năm 2011 ông Trần Văn T
cho bà ở trên diện tích đất này, trên đất đã có 01 căn nhà cấp 4.
Nay, ông G chết, con ông G ông Trần Văn T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa
kế của ông Trần Văn G quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 522, tờ bản đ
số 02 diện tích đất còn lại, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh nh Dương theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hộ ông
Trần Văn G thành 09 kỷ phần thừa kế. Ông Trần Văn T yêu cầu được nhận bằng hiện vật.
Ông T đồng ý hoàn lại cho các đồng thừa kế số tiền tương ứng giá trị tài sản mà c đồng
thừa kế được nhận thì bà không có ý kiến gì. Bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phi B2, Phạm Thị Trúc P
thống nhất trình bày:
Vào ngày 06/11/2004 ông Trần Văn G chuyển nhượng cho vợ chồng ông diện
tích đất 44m
2
(ngang 4,4m, dài 10m) và ông G thỏa thuận cho 02m đường đi, diện tích đất
này một phần nằm trong tổng diện tích thuộc thửa đất số 522, tờ bản đồ số 02, tọa lạc
tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hông Trần Văn G. Việc chuyển nhượng đất
giữa 02 bên lập bằng giấy tay, với giá chuyển nhượng 20.000.000 đồng. Sau khi nhận
chuyển nhượng ông đã thanh toán đủ tiền cho ông G ông G đã giao đất cho ông
quản sử dụng từ năm 2004 đến nay. Đến khoảng năm 2011 vợ chồng ông xây dựng
căn nhà cấp 4 trên đất từ đó cho đến nay. Khi xây dựng nhà vợ chồng ông làm
thủ tục xin phép được xây dựng được địa phương chấp nhận. Từ khi nhận chuyển
nhượng đất của ông G đến nay hai bên không phát sinh tranh chấp cũng không ai
tranh chấp với vợ chồng ông bà, nhà ông bà đã được địa phương cấp số nhà và đã đăng ký
KT3.
15
Nay, ông G chết, con ông G ông Trần Văn T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa
kế của ông Trần Văn G quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 522, tờ bản đồ
số 02 diện tích đất còn lại, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hộ ông
Trần Văn G thành 09 kỷ phần thừa kế. Ông Trần Văn T yêu cầu được nhận bằng hiện vật.
Ông T đồng ý hoàn lại cho các đồng thừa kế số tiền tương ứng giá trị tài sản mà c đồng
thừa kế được nhận thì ông bà không có ý kiến gì.
Đối với phần đất của vợ chồng ông đang khi nào nhà nước chính sách đủ
điều kiện thì vợ chồng ông sẽ làm thủ tục tách thửa, sang tên theo quy định. Ông
không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thành C1, ông Hoài B3
thống nhất trình bày:
Vào ngày 27/3/2009 ông Trần Văn G chuyển nhượng cho vợ chồng ông Sang
C4Nguyễn Thị H11 diện tích đất 43,4m
2
(ngang 3,10m, dài 14m), diện tích đất này
một phần nằm trong tổng diện tích thuộc thửa đất số 522, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hông Trần Văn G. Việc chuyển nhượng đất
giữa 02 bên lập bằng giấy tay, với giá chuyển nhượng 190.000.000 đồng. Sau khi nhận
chuyển nhượng ông C4, bà H11 đã thanh toán đủ tiền cho ông G và ông G đã giao đất cho
ông C4, H11 quản lý sử dụng từ năm 2009, trên đất có căn cấp 4. Đến ngày
12/11/2021 gia đình ông nhận chuyển nhượng lại của ông C4, H11 với giá giá
chuyển nhượng 900.000.000 đồng. Khi nhận chuyển nhượng trên đất đã sẵn căn nhà
cấp 4. Sau khi nhận chuyển nhượng gia đình ông bà đã thanh toán hết tiền cho ông C4,
H11 H11, ông C4 đã giao nhà cho ông quản lý, sử dụng từ năm 2021 đến nay.
Từ khi nhận chuyển nhượng đất của ông C4, H11 đến nay hai bên không phát sinh
tranh chấp cũng không ai tranh chấp với gia đình ông bà, nhà ông đã được địa
phương cấp số nhà.
Nay, ông G chết, con ông G ông Trần Văn T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa
kế của ông Trần Văn G quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 522, tờ bản đồ
số 02 diện tích đất còn lại, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hộ ông
Trần Văn G thành 09 kỷ phần thừa kế. Ông Trần Văn T yêu cầu được nhận bằng hiện vật.
Ông T đồng ý hoàn lại cho các đồng thừa kế số tiền tương ứng giá trị i sản mà c đồng
thừa kế được nhận thì ông không ý kiến gì. Đối với phần đất của ông đang khi
nào nhà nước có chính sách đủ điều kiện thì gia đình ông bà sẽ làm thủ tục tách thửa, sang
tên theo quy định. Ông bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn A trình bày:
Vào ngày 04/12/2008 ông Trần Văn G chuyển nhượng cho Võ Thị H12 diện
tích đất 43,4m
2
diện tích đất này một phần nằm trong tổng diện tích thuộc thửa đất số
522, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình ơng theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hộ ông
Trần Văn G. Việc chuyển nhượng đất giữa 02 bên lập bằng giấy tay, với giá chuyển
nhượng 180.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng H12 đã thanh toán đủ tiền
16
cho ông G và ông G đã giao đất cho bà H12 quản lý sử dụng từ năm 2008. Sau đó bà H12
chuyển nhượng bằng giấy tay cho Thị L5. Vào ngày 04/6/2020 L5 chuyển
nhượng cho ông Huỳnh Thanh T23 toàn bộ diện tích đất nêu trên với giá chuyển nhượng
760.000.000 đồng. Đến ngày 22/4/2021 ông T23 chuyển nhượng cho ông bằng vi bằng.
Sau khi nhận chuyển nhượng ông đã thanh toán đủ tiền cho ông T23 với giá chuyển
nhượng 920.000.000 đồng. Hiện nay trên đất chỉ một mình ông (ông đã ly hôn
vợ n 40 năm nay). Từ khi mua đất nhà cho đến nay các bên không phát sinh tranh
chấp và cũng không có ai tranh chấp với ông, nhà ông đã được địa phương cấp số nhà.
Nay, ông G chết, con ông G ông Trần Văn T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa
kế của ông Trần Văn G quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 522, tờ bản đ
số 02 diện tích đất còn lại, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hộ ông
Trần Văn G thành 09 kỷ phần thừa kế. Ông Trần Văn T yêu cầu được nhận bằng hiện vật.
Ông T đồng ý hoàn lại cho các đồng thừa kế số tiền tương ứng giá trị tài sản các đồng
thừa kế được nhận thì ông không có ý kiến gì.
Đối với phần đất của ông đang khi nào nhà nước chính sách đủ điều kiện thì
ông sẽ làm thủ tục tách thửa, sang tên theo quy định. Ông không yêu cầu độc lập trong
vụ án.
Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham
gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án
đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết ván: Căn cứ vào hồ vụ án, các tài
liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét kết quả tranh tụng của những người
tham gia tố tụng tại phiên tòa. Nhận thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn căn cứ
nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cu c tài liu trong h vụ án, được thm tra ti phiên tòa,
căn c vào kết qu tranh tng ti phiên tòa, Hi đng xét x nhận đnh:
[1] V thm quyn gii quyết quan h tranh chp: Ông Trần n T khi kin
yêu cu Trn Th B v vic chia di sn ca c Trần Văn G chết để li theo pháp lut
quyền sử dụng đất thuộc một phần thửa đất số 522, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại phường B,
thành phT, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 cấp cho hộ cụ Trần
Văn G thành 09 kỷ phần thừa kế. Xét, đây vụ án Tranh chp di sn tha kế v án
thuc thm quyn gii quyết ca Tòa án nhân dân thành ph Thun An, tỉnh Bình Dương
(nay là Tòa án nhân n khu vc 16, Thành ph H Chí Minh) theo quy định tại Điều 26,
Điều 35 và Điều 39 B lut T tng dân s.
[2] B đơn Trn Th B; người quyn lợi, nghĩa v liên quan Trần Thị B1,
Trần Thị H, ông Văn V, ông Trần Văn T2, Trần Thị H1, ông Trần Văn C,
Phạm Thị E, ông Trần Văn T3, ông Trần Anh K, Trần Thị Kim T4, ông Nguyễn Gia
17
H2, Nguyễn Thị Thu L, ông Nguyễn A, ông Nguyễn Phi B2, ông Hoài B3,
Nguyễn Thành C1, Phạm Thị T5, Thị L1, Nguyễn Thị Khánh C2, ông Phạm
Nhựt Q, Phạm Thị Trúc P, HNgọc S, ông Hoàng N1, Trần Thị Kim T6,
ông Hoàng Văn T7, ông Văn T8, ông Đinh Hoàng L2, Trương Thị Nguyệt Y, bà
Trần Thị H3, ông Đinh Văn C3, ông Nguyễn Văn H4, Hoàng Kim L3, ông Nguyễn
Ngọc L4, bà Hồ Thị Thảo N2, ông Phạm Ngọc T9, Phạm Ngọc T10, bà Phạm Thị Trúc P,
ông Võ Văn T11, ông Thạch Kiêm Nhựt T12, Nguyễn Thị Dạ T13, bà Trần Thị H3, bà
Hồ Ngọc H5, ông Đặng Thanh T14, ông Thạch Phương N4, bà Thị H6 có đơn đề nghị
Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng
xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.
[3] Qúa trình tố tụng những người đã nhận chuyển nhượng 01 phần quyền sử dụng
đất nguồn gốc của cụ Trần Văn G thuộc thửa đất số 522, tờ bản đồ số 02 đã xây
dựng nhà trên đất đều thống nhất xác định không tranh chấp trong vụ án này. Do
đó, Hội đồng xét xử không đưa những người trước đây nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất từ cụ G, sau đó chuyển nhượng cho người khác nhưng hiện nay không còn sinh
sống trên đất đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho những người đang trên đất
hiện nay vào tham gia tố tụng với cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong
vụ án này, đồng thời Hội đồng xét xử cũng không đưa ra xem xét giải quyết đối với giao
dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa những người này giao dịch chuyển
nhượng quyền sử dụng đất xuất phát từ cụ G. Trường hợp, các đương sự tranh chấp thì
có quyền khởi kiện và giải quyết trong một vụ án khác.
[4] Các đương sự thống nhất kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản ngày
15 tháng 01 năm 2025; kết quả đo đạc ngày 08 tháng 8 năm 2025 của Chi nhánh Văn
phòng Đăng đất đai thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ căn cứ
vào kết quả định giá tài sản ngày 15 tháng 01 năm 2025; kết quả đo đạc ngày 08 tháng 8
năm 2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Bình Dương để
làm căn cứ giải quyết vụ án.
[5] Các đương sự thống nhất về quan hệ huyết thống của cụ Trần Văn G cụ
Thị H7. Cụ G chết ngày 08 tháng 8 năm 2009, cụ H7 chết ngày 07 tháng 8 năm 2000. Cụ
G và cụ H7 có 09 người con gồm:
1. Ông Trần Văn H8 (chết năm 2021). Ông H8 vợ Phạm Thị E. Ông H8,
bà E có 03 người con gồm Trần Văn T3, Trần Anh K, Trần Thị Kim T4.
2. Bà Trần Thị B1
3. Ông Nguyễn Văn T24
4. Bà Trần Thị H
5. Ông Lê Văn V
6. Ông Trần Văn T2
7. Bà Trần Thị H1
8. Ông Trần Văn C
9. Bà Trần Thị B.
18
Ngoài ra, cụ G, cụ H8 không còn người con riêng hay con nuôi nào khác; lúc
còn sống cụ G cH8 không nợ ai cũng không cho ai nợ; cụ G chết không để lại di
chúc. Khi còn sống, cụ G tạo lập được tài sản quyền sử dụng đất thuộc thửa số 522; tờ
bản đồ số 02; tọa lạc tại phường B, thành phT, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 do UBND huyện T, tỉnh Bình
Dương cấp cho hộ cụ Trần Văn G. a trình sử dụng đất cụ G đã chuyển nhượng cho
nhiều người bằng hình thức lập giấy tay (không công chứng, chứng thực). Tuy nhiên,
những người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của cụ G đều xây dựng nhà trên đất
đã được địa phương cấp số nhà ổn định từ khi nhận chuyển nhượng cho đến nay các
bên không phát sinh tranh chấp; diện tích đất còn lại theo kết quả đo đạc thực tế
198.2m
2
hiện nay do ông Trần Văn T đang quản lý, sử dụng. Những người thuộc hàng
thừa kế thứ nhất của CG ông Trần Văn H8 đều xác định khi còn sống cụ G đã tặng
cho ông Trần Văn T diện tích đất còn lại, các anh em trong gia đình đều biết sự việc này
không ai phản đối hay tranh chấp gì; ông T đã quản lý, sử dụng phần đất này ổn định
và xây dựng nhà trên đất từ đó cho đến nay; toàn bộ tài sản trên đất do ông T xây dựng.
Xét, đây những tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ
luật Tố tụng Dân sự.
[6] Như vậy, di sản quyền sử dụng đất của cụ G chết để lại còn lại 198.2m
2
,
nay bị đơn Trần Thị B những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị
B1, bà Trần Thị H, ông Lê Văn V, ông Trần Văn T2, bà Trần Thị H1, ông Trần Văn C, bà
Phạm Thị E, ông Trần Văn T3, ông Trần Anh K, Trần Thị Kim T4 đều thống nhất
đồng ý và yêu cầu Tòa án chia di sản của cụ G chết để lại làm 09 kỷ phần bằng nhau. Tuy
nhiên, do diện tích đất quá nhỏ không thể chia bằng hiện vật được nên để đảm bảo việc sử
dụng của các đương sthì cần thiết phải giao đất cho ông T ông T trách nhiệm
thanh toán giá trị cho các đồng thừa kế mỗi người được hưởng như sau: 198.2m
2
x
13.000.000 đồng = 2.576.600.000 đồng chia cho 9 = 286.288.888 đồng.
[7] Qúa trình tố tụng, bị đơnTrần Thị B những người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Trần Thị B1, Trần Thị H, ông Văn V, ông Trần Văn T2, Trần Th
H1, ông Trần Văn C, Phạm Thị E, ông Trần Văn T3, ông Trần Anh K, Trần Thị
Kim T4 văn bản c định trường hợp các ông được nhận kỷ phần thừa kế của cụ G
kỷ phần thừa kế của ông Trần Văn H8 thì các ông đồng ý giao lại cho ông T được
hưởng và không yêu cầu ông T phải thanh toán lại tiền mà các ông được chia. Xét, đây
là sự tự nguyện của các đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xchấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
[9] Ông Trần Văn T được quyền sử dụng diện tích đất 198.2m
2
không phải
thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho các đồng thừa kế của cụ G và ông H8.
[10] Ông Trần Văn T được quyền liên hệ với quan nhà nước thẩm quyền để
làm thủ tục biến động sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có đủ điều kiện
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép làm thủ tục biến động sang tên quyền sử
dụng đất.
[11] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc định giá tài sản nguyên đơn
ông Trần Văn T tự nguyện nộp số tiền 7.004.842 đồng. Ông T đã nộp xong.
19
[12] Về án phí: Ông Trần Văn T đã trên 60 tuổi người cao tuổi theo quy định
của Luật người cao tuổi năm 2009 thì ông T thuộc trường hợp được miễm án phí theo quy
định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 ca Ủy ban thưng v Quc hội khóa 14 qui định v mc thu, min, gim, thu,
np, qun lý và s dng án phí và l phí Tòa án nên ông T được min án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 26, Điều 35; Điều 39; Điều 74; Điều 92; Điều 147; Điều 228; Điều
244; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 609, 612, 613, 620 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009;
- Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 ca y ban
thưng v Quc hội khóa 14 qui định v mc thu, min, gim, thu, np, qun s
dng án phí và l phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T đối với bị đơn
Trần Thị B về việc Tranh chấp di sản thừa kế.
1.1. Giao cho ông Trần Văn T quản lý, sử dụng diện tích đất 198.2m
2
toàn bộ
tài sản gắn liền trên đất thuộc một phần thửa số 522, tờ bản đồ 02 theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 002705 QSDĐ/BN ngày 18/5/2004 do UBND huyện T, tỉnh Bình
Dương cấp cho hộ ông Trần Văn G; tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương
(nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Có sơ đồ bản vẽ kèm theo (ký hiệu A).
1.2. Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn bà Trần Thị B và những người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Trần Thị B1, Trần Thị H, ông n V, ông Trần Văn T2,
Trần Thị H1, ông Trần Văn C đồng ý giao kỷ phần của các ông, được hưởng cho ông
Trần Văn T được nhận kỷ phần này không phải phải thanh toán lại giá trquyền sử
dụng đất của mỗi kỷ phần là 286.288.888 đồng.
1.3. Ghi nhận sự tự nguyện của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm
Thị E, ông Trần Văn T3, ông Trần Anh K, Trần Thị Kim T4 đồng ý giao kỷ phần của
các ông, được hưởng cho ông Trần Văn T được nhận kỷ phần y không phải phải
thanh toán lại giá trị quyền sử dụng đất của mổi kỷ phần là 71.572.222 đồng.
1.4 Ông Trần Văn T được quyền liên hệ với quan nhà nước thẩm quyền để
làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sdụng đất theo quyết định của bản án này
khi đủ điều kiện được quan nhà nước thẩm quyền cho phép làm thủ tục biến
động sang tên quyền sử dụng đất.
2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc định giá tài sản: Nguyên đơn
ông Trần Văn T tự nguyện nộp số tiền 7.004.842 đồng. Ông T đã nộp xong.
3. Về án phí: Ông Trần Văn T người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự
thẩm.
20
Các đương sự quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu HS, VP.
Phạm Thị Bạch Tuyết
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 154/2025/DS-ST Bản án số 154/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 154/2025/DS-ST Bản án số 154/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất