Bản án số 148/2026/DS-PT ngày 11/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 148/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 148/2026/DS-PT ngày 11/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 148/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà T,bà X mua rẫy hợp lệ đã được cấp GCN QSD đất, sau đó ông YL bkrông lấn chiếm ,nay khỏi kiện đoi lại.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 148/2026/DS-PT
Ngày: 11 - 3 - 2026
V/v: “Kin đòi i sản quyn sử dụng đt”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Triết
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Trang
Ông Lê Trúc Lâm
- Thư ký phiên toà: Bà Thị Hồng Phúc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Trương Thị T3
Thủy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 11 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 516/2025/TLPT-DS ngày 01
tháng 12 năm 2025 về việc: “Kin đòi tài sản là quyền sử dụng đất”
Do bản án dân sự thẩm số: 28/2025/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 82/2026/QĐ-PT ngày
14 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Hoàng Thị Phương T, sinh năm 1992. Địa chỉ: 558/9 NVC, phường
TL, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
2. Ngô Thị Thanh X, sinh năm 1969. Địa chỉ: Thôn 12, phường TA,
tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
1. Ông Lê Văn N, sinh năm 1987, có mặt.
2. Ông Nguyễn Tăng H, sinh năm 1991, có mặt.
Cùng địa chỉ: 109 NTT, xã KA, tỉnh Đắk Lắk
- Bị đơn: Ông Y L Bkrông, sinh năm 1962. Địa chỉ: Buôn Y, EK, tỉnh
Đắk Lắk, vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Số 100, Quốc lộ 14, Thôn TH, xã ĐM, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Ông Trịnh Hoàng D, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn NL, EP tỉnh
Đắk Lắk, vắng mặt.
2. Ông Phạm Ngọc Q, sinh năm 1965 Hồ Thị A, sinh năm 1964
Cùng địa chỉ: Số nhà 85, Thôn TT,KP, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
3. Ông Ngọc C, sinh năm 1971 Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm
1977. Cùng địa chỉ: Thôn PQ, xã VB, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
4. Ông Nguyễn Đ, sinh năm 1980 và bà Huỳnh Thị T3 M, sinh năm 1981.
Cùng địa chỉ: Số nhà 20 đường TX, xã KP, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
5. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1982. Địa chỉ: 21 LD, tổ dân phố 2,
KP, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
6. Ông Nhâm Văn P, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ dân ph8, KP, tỉnh
Đắk Lắk, vắng mặt.
7. Bà H R Niê, sinh năm 1969, vắng mặt.
8. Bà H B Niê, sinh năm 1987, vắng mặt.
9. Ông Y E Niê, sinh năm 1992. , vắng mặt.
10. Ông Y G Niê, sinh năm 1997, vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Buôn Yẽ, EK, tỉnh Đắk Lắk
11. Ông Y K Niê, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số nhà 177, Buôn EY B, xã
KP, tỉnh Đắk Lắk, mặt.
12. Ông Y O Niê (còn gọi là Y Jăk Niê), sinh năm 1994. Nơi cư trú: Buôn
Y, xã , tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
Hiện ở tại: Buôn EY A, xã KP, tỉnh Đắk Lắk
13. H V Byă, sinh năm 1987. Địa chỉ: Buôn K, TT, tỉnh Đắk Lắk,
vắng mặt.
14. Ông Y S1 Ktla, sinh năm 1973 H B1 Bkrông, sinh năm 1980.
Cùng địa chỉ: Buôn Y, xã EK, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Y L Bkrông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
- Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Phương T: Ngày
04/05/2022, bà Hoàng Thị Phương T có ký hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất với bên chuyển nhượng vợ chồng ông Ngọc C - Nguyễn
Thị Hải Y, cùng địa chỉ: VB, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay VB, tỉnh
Đắk Lắk) tại Phòng công chứng số 2 tỉnh Đắk Lắk, địa chỉ: 33 Đường NTMK -
Khối 2, thị Trấn PA, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay KP, tỉnh Đắk Lắk). Số
công chứng: 2985, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD. Cụ thể thửa đất nhận
chuyển nhượng: Thửa đất số 206, tờ bản đồ 84, địa chỉ thửa đất: EK, huyện
KP, tỉnh Đắk Lắk (nay EK, tỉnh Đắk Lắk); Diện tích: 396,8m
2
. Hình thức
sử dụng: Sử dụng riêng; Mục đích sử dụng: Đất nông thôn (ONT): 100m
2
; đất
trồng cây lâu năm (CLN): 296,8m
2
; Thời hạn sử dụng: Đất ONT: Lâu dài; đất
trồng cây hàng năm (CLN): 2043. Nguồn gốc sử dụng: Nhận chuyển nhượng đất
được Công nhận QSDĐ n giao đất thu tiền sử dụng đất: 100m
2
; Nhận
3
chuyển nhượng đất được Công nhận QSDĐ như giao đất không thu tiền s
dụng đất: 298,6m
2
.
Sau khi Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng
xong. Bên chuyển nhượng bên nhận chuyển nhượng đã cùng nhau tới kiểm
tra lại hiện trạng thửa đất, Y - ông C đã bàn giao quyền sử dụng đất trên cho
bà T trên thực địa.
Ngày 22/05/2022, Hoàng Thị Phương T nhận được Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số: DB
010719, thửa đất số 206, tờ bản đồ 84, diện tích 396,8m
2
(Đất nông thôn
(ONT): 100m
2
; đất trồng cây lâu năm (CLN): 296,8m
2
) ta lc tại EK, huyện
KP, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã EK, tỉnh Đắk Lắk). Mang tên bà Hoàng Thị Phương
T do Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay Văn phòng
đăng đất đai tỉnh Đắk Lắk - Chi nhánh khu vực KP) thay đổi đăng ký biến
động trang 4 theo hồ sơ số: 000151.CN.004.
Sau khi nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất được bàn giao quyền sử dụng
đất đối với thửa đất, T vẫn thường xuyên xuống kiểm tra đối với thửa đất
không có tranh chấp với ai. Tuy nhiên, ngày 31/07/2022 bà T xuống kiểm tra đất
thì phát hiện người đang sử dụng phần diện tích đất của tự xưng mình
là chủ đất. Qua tìm hiểuT mới biết người có hành vi trên là ông Y L Bkrông,
địa chỉ: Buôn YE, EK, huyện PK, tỉnh Đắk Lắk (nay là EK, tỉnh Đắk Lắk)
đang chuẩn bị đòi làm nhà trên phần diện tích đất của T đã nhận chuyển
nhượng.
Mặc dù, T đã khẳng định diện tích đất này đã được nhận chuyển
nhượng hợp pháp nhưng ông Y L Bkrông hành vi chửi bới dọa đánh nếu
như T còn dám tới diện tích đất này. Sau đó ông Y L Bkrông còn tự ý dựng
01 căn nhà bằng sắt, mái lợp tôn với diện tích khoảng 9m
2
trên phần thửa đất
của T. T đã làm đơn H3 giải tranh chấp đất đai gửi đến UBND EK để
yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai với ông Y L Bkrông, tuy nhiên trong quá
trình hòa giải thì ông Y L Bkrông n, sau đó chửi bới rồi bỏ về. Nên buổi
hòa giải không thành theo Biên bản làm việc ngày 23/12/2022 của UBND
EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay xã EK, tỉnh Đắk Lắk). Do quyền lợi ích
hợp pháp của Hoàng Thị Phương T bị xâm phạm nên Hoàng Thị Phương
T đã khởi kiện ông Y L Bkrông đến Tòa án.
Sau khi khởi kiện, Hoàng Thị Phương T đơn yêu cầu đo đạc, xem
xét thẩm định tại chỗ. Tòa án đã xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định bà
T đồng ý với kết quả đo đạc do Công ty đo đạc thực hiện và đồng ý với kết quả
thẩm định giá do Công ty cổ phần Thẩm định giá dịch vụ tài sản TC - Chi
nhánh Đắk Lắk đã thực hiện xong việc thẩm định giá đã cung cấp chứng thư
thẩm định giá cho Tòa án.
Nguyện vọng của Hoàng Thị Phương T đề nghị Tòa án xem xét, giải
quyết: Buộc ông Y L Bkrông phải trả lại cho Hoàng Thị Phương T toàn bộ
phần diện tích đất ông đang sử dụng trái phép theo giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số DB 010719,
4
thửa số 206, tờ bản đồ 84, diện tích 396,8m
2
(Đất nông thôn (ONT): 100m
2
;
đất trồng cây lâu m (CLN): 296,8m
2
) (đo thực tế 398,7m
2
) tọa lc tại EK,
huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay là EK, tỉnh Đắk Lắk). QSDĐ này được Sở tài
nguyên môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp cho ông Phạm Ngọc Q, Hồ Thị A
vào ngày 16/9/2021. Được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện KP (nay
Văn phòng đăng đất đai tỉnh Đắk Lắk - Chi nhánh khu vực KP) thay đổi
đăng biến động sang bà Nguyễn Thị Hải Y (Theo hồ số 000151.CN.001)
vào ngày 09/02/2022. tiếp tục được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
huyện KP (nay là Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk - Chi nhánh khu vực
KP) thay đổi đăng biến động sang bà Hoàng Thị Phương T (Theo hồ số
000151.CN.004) vào ngày 20/5/2022. Giá trị quyền sử dụng đất theo kết quả
thẩm định giá là 950.787.360 đồng.
Đồng thời, buộc ông Y L Bkrông phải tự di dời, tháo dỡ công trình
ông đã tự tạo dựng trên đất, gồm: 01 căn nhà tạm kết cấu mái lợp tôn, vách
đóng tôn, nền láng xi măng. diện tích 42,3m
2
; 01 chái nhà mái lợp tôn, vách
tôn, nền đất diện tích 17,7m
2
01 mái che bằng tôn khung sắt diện tích
12,5m
2
. Công trình xây dựng trên đất có trị giá là: 55.198.500đồng.
Quá trình làm việc cũng như tại phiên tòa, Hoàng Thị Phương T giữ
nguyên nội dung khởi kiện về việc Kiện đòi tài sản” cụ thể “Kiện đòi quyền
sử dụng đất” mà ông Y L Bkrông đang chiếm giữ, sử dụng trái phép của bà. Bản
thân T nhận chuyển nhượng lại của Y - ông C, hợp đồng chuyển nhượng
được công chứng theo đúng quy định của pháp luật, T cũng đã thanh toán đủ
số tiền chuyển nhượng cho Y - ông C ngay sau khi hai bên xác lập hợp đồng
chuyển nhượng, T cũng đã làm thủ tục đăng biến động pháp tại Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện KP (nay Văn phòng đăng đất đai
tỉnh Đắk Lắk - Chi nhánh khu vực KP) sang tên bà theo đúng quy định của pháp
luật. Các bên đã bàn giao đất và T đã nhận đất trên thưc tế, trên đất không
bất kỳ ai trên đất, không công trình vật kiến trúc trên đất cũng không
ai tranh chấp. Do đó T khẳng định đất này của T do T trực tiếp làm
chủ sở hữu không phải của ông Y L Bkrông. vậy Hoàng Thị Phương T
không khởi kiện Nguyễn Thị Hải Y, ông Ngọc C về việc Yêu cầu tiếp
tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng” T khởi kiện ông Y L Bkrông về
việc “Kiện đòi tài sản” theo quy định.
- Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngô Thị Thanh X: Ngày 21 tháng
03 năm 2022, Ngô Thị Thanh X hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất với bên chuyển nhượng ông Nguyễn Đ, Huỳnh Thị T3 M,
cùng địa chỉ: Thị trấn PA, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã KP, tỉnh Đắk Lắk)
tại Văn phòng công chứng PHT, địa chỉ: 168A Đường GP, Thị trấn PA, huyện
KP, tỉnh Đắk Lắk (nay KP, tỉnh Đắk Lắk). Số công chứng: 1745 quyển số
01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD. Cụ thể thửa đất nhận chuyển nhượng: Thửa đất số
204, Tờ bản đồ 84, địa chỉ thửa đất: EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay
EK, tỉnh Đắk Lắk). Diện tích 388,6m
2
(Ba trăm m ơi tám phẩy sáu mét
vuông). Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng. Mục đích sử dụng: Đất nông thôn
(ONT): 60m
2
; Đất trồng cây lâu năm (CLN): 328,6m². Thời hạn sử dụng: Đất
5
ONT: Lâu dài; Đất trồng cây hàng năm (CLN): 2043. Nguồn gốc sử dụng: Nhận
chuyển nhượng đất được Công nhận QSDĐ như giao đất thu tiền sdụng
đất: 60m
2
; Nhận chuyển nhượng đất được Công nhận QSDĐ như giao đất
không thu tiền sử dụng đất: 328,6m
2
.
Sau khi Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng
xong. Bên chuyển nhượng bên nhận chuyển nhượng đã cùng nhau tới kiểm
tra lại hiện trạng thửa đất, bên bán ông Đ - M đã bàn giao quyền sử dụng đất
trên thực địa cho bà X.
Ngày 28/03/2022, X nhận được Giấy chứng nhận quyền sdụng đất,
quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số: DB 105121, thửa đất số
204, tờ bản đồ 84, diện tích 388,6m
2
(Đất nông thôn (ONT): 60m
2
; đất trồng
cây lâu năm (CLN): 328,6m
2
) ta lc tại EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay
EK, tỉnh Đắk Lắk). Mang tên Ngô Thị Thanh X. Do Chi nhánh Văn phòng
đất đai huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay là Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk
- Chi nhánh khu vực KP) thay đổi đăng biến động trang 4 theo hồ số:
000147.CN.001.
Sau khi nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất được bàn giao quyền sử dụng
đất trên, X vẫn thường xuyên xuống kiểm tra đối với quyền sử dụng đất của
mình không tranh chấp với ai. Tuy nhiên, ngày 31/07/2022, khi xuống
kiểm tra diện tích đất nêu trên thì X phát hiện ông Y L Bkrông đang đứng
trên phần diện tích đất của mình tự xưng là chủ đất nói chuẩn bị làm nhà trên
phần diện tích đất này. Ngoài ra ông Y L Bkrông còn có hành vi chửi bới và dọa
đánh nếu như X dám tới thửa đất của mình. Sau đó, X đã đơn H3 giải
tranh chấp đất đai gửi đến UBND EK để tiến hành hòa giải giải quyết
tranh chấp đất đai. Ngày 23/12/2022, ông Y L Bkrông lên tham gia buổi hòa
giải nhưng sau đó chửi bới rồi bỏ về. Nên buổi hòa giải không thành, UBND
EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk đã lập biên bản không hòa giải được. Do đó
Ngô Thị Thanh X đã có đơn khởi kiện ông Y L Bkrông đến Tòa án.
Sau khi khởi kiện, Ngô Thị Thanh X đơn yêu cầu đo đạc, xem xét
thẩm định tại chỗ. Tòa án đã xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định bà X
đồng ý với kết quả đo đạc do ng ty đo đạc thực hiện đồng ý với kết quả
thẩm định giá do Công ty cổ phần Thẩm định giá dịch vụ tài sản TC - Chi
nhánh Đắk Lắk đã thực hiện xong việc thẩm định giá đã cung cấp chứng thư
thẩm định giá cho Tòa án.
Nguyện vọng của Ngô Thị Thanh X đề nghị Tòa án xem xét, giải
quyết: Buộc ông Y L Bkrông phải trả lại cho Ngô Thị Thanh X toàn bộ thửa
đất số 204, tờ bản đồ 84, diện tích 388,6m
2
(Đất nông thôn (ONT): 60m
2
; Đất
trồng cây lâu năm (CLN): 328,6m²) (đo thực tế 398,7m
2
), tọa lạc tại EK,
huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay EK, tỉnh Đắk Lắk) cây trồng trên đất
ông Y L Bkrông đang chiếm hữu, sử dụng trái phép thuộc sở hữu của Ngô
Thị Thanh X. Tài sản tổng trị giá 794.955.520 đồng (Bảy trăm chín ơi
triệu, chín trăm năm mươi sáu nghìn đồng). QSDĐ này đã được Sở tài
nguyên môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp cho ông Nguyễn Đ vào ngày
6
04/11/2021 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài
sản khác gắn liền với đất số DB 105121. Đến ngày 28/3/2022 đã được Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện KP (nay Văn phòng đăng đất đai
tỉnh Đắk Lắk - Chi nhánh khu vực KP) đăng biến động pháp sang Ngô
Thị Thanh X (Theo hồ sơ số 000147.CN.001).
Quá trình làm việc cũng như tại phiên tòa, Ngô Thị Thanh X giữ
nguyên nội dung khởi kiện về việc “Kiện đòi tài sản” cụ thể “Kiện đòi quyền
sử dụng đất” mà ông Y L Bkrông đang chiếm giữ, sử dụng trái phép của bà. Bản
thân X nhận chuyển nhượng lại của ông Đ - M, hợp đồng chuyển nhượng
được công chứng theo đúng quy định của pháp luật, X cũng đã thanh toán đủ
số tiền chuyển nhượng cho ông Đ - M ngay sau khi hai bên xác lập hợp đồng
chuyển nhượng, X cũng đã làm thủ tục đăng biến động pháp tại Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện KP (nay Văn phòng đăng đất đai
tỉnh Đắk Lắk - Chi nhánh khu vực KP) sang tên bà theo đúng quy định của pháp
luật. Các bên đã bàn giao đất và bà X đã nhận đất trên thưc tế, trên đất không có
bất k ai trên đất, chỉ 01 cây sầu riêng cũng không có ai tranh chấp. Do
đó X khẳng định đất này là của bà X do bà X trực tiếp làm chủ sở hữu không
phải của ông Y L Bkrông. vậy Ngô Thị Thanh X không khởi kiện ông
Nguyễn Đ, Huỳnh Thị T3 M về việc Yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng” X khởi kiện ông Y L Bkrông về việc Kiện đòi tài sản”
theo quy định.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Hoàng Thị Phương
T ông Ngọc C, Nguyễn Thị Hải Y; Ngô Thị Thanh X với ông
Nguyễn Đ, Huỳnh Thị T3 M khi xác lập hợp đồng đều ngay tình. Sau khi
nhận chuyển nhượng thì T, X đã hoàn tất thủ tục đăng ký biến động đất
đai theo quy định, đã nhận đất quản đất ổn định từ thời điểm nhận chuyển
nhượng cho đến ngày 31/07/2022 thì ông Y L Bkrông đã chiếm dụng đất của
T, X xây dựng, tạo lập một số tài sản trên đất sử dụng từ đó cho đến nay.
Theo quy định khoản 2 Điều 133 của Bộ luật dân sự nêu về việc bảo vệ
quyền lợi của người thứ ba ngay tình trong việc nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, cụ thể:
2. Trường hợp giao dịch dân sự hiệu nhưng tài sản đã được đăng
tại quan nhà nước thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao
dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình người này căn cứ vào việc đăng
ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu”.
Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình đề
nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Hoàng Thị Phương T,
bà Ngô Thị Thanh X.
Ngoài ra Hoàng Thị Phương T, Ngô Thị Thanh X không yêu cầu gì
thêm.
* Bị đơn, đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Ông Y L hoàn toàn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
Hoàng Thị Phương T, bà Ngô Thị Thanh X về việc:
7
- Buộc ông Y L Bkrông phải trả lại cho T toàn bộ phần diện tích đất tại
thửa số 206, tờ bản đồ 84, diện tích 396,8m
2
EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk
(nay xã EK, tỉnh Đắk Lắk) được cấp GCNQSDĐ số DB 010719 đã thay đổi
đăng ký biến động sang tên bà Hoàng Thị Phương T ngày 20/5/2022. Đồng thời,
buộc ông Y L Bkrông phải tự di dời, tháo dỡ công trình mà ông đã tạo dựng trên
đất, gồm: 01 căn nhà tạm kết cấu mái lợp tôn, vách đóng tôn, nền láng xi
măng. diện tích 42,3m
2
; 01 chái nhà mái lợp tôn, vách tôn, nền đất diện
tích 17,7m
2
và 01 mái che bằng tôn khung sắt có diện tích 12,5m
2
.
- Buộc ông Y L Bkrông phải trả lại cho bà X toàn bộ phần diện tích đất tại
thửa đất số 204, tờ bản đồ 84 diện tích 388,6m
2
EK, huyện KP, tỉnh Đắk
Lắk (nay EK, tỉnh Đắk Lắk) theo GCNQSDĐ số DB 105121 được Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện KP thay đổi đăng ký biến động sang bà
Ngô Thị Thanh X ngày 28/3/2022.
Vì các lý do như sau:
Thứ nhất: Hoàng Thị Phương T nhận chuyển nhượng thửa số 206, tờ
bản đồ 84, diện tích 396,8m
2
của Nguyễn Thị Hải Y - ông Ngọc C
Ngô Thị Thanh X nhận chuyển nhượng thửa đất số 204, tbản đồ 84, diện tích
388,6m
2
của ông Nguyễn Đ - Huỳnh Thị T3 M mà không tìm hiểu nguồn gốc
đất, không tìm hiểu ai là người đang trực tiếp canh tác, quản lý, sử dụng; giữa bà
T với Y - ông C X với ông Đ - M chỉ chuyển nhượng giao dịch trên
giấy thoàn toàn không có bàn giao đất trên thực địa, ông Y L Bkrông là người
ở trên các thửa đất này từ trước đến nay và thực tế các thửa đất này được tách ra
từ thửa đất số 113, tờ bản đồ 15, địa chỉ thửa đất: xã EK, huyện KP, tỉnh Đắk
Lắk (nay EK, tỉnh Đắk Lắk), diện tích 2440m² (trong đó 400m² đất ở,
2040m
2
đất phê). Bản thân ông Y L Bkrông không việc chuyển nhượng,
tặng cho đất của ông cho ai khác, ông trên diện tích đất này từ năm 1986 cho
đến nay, không có chỗ ở nào khác.
Thứ hai: Thửa đất số 113, tờ bản đồ 15, diện tích 2440m² (trong đó 400m²
đất ở, 2040m
2
đất cà phê), địa chỉ thửa đất:EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay
là xã EK, tỉnh Đắk Lắk) theo Giấy chứng nhận QSDĐ số R 617318 được UBND
huyện KP cấp ngày 05/03/2001 cho Hộ ông Y L Bkrông. Ngày 10/03/2005, Hộ
gia đình ông Y L Bkrông sang nhượng cho ông Y S1 Ktla và H B1
Bkrông, địa chỉ: Buôn YE, xã EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay EK, tỉnh
Đắk Lắk) diện tích 500m² đất trong tổng diện tích 2440m² của gia đình mà chưa
tách thửa sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, năm 2017,
H B Niê yêu cầu ông Y L Bkrông ủy quyền cho H B Niê để bà làm thủ
tục, tách thửa diện tích 500m² đất trên cho ông Y S1 Ktla H B1 Bkrông
nên ông Y L Bkrông đồng ý. Theo đó, ngày 14/03/2017, H B Niê lập hợp
đồng ủy quyền đưa cho ông Y L Bkrông tên tại nhà, nội dung ông Y L
Bkrông ủy quyền cho bà H B Niê đi làm thủ tục tách 500m² đất cho ông S1 Ktla
H B1 Bkrông. Tuy nhiên H B Niê không hợp đồng ủy quyền đ
đi làm thủ tục tách thửa đất trên cho ông S1 Ktla và bà H B1 Bkrông. Mà bà H B
Niê thay đổi nội dung trang 1 trang 2 hợp đồng ủy quyền thành hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất, rồi H B Niê mang hợp đồng đến cho Phòng công
8
chứng số tỉnh Đắk Lắk ghép trang lời chứng, đóng dấu giáp lai thành hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp, rồi H B Niê bán đất cho người khác
mà ông Y L Bkrông hoàn toàn không biết.
Do các con của ông Y L Bkrông không có ký hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất ngày 14/03/2017, nên chữ viết chbên tặng cho quyền sử dụng đất
trong hợp đồng không phải là của ông Y K Niê, ông Y E Niê, ông Y O Niê, ông
Y G Niê viết ra. Do ông Y L Bkrông, HR Niê, ông Y E Niê, ông Y O Niê,
ông Y G Niê không có ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất trước mặt Công
chứng viên, nên chữ ký giáp lai của ông Y L Bkrông, bà H R Niê, ông Y K Niê,
ông Y E Niê, ông Y O Niê, ông Y G Niê trên các trang hợp đồng đều ch
giả và không có chữ ký giáp lai của Công chứng viên. Do đó ông Y L Bkrông đã
có đơn khởi kiện bà H B Niê đến Tòa án yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho liên
quan đến thửa đất số 113, tờ bản đồ 15, địa chỉ thửa đất: EK, huyện KP, tỉnh
Đắk Lắk (nay EK, tỉnh Đắk Lắk), diện tích 2440m² (trong đó 400m² đất ở,
2040m
2
đất phê) theo Giấy chứng nhận QSDĐ số R 617318 được UBND
huyện KP cấp ngày 05/03/2001 cho Hộ ông Y L Bkrông. Tại bản án Dân sự
thẩm số 77/2024/DSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc
(nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk) đã chấp nhận đơn khởi kiện của
ông Y L Bkrông, cụ thể: Tuyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày
14/03/2017, giữa bên tặng cho ông Y L Bkrông và bên nhận tặng cho bà H
B Niê, ng chứng số 1644, quyền số 01/TP/CC-SCC/HĐGD tại Phòng công
chứng số 2 tỉnh Đắk Lắk hiệu. Như vậy, do ông Y L Bkrông không tặng
cho đất, không việc chuyển nhượng đất. Do đó ông đề nghị Tòa án xem xét
không chấp nhận đơn khởi kiện của bà Hoàng Thị Phương T, bà Ngô Thị Thanh
X đối với ông. Và đề nghị giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Quá trình làm việc tại Tòa án trước khi Tòa án có Quyết định đưa vụ án ra
xét xử phía bị đơn không có đơn phản tố tuy nhiên sau khi nhận Quyết định đưa
vụ án ra xét xử bị đơn ông Y L Bkrông (do ông Nguyễn Thanh Q là người đại
diện theo ủy quyền) có đơn phản tố. Cụ thể:
Ngày 10/03/2025, ông Y L Bkrông viết giấy tay giao cho ông AM
Amí Ni 500m
2
đất, một phần của thửa đất số 113; tờ bản đồ số 15; diện
tích 2.440m
2
; 400m
2
đất ở; địa chỉ thửa đất: EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk
(nay đổi thành EK, tỉnh Đắk Lắk); Giấy chứng nhận QSD đất số R 617318;
cấp ngày 05/01/2001 cho hộ ông Y L Bkrông. Theo đó ngày 14/03/2017, bà H B
Niê yêu cầu ông Y L Bkrông hợp đồng ủy quyền cho H B Niê đi làm thủ
tục tách thửa 500m
2
đất cho ông AM. Sau đó bà H B Niê thay đổi nội dung hợp
đồng ủy quyền thành hợp đồng tặng cho QSD đất, rồi mang hợp đồng đến
Phòng công chứng số 02 tỉnh Đắk Lắk công chứng thành hợp đồng tặng cho
QSD đất cho H B Niê, nên chữ giáp lai trên các trang hợp đồng không
phải của ông Y L Bkrông, ông Y K Niê, ông Y O Niê, ông Y G Niê viết ra,
chữ ký bên dưới mục tặng cho QSD đất tại trang 03 hợp đồng không phải là của
ông Y K Niê, ông Y O Niê, ông Y G Niê viết ra.
Ngày 23/12/2019, H B Niê tặng cho lại 2.440m
2
đất trên cho ông Y G
Niê thế chấp QSD đất cho Ngân hàng VIP - Chi nhánh Đắk Lắk vay tiền cho
9
H B Niê mà ông Y L Bkrông không biết. Đến ngày 22/02/2021, H V Byã
thừa cơ hội ông Y G Niê ký giấy ủy quyền cho bà H V Byã trả tin vay cho ngân
hàng xóa thế chấp Giấy chứng nhận QSD đất trên. H V Byã yêu cầu
Phòng công chứng số 2 tỉnh Đắk Lắk lập trước hợp đồng chuyển nhượng QSD
đất ngày 04/03/2021 cho bà H V Byã lót bên dưới hợp đồng ủy quyền, cho ông
Y G Niê ký giấy ủy quyền cho bà H V Bya đi xóa thế chấp rồi ký luôn hợp đồng
chuyển nhượng 2.440m
2
đất trên cho ông Trịnh Hoàng D với giá 50.000.000
đồng ông Y G Niê không biết, bằng chứng trên hợp đồng chuyển nhượng
QSD đất ngày 04/03/2021, ghi hợp đồng được lập tại Phòng công chứng số 2
tỉnh Đắk Lắk vào ngày 22/02/2021, trùng với ngày ông Y G Niê giấy ủy
quyền cho bà H V Byã đi xóa thế chấp. Đến ngày 01/06/2021, ông Trịnh Hoàng
D đã đứng tên chủ QSD đất trên rồi mà ông Trịnh Hoàng D còn thuê hội đen
ép buộc H Ru Niê, H B Niê, ông Y O Niê ký hợp đồng chuyển nhượng
2.440m
2
đất trên cho ông Nhâm Văn P với giá 850.000.000 đồng, trả trước
50.000.000 đồng, ông Trịnh Hoàng D, V Byã tên người làm chứng, thực
tế bà H B Niê không có nhận 50.000.000 đồng.
Ngày 01/07/2021, ông Trịnh Hoàng D chuyển nhượng 1.940m
2
đất,
một phần của diện tích 2.440m
2
đất trên cho ông Nguyễn Văn S với giá
850.000.000 đồng, hợp đồng thực hiện “Đợt 1 đặt cọc 50.000.000 đồng trong
ngày 01/06/2021, đợt 2 thanh toán 750.000.000 đồng ngay trong ngày
01/07/2021 để trả tiền cho ngân hàng, còn 50.000.000 đồng nhận băng tiền mặt.
Hiện tại Giấy chứng nhận QSD đất đang thế chấp vay tiền ngân hàng nên sau
khi nhận cọc song bên bán phải đi trả tiền cho ngân hàng rút bìa về làm thủ
tục cấp đổi bìa mới cho bên mua”, H V Byã ký tên người làm chứng. Sau đó
ông Trịnh Hoàng D thuê xã hội đen hủy hoại ngôi nhà cấp 4 và ngôi nhà 134 của
ông Y L Bkrông trị giá 750.000.000 đồng, rồi ép buộc ông Y L Bkrông ký nhận
50.000.000 đồng tiền hỗ trợ nhà làm nmới. Đến lúc này ông Y G Niê mới
biết mình bị lừa dối hợp đồng, nên ông G Niê ngăn chặn không cho ông
Trịnh Hoàng D hủy hoại tài sản, không bàn giao đất cho ông Trịnh Hoàng D,
đồng thời khởi kiện H V Niê, Phòng công chứng số 2 Đắk Lắk ra Tòa tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất kiện đòi tài sản, được Tòa án nhân
dân huyện Krông Pắc (nay đổi thành Tòa án nhân dân khu vực 4 Đắk Lắk) thụ
vụ án số: 207/2021/TLST-DS ngày 20/12/2021. Còn ông Y L Bkrông khởi
kiện H B Niê ra Tòa tranh chấp hợp đồng tặng cho QSD đất, được Tòa án
nhân dân khu vực 4 – Đăk Lắk th vụ án số: 413/2022/TLST-DS ngày
22/11/2022 và ông Y L Bkrông quản lý, dụng đất cho đến nay.
Sau đó ông Trịnh Hoàng D làm thtục sang tên Giấy chứng nhận QSD
đất, được Sở tài nguyên & Môi trường tỉnh Đắk Lắk (nay đổi thành Sở nông
nghiệp & Môi trường tỉnh ĐăkLắk) cấp Giấy chứng nhận QSD đất số DA
241736; thửa đất số 16; tờ bản đồ số 84; diện tích 2.440m
2
; 400m
2
đất ở; địa chỉ:
EK, tỉnh Đắk Lắk cho ông Trịnh Hoàng D vào ngày 12/07/2021. Sau đó ông
Trịnh Hoàng D tách thửa đất số 16 ra làm 06 thửa: 201, 202, 203, 204, 205, 206;
tờ bản đồ số 84 theo trích lục bản đồ địa chính số 1512/TL-CNKP-KTĐC ngày
27/07/2021 và chuyển nhượng lại cho nhiều người như sau:
10
Thửa đất số 201: Ngày 25/06/2023, ông Trịnh Hoàng D chuyển nhượng
thửa đất 201; tờ bản đồ số 84; diện tích 480,4m
2
; 60m
2
đất ở: địa chỉ thửa đất:
EK, tỉnh Đắk Lắk cho ông Y S1 Ktla H B1 Bkrông với giá
100.000.000 đồng. Hiện nay ông Y S1 Ktla và H B1 Bkrông đang quản lý sử
dụng đất.
Thửa đất số 202: Ngày 29/07/2021, ông Trịnh Hoàng D chuyển nhượng
thửa đất số 202; tờ bản đồ số 84; diện tích 358,3m
2
; 60m
2
đất ở; địa chỉ thửa đất:
EK, tỉnh Đắk Lắk cho ông Phạm Ngọc Q và bà Hồ Thị A với giá 20.000.000
đồng. Sau đó ông Phạm Ngọc Q Hồ Thị A chuyển nhượng thửa đất 202
cho ông Nguyễn Đ Huỳnh Thị T3 M. Đến ngày 22/04/2022, ông Nguyễn
Đ Huỳnh Thị M chuyển nhượng thửa đất 202 cho Trần H3 ông
Nguyễn T3 giá 50.000.000 đồng. Hiện nay ông Y L Bkrông đang quản sử
dụng đất.
Thửa đất số 203: Ngày 29/07/2021, ông Trịnh Hoàng D chuyển nhượng
thửa đất số 203; tờ bản đồ số 84; diện tích 399,2m
2
; 60m
2
đất ở; địa chỉ thửa đất:
EK, tỉnh Đắk Lắk cho ông Phạm Ngọc Q và bà Hồ Thị A với giá 20.000.000
đồng. Sau đó ông Phạm Ngọc Q và Hồ Thị A chuyển nhượng thửa đất 203
cho ông Phú H3 bà Nguyễn Thị K. Đến ngày 08/12/2021, ông PH3
Nguyễn Thị K chuyển nhượng thửa đất 203 cho Nguyễn Thị Thùy L1
với giá 20.000.000 đồng. Đến ngày 10/03/2022, Nguyễn Thị Thùy L1 y
quyền thửa đất 203 cho ông Nguyễn Minh H2. Đến ngày 15/04/2022, ông
Nguyễn Minh H2 nhân danh Nguyễn Thị Thùy L1 chuyển nhượng thửa đất
203 cho i Minh T2 với giá 100.000.000 đồng, được Sở nông nghiệp &
Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp Giấy chứng nhận QSD đất số BT 066333 cho
Bùi Minh T2 ngày 31/05/2022. Hiện nay ông Y L Bkrông đang quản sử dụng
đất.
Thửa đất số 204: Ngày 29/07/2021, ông Trịnh Hoàng D chuyển nhượng
thửa đất số 204; tờ bản đồ số 84; diện tích 388,6m
2
; 60m
2
đất ở; địa chỉ thửa đất:
EK, tỉnh Đắk Lắk cho ông Phạm Ngọc Q và bà Hồ Thị A với giá 20.000.000
đồng. Sau đó ông Phạm Ngọc Q Hồ Thị A chuyển nhượng thửa đất 204
cho ông Nguyễn Đ Huỳnh Thị T3 M. Sau đó ông Nguyễn Đ và bà Huỳnh
Thị T3 M, làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận QSD đất, được Sở nông nghiệp
& Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp đổi Giấy chứng nhận QSD đất số DB 105121;
thửa đất số 204; tờ bản đồ số 84; diện tích 388,6m
2
; 60m
2
; địa chỉ: EK, tỉnh
Đắk Lắk cho ông Nguyễn Đ bà Huỳnh Thị T3 M vào ngày 01/11/2021. Đến
ngày 21/03/2022, ông Nguyễn Đ Huỳnh Thị T3 M chuyển nhượng thửa
đất 204 cho Ngô Thị Thanh X với giá 50.000.000 đồng, được cập nhật thông
tin thay đổi chủ QSD đất sang tên cho Ngô Thị Thanh X ngày 28/03/2022.
Hiện nay ông Y L Bkng đang quản lý sử dụng đất.
Thửa đất số 205: Ngày 29/07/2021, ông Trịnh Hoàng D chuyển nhượng
thửa đất số 205; tờ bản đồ số 84; diện tích 392,7m
2
; 60m
2
đất ở; địa chỉ thửa đất:
EK, tỉnh Đắk Lắk cho ông Phạm Ngọc Q và bà Hồ Thị A với giá 20.000.000
đồng. Đến ngày 24/09/2021, ông Phạm Ngọc Q bà Hồ Thị A chuyển nhượng
thửa đất 205 cho bà Phạm Thị T3 với giá 20.000.000 đồng. Sau đó Phạm Thị
11
T3 làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận QSD đất, được Sở nông nghiệp & Môi
trường tỉnh Đắk Lắk cấp Giấy chứng nhận QSD đất số DB 105601 cho bà Phạm
Thị T3 ngày 09/11/2021. Hiện nay ông Y L Bkrông đang quản lý sử dụng đất.
Thửa đất số 206: Ngày 29/07/2021, ông Trịnh Hoàng D chuyển nhượng
thửa đất số 206; tờ bản đồ số 84; diện tích 396,8m
2
; 100m
2
đất ở; địa chỉ thửa
đất: EK, tỉnh Đắk Lắk cho ông Phạm Ngọc Q Hồ Thị A với giá
20.000.000 đồng. Sau đó ông Phạm Ngọc Q và bà Hồ Thị A làm thủ tục cấp đổi
Giấy chứng nhận QSD đất, được Sở nông nghiệp & Môi trường tỉnh Đắk Lắk
cấp Giấy chứng nhận QSD đất số DB 071018; thửa đất số 206; tờ bản đồ số 84;
diện tích 396,8m
2
; 100m
2
đất ở; địa chỉ thửa đất: EK, tỉnh Đắk Lắk cho ông
Phạm Ngọc Q Hồ Thị A ngày 16/09/2021. Đến ngày 08/10/2021, ông
Phạm Ngọc Q Hồ Thị A chuyển nhượng thửa đất 206 cho Nguyễn Thị
Hải Y với giá 50.000.000 đồng, được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk
Chi nhánh khu vực KP cập nhật thông tìm thay đổi chủ QSD đất sang tên cho bà
Nguyễn Thị Hải Y ngày 09/02/2022. Đến ngày 04/05/2022, Nguyễn Thị Hải
Y chuyển nhượng lại thửa đất 206 cho Hoàng Thị Phương T với giá
200.000.000 đồng, được Văn phòng đăng đất đai tỉnh Đắk Lắk Chi nhánh
khu vực KP cập nhật thông tin thay đổi chủ QSD đất sang tên cho Hoàng Thị
Phương T ngày 22/05/2022. Hiện nay ông Y L Bkrông đang quản sử dụng
đất.
Xét thấy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa các bên được thiết lập
trên sở che giấu giao dịch mua bán Giấy chứng nhận QSD đất, không nhằm
mục đích hướng tới việc chuyển nhượng QSD đất, nên các bên không bàn
giao đất, nên ông Y L Bkrông còn lý sử dụng đất cho đến nay. Như vậy, bên bán
không đất đ bán, không đất đ giao cho bên mua vẫn nhận chuyển
nhượng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Y
L Bkrông, vi phạm nội dung hợp đồng, cả bên chuyển nhượng bên nhận
chuyển nhượng đều lỗi làm cho hợp đồng hiệu, căn cứ xác định bên
mua lẫn bên bán không ngay tình. Hơn nữa bản án dân s thẩm số
77/2024/TLST-DS ngày 27/09/2024 của Tòa án nhân dân khu vực 4 Đắk Lắk
đã tuyên bố hợp đồng tặng cho QSD đất theo Giấy chứng nhận QSD đất số R
617318 giữa bên tặng cho hộ ông Y L Bkông bên nhận tặng cho H B
Niê vô hiệu, thì các hợp đồng chuyển nhượng QSD đất được tách ra từ QSD đất
theo Giấy chứng nhận QSD đất số R 617318 cấp cho hộ ông Y L Bkrông sẽ mặc
nhiên hiệu tiếp theo, căn cứ công nhận QSD đất theo Giấy chứng nhận
QSD đất số R 617318 là của hộ ông Y L Bkrông.
Từ những căn cứ trên, yêu cầu Tòa giải quyết các yêu cầu phản tố như
sau:
01. Tuyên bố hợp đồng tặng cho QSD đất ngày 23/12/2019 giữa bên tặng
cho là bà H B Niê và bên nhận tặng cho là ông Y G Niê. Tài sản tặng cho là thửa
đất số 113; tờ bản đồ số 15; diện tích 2.440m
2
; 400m
2
đất ở; địa chỉ thửa đất:
EK, tỉnh Đắk Lắk. Hợp đồng công chứng tại Phòng công chứng số 2 Đắk Lắk vô
hiệu và giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.
12
02. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 04/03/2021 giữa
bên chuyển nhượng ông Y G Niê bên nhận chuyển nhượng ông Trịnh
Hoàng D. Tài sản chuyển nhượng thửa đất số 113; tờ bản đồ s15; diện tích
2.440m
2
; 400m
2
đất ở; địa chỉ thửa đất: EK, tỉnh Đắk Lắk. Hợp đồng công
chứng tại Phòng công chứng số 2 Đắk Lắk hiệu giải quyết hậu quả hợp
đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.
03. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 29/07/2021 giữa
bên chuyển nhượng ông Trịnh Hoàng D bên nhận chuyển nhượng ông
Phạm Ngọc Q Hồ ThA. Tài sản chuyển nhượng thửa đất số 202, 203,
204, 205, 206; tờ bản đồ số 84; diện tích 1.935,6m
2
; 340m
2
đất ở, địa chỉ thửa
đất: EK, tỉnh Đắk Lắk. Hợp đồng công chứng tại Văn phòng công chứng
Trung Nghĩa hiệu giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu theo quy định của
pháp luật.
04. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 05/06/2023 giữa
bên chuyển nhượng là ông Trịnh Hoàng D bên nhận chuyển nhượng là ông Y
S1 Ktla H B1 Bkrông. Tài sản chuyển nhượng thửa đất số 201; tờ bản
đồ số 84; diện tích 480,4m
2
; 60m
2
đất ở; địa chỉ thửa đất: EK, tỉnh Đắk Lắk.
Hợp đồng công chứng tại Phòng công chứng số 2 Đắk Lắk vô hiệu và giải quyết
hậu quả hợp đồng theo quy định của pháp luật.
05. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bên chuyển nhượng
ông Phạm Ngọc Q và Hồ Thị A bên nhận chuyển nhượng là ông
Nguyễn Đ bà Huỳnh Thị T3 M. Tài sản chuyển nhượng là thửa đất số 202; tờ
bản đồ số 84; diện tích 358,3m
2
; 60m
2
đất ở; địa chỉ: EK, tỉnh Đắk Lắk
hiệu và giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.
06. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 22/04/2022 giữa
ông Nguyễn Đ Huỳnh Thị T3 M bên nhận chuyển nhượng Trần
Thị H3 và ông Nguyễn Vũ T3. Tài sản chuyển nhượng là thửa đất số 202; tờ bản
đồ số 84; diện tích 358,3m
2
; 60m
2
đất ở; địa chỉ: EK, tỉnh Đắk Lắk. Hợp
đồng công chứng tại Văn phòng công chứng PHT hiệu giải quyết hậu quả
hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.
07. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bên chuyển nhượng
là ông Phạm Ngọc Q và bà Hồ Thị A và bên nhận chuyển nhượng là ông Lê Phú
H3 Nguyễn Thị P3. Tài sản chuyển nhượng thửa đất số 203; tờ bản đồ
số 84; diện tích 399,2m
2
; 60m
2
đất ở; địa chỉ: EK, tỉnh Đắk Lắk hiệu
giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.
08. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 08/12/2021 giữa
ông Phú H3 Nguyễn Thị P3 bên nhận chuyển nhượng là bà Nguyễn
Thị Thùy L1. Tài sản chuyển nhượng thửa đất số 203; tờ bản đồ số 84; diện
tích 399,2m
2
; 60m
2
đất ở; địa chỉ: EK, tỉnh Đắk Lắk. Hợp đồng ng chứng
số 10461 tại Phòng công chứng số 2 Đắk Lắk hiệu và giải quyết hậu quả hợp
đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.
09. Tuyên bố hợp đồng ủy quyền ngày 10/03/2022 giữa bên ủy quyền là
bà Nguyễn Thị Thùy L1 và bên nhận ủy quyền là ông Nguyễn Minh H2. Tài sản
ủy quyền thửa đất số 203; tờ bản đồ số 84; diện tích 399,2m
2
; 60m
2
đất ở; địa
13
chỉ: EK, tỉnh Đắk Lắk. Hợp đồng công chứng số 1420 tại Văn phòng công
chứng PHT vô hiệu giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu theo quy định của
pháp luật.
10. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 15/04/2022 giữa
bên chuyển nhượng Nguyễn Thị Thùy L1, do ông Nguyễn Minh H2 đại
diện theo ủy quyền của bà chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng là bà Bùi
Minh T2. Tài sản chuyển nhượng thửa đất số 203; tờ bản đồ số 84; diện tích
399,2m
2
; 60m
2
đất ở; địa chỉ: EK, tỉnh Đắk Lắk. Hợp đồng công chứng tại
Văn phòng công chứng PHT hiệu giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu
theo quy định ca pháp luật.
11. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bên chuyển nhượng
ông Phạm Ngọc Q bà Hồ Thị A bên nhận chuyển nhượng ông Nguyễn
Đ Huỳnh Thị T3 M. Tài sản chuyển nhượng thửa đất số 204; tờ bản đồ
số 84; diện tích 388,6m
2
; 60m
2
đất ở; địa chỉ: EK, tỉnh Đắk Lắk hiệu
giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.
12. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 21/03/2022 giữa
bên chuyển nhượng ông Nguyễn Đ Huỳnh Thị T3 M bên nhận chuyển
nhượng Ngô Thị Thanh X. Tài sản chuyển nhượng là thửa đất số 204; tờ
bản đồ số 84; diện tích 388,6m
2
; 60m
2
đất ở; địa chỉ: Xã EK, tỉnh Đắk Lắk. Hợp
đồng công chứng tại Văn phòng công chứng PHT hiệu giải quyết hậu quả
hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.
13. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 24/09/2021 giữa
bên chuyển nhượng ông Phạm Ngọc Q Hồ Thị A bên nhận chuyển
nhượng là bà Phạm Thị T3. Tài sản chuyển nhượng là thửa đất số 205; tờ bản đồ
số 84; diện tích 392,7m
2
; 60m
2
đất ở; địa chỉ: EK, tỉnh Đắk Lắk. Hợp đồng
công chứng tại Phòng công chứng số 2 tỉnh Đắk Lắk hiệu giải quyết hậu
quả hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.
14. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 08/10/2021 giữa
bên chuyển nhượng ông Phạm Ngọc Q Hồ Thị A bên nhận chuyển
nhượng là Nguyễn Thị Hải Y. Tài sản chuyển nhượng thửa đất số 206; tờ
bản đồ số 84; diện tích 396,8m
2
; 100m
2
đất ở; địa chỉ thửa đất: EK, tỉnh Đắk
Lắk. Hợp đồng công chứng tại Phòng công chứng số 2 tỉnh Đắk Lắk hiệu
giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.
15. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 04/05/2022 giữa
bên chuyển nhượng ông Ngọc C, Nguyễn Thị Hải Y bên nhận
chuyển nhượng Hoàng Thị Phương T. Tài sản chuyển nhượng thửa đất
số 206; tờ bản đồ số 84; diện tích 396,8m
2
; 100m
2
đất ở; địa chỉ thửa đất:
EK, tỉnh Đắk Lắk. Hợp đồng công chứng tại Phòng công chứng số 2 tỉnh Đắk
Lắk hiệu giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu theo quy định của pháp
luật.
16. Tuyên bố hủy giá trị pháp Giấy chứng nhận QSD đất của thửa đất
số 201; tờ bản đồ số 84; diện tích 480,4m
2
; 60m
2
đất ở; địa chỉ thửa đất: EK,
tỉnh Đắk Lắk; mang tên chủ QSD đất là ông Y S1 Ktla và bà H B1 Bkrông.
14
17. Tuyên bố hủy giá trị pháp Giấy chứng nhận QSD đất của thửa đất
số 202; tờ bản đồ số 84; diện tích 358,3m
3
; 60m
2
đất ở; địa chỉ thửa đất: EK,
tỉnh Đắk Lắk; mang tên chủ QSD đất là bà Trần Thị H3 và ông Nguyễn Vũ T3.
18. Tuyên bố hủy giá trị pháp Giấy chứng nhận QSD đất của thửa đất
số 203; tờ bản đồ số 84; diện tích 399,2m
2
; 60m
2
đất ở; địa chỉ thửa đất: EK,
tỉnh Đắk Lắk, mang tên chủ QSD đất là bà Bùi Minh T2.
19. Tuyên bố hủy giá trị pháp Giấy chứng nhận QSD đất của thửa đất
số 204; tờ bản đồ số 84; diện tích 388,6m
2
; 60m
2
đất ở; địa chỉ thửa đất: EK,
tỉnh Đắk Lắk, mang tên chủ QSD đất là bà Ngô Thị Thanh X.
20. Tuyên bố hủy giá trị pháp Giấy chứng nhận QSD đất của thửa đất
số 205; tờ bản đồ số 84; diện tích 392,7m
2
; 60m
2
đất ở; địa chỉ thửa đất: EK,
tỉnh Đắk Lắk; mang tên QSD đất là bà Phạm Thị T3.
21. Tuyên bố hủy giá trị pháp Giấy chứng nhận QSD đất của thửa đất
số 206; tờ bản đồ số 84; diện tích 396,8m
2
; 60m
2
đất ở; địa chỉ thửa đất: EK,
tỉnh Đắk Lắk; mang tên đất là bà Hoàng Thị Phương T.
22. Tiếp tục giải quyết hậu quả hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
ngày 14/03/2017 giữa bên tặng cho ông Y L Bkrông bên nhận tặng cho
H B Niê hiệu công nhận cho hộ ông Y L Bkrông được quyền sử dụng
thửa đất số 113, tờ bản đồ 15, diện tích 2440m
2
; 400m
2
đất ở; địa chỉ thửa đất:
EK, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk; Giấy chứng nhận QSD đất số R
617318.
Ngoài ra bị đơn ông Y L Bkrông không có yêu cầu gì thêm.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
1. Ông Trịnh Hoàng D trình bày: Tôi không biết Hoàng Thị Phương T,
không biết bà Nguyễn Thị Hải Y, ông Nguyễn Ngọc C, bà Ngô Thị Thanh X
ai. Tôi chỉ biết ông Y G Niê người chuyển nhượng đất cho tôi. Đối với ông Y
L Bkrông thì tôi chỉ biết ông Y L Bkrông bố ruột của ông Y G Niê người
chuyển nhượng đất cho tôi.
Vào năm 2021 tôi nhận chuyển nhượng đất của ông Y G Niê trú tại
Buôn YE, EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã EK, tỉnh Đắk Lắk). Cụ thể
tôi nhận chuyển nhượng thửa đất số 113, tờ bản đồ 15, diện tích 2440m
2
(đất
400m
2
, đất trồng cây lâu năm 2040m
2
), tọa lạc tại Buôn YE, EK, huyện KP,
tỉnh Đắk Lắk (nay EK, tỉnh Đắk Lắk) theo GCNQSDĐ sR 617318 do
UBND huyện KP cấp ngày 05/03/2001 mang tên Hộ Y L Bkrông; sau đó đã
được đăng ký biến động sang tên bà H B Niê và tiếp tục được đăng ký biến động
sang tên ông Y G Niê.
Sau khi nhận chuyển nhượng đất của ông Y G Niê thì tôi đã được Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện KP đăng ký biến động pháp lý sang tên
tôi vào ngày 11/3/2021 (theo hồ sơ số CN.009). Sau khi tôi nhận chuyển nhượng
đất từ ông Y G Niê thì ông Y G Niê bố của ông ông Y L Bkrông đã tiến
hành bàn giao đất cho tôi, tôi đã nhận đất từ ông Y G Niê ông Y L Bkrông.
Khi nhận đất từ ông Y G Niê và ông Y L Bkrông thì khi đó 01 ngôi nhà trên
đất nên tôi hỗ trợ cho ông Y L Bkrông số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi
triệu đồng) sau đó ông Y L Bkrông dỡ nhà rời khỏi thửa đất bàn giao đất
15
cho tôi. Đối với số tiền mà tôi nhận chuyển nhượng diện tích đất của Y G Niê thì
lâu rồi tôi không nhớ giao dịch bao nhiêu. Một thời gian sau đó thì tôi đã
chuyển nhượng một phần diện tích của thửa đất số 113 (được tách thành các
thửa sau: thửa 202 diện tích 358,3m
2
, thửa 203 diện tích 399,2m
2
, thửa 204 diện
tích 388,6m
2
, thửa 205 diện tích 392,7m
2
, thửa 206 diện tích 396,8m
2
), tờ bản đồ
15 (mới là tờ bản đồ 84) sang cho ông Phạm Ngọc Q bà Hồ Thị A, tôi đã bàn
giao đất trên thực địa cho ông Q - A. Đối với diện tích đất còn lại của thửa
113 thành thửa 201 diện tích 480,4m
2
, tờ bản đồ 15 (mới tờ bản đồ 84) thì
tôi không chuyển nhượng đứng tên của tôi. Đến ngày 05 tháng 6 năm 2023
thì tôi đã chuyển nhượng thửa 201, tờ bản đồ 15 (mới tờ bản đồ 84), diện tích
480,4m
2
sang cho ông Y S1 Ktla H B1 Bkrông. Ông Y S1 Ktla H
B1 Bkrông cũng đã m thủ tục đăng biến động pháp sang tên ông
ông người trực tiếp quản lý, sử dụng diện tích đất này. Nay tôi không còn
liên quan đến toàn bthửa đất s113, tờ bản đồ 15, diện tích đất 2440m
2
tôi đã nhận chuyển nhượng từ ông Y G Niê nữa.
Do đó đối với yêu cầu khởi kiện của Hoàng Thị Phương T, bà Ngô Thị
Thanh X đối với ông Y L Bkrông về việc kiện đòi tài sản cụ thể kiện đòi
quyền sử dụng đất thì đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để xem
xét giải quyết.
2. Ông Y K Niê trình bày: Tôi không biết Hoàng Thị Phương T,
Ngô Thị Thanh X ai. Tôi con đẻ của ông Y L Bkrông với HR Niê. Bố
mẹ tôi tất cả 05 người con gồm: H B Niê, sinh năm 1987; Y K Niê, sinh năm
1990; Y E Niê, sinh năm 1992; Y O Niê, sinh năm 1994; Y G Niê, sinh năm
1997.
Năm 2012 tôi lấy vợ chị H Y2 Byă Buôn EY B, EY, huyện KP
(nay KP, tỉnh Đắk Lắk) chuyển về nhà vợ ở. m 2013 tôi cắt khẩu
chuyển về gia đình vợ ở. Đầu năm 2019 tôi vào An Điền, thị BC, tỉnh
Bình Dương làm công nhân Công ty. Đến cuối năm 2022 tôi về lại Buôn EY B,
EY, huyện KP (nay KP, tỉnh Đắk Lắk) để từ đó cho đến nay. Từ
lúc lập gia đình vào năm 2012 cho đến nay thì tôi không còn sống chung với bố
mẹ đẻ của tôi cũng không tại Buôn YE, EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk
(nay là xã EK, tỉnh Đắk Lắk) nữa.
Quá trình còn chung sống với bố mẹ đẻ của tôi, bố mẹ tôi tạo lập được
tài sản Quyền sử dụng đất nào không ttôi không biết. Lúc còn nhỏ tôi sống
cùng với bố mẹ, được bmnuôi dưỡng. Sau khi đủ 18 tuổi thì tôi gia đình
riêng, sống cùng với gia đình bên vợ nên không còn liên quan đến bố
mẹ. Tôi khẳng định tôi hoàn toàn không biết bố mẹ tôi trong quá trình chung
sống tạo lập được tài sản nào không nữa. Trường hợp ông tạo lập được
tài sản thì tôi cũng không liên quan.
Việc Hoàng Thị Phương T, Ngô Thị Thanh X khởi kiện btôi
ông Y L Bkrông với nội dung “Kiện đòi tài sản” cụ thể là “Kiện đòi quyền sử
dụng đất” thì tôi hoàn toàn không biết. Tôi đề nghị Tòa án xem xét theo quy
định của pháp luật. Ngoài ra không có ý kiến gì thêm.
16
3. Ông Y O Niê trình bày: Tôi không biết Hoàng Thị Phương T,
Ngô Thị Thanh X ai. Tôi con đẻ của ông Y L Bkrông với HR Niê. Bố
mẹ tôi tất cả 05 người con gồm: H B Niê, sinh năm 1987; Y K Niê, sinh năm
1990; Y E Niê, sinh năm 1992; Y O Niê, sinh năm 1994; Y G Niê, sinh năm
1997.
Cuối năm 2013 tôi lấy vợ chị H N1 Niê Buôn YO, ED, huyện
M’gar, tỉnh Đắk Lắk và chuyển về nvợ ở. Sau khi lấy vợ thì khoảng năm
2014 tôi cắt khẩu chuyển về gia đình vợ ở. Ngày 07/01/2015 tôi đi chấp hành án
tại Trại giam Đắk Trung - Bộ Công an có địa chỉ tại xã EK, huyện CM, tỉnh Đắk
Lắk về tội Cướp tài sản do Tòa án tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm với mức hình
phạt 07 năm 06 tháng tù. Ngày 28/8/2020 thì tôi chấp hành án xong. Trong
thời gian tôi chấp hành án tại Trại giam Đắk Trung - Bộ Công an địa chỉ tại
EK, huyện CM, tỉnh Đắk Lắk ttôi hoàn toàn không xác lập bất kỳ giao
dịch hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nào liên quan tới đất của bố mẹ cả.
Sau khi chấp hành án xong, tôi về lại Buôn YE, xã EK, huyện KP sống cùng với
mẹ. Bản thân tôi và vợ lúc này không ở cùng nhau nữa nên tôi về ở cùng với mẹ
đẻ của tôi.
Đến khoảng tháng 5 năm 2021 tôi lấy vợ mới chị HR Kbuôr, sinh năm
1999 trú tại Buôn EY A, xã EY, huyện KP. Ngày 21/4/2022 tôi đi chấp hành án
tại Trại giam Đắk Trung - Bộ Công an có địa chỉ tại xã EK, huyện CM, tỉnh Đắk
Lắk về tội Trộm cắp tài sản, với mức án là 01 năm 03 tháng do Tòa án nhân
dân huyện Krông Pắc xét xử. Ngày 21/7/2023, tôi chấp hành án xong về lại
Buôn EY A, EY, huyện KP để sinh sống. hiện nay tôi đang sinh sống tại
Buôn EY A, xã KP (trước đây là xã EY, huyện KP), tỉnh Đắk Lắk.
Quá trình còn chung sống với bố mđẻ của tôi tại Buôn YE, xã EK thì
bố mtôi tạo lập được tài sản Quyền sử dụng đất nào không thì tôi không
biết. Tôi chỉ biết lúc còn nhỏ tôi sống cùng với bố mẹ, được bố mnuôi dưỡng.
Sau khi đủ 18 tuổi thì tôi có gia đình riêng, sống ở cùng với gia đình bên vợ nên
không còn có liên quan gì đến bố mẹ. Tôi khẳng định là tôi hoàn toàn không biết
bố mẹ tôi trong quá trình chung sống tạo lập được tài sản nào không nữa.
Trường hợp ông bà có tạo lập được tài sản thì tôi cũng không liên quan.
Tuy nhiên, vào ngày 01/6/2021 tôi cùng với mẹ là HR Niê chị
gái H B Niê có nhận số tiền 50.000.000 đồng tiền cọc chuyển nhượng đất từ ông
Nhâm Văn P, khi nhận tiền người làm chứng là H V Byă ông Trịnh
Hoàng D, đất mà mẹ tôi bà HR Niê chị gái H B Niê chuyển nhượng cho ông
P liên quan đến diện tích đất 2440m
2
(400m
2
đất ở, 2040m
2
đất trồng cây hằng
năm) của gia đình. Đối với số tiền còn lại thì tôi không có nhận còn ai nhận sau
này thì tôi không biết. Trên thực tế gia đình tôi chuyển nhượng đất cho ông
Nhâm Văn P hay cho người khác hay không thì tôi không biết, tôi chỉ biết tôi
cùng với mẹ HR Niê chị gái H B Niê nhận tiền cọc của ông P với số
tiền là 50.000.000 đồng. Trước đó hay sau ngày nhận số tiền đặt cọc 50.000.000
đồng từ ông P thì gia đình tôi đã xác lập hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất
2440m
2
(400m
2
đất ở, 2040m
2
đất trồng cây hằng năm) sang cho ông P hay cho
người khác hay không thì tôi không biết, không liên quan.
17
Việc Hoàng Thị Phương T, Ngô Thị Thanh X khởi kiện btôi
ông Y L Bkrông với nội dung “Kiện đòi tài sản” cụ thể là “Kiện đòi quyền sử
dụng đất” thì tôi hoàn toàn không biết. Tôi đề nghị Tòa án xem xét theo quy
định của pháp luật.
4. Bà H R Niê trình bày: Tôi với ông Y L Bkrông là vợ chồng, tuy nhiên
chúng tôi không còn ở chung với nhau từ năm cuối năm 2018 đến nay chúng
tôi cũng chưa làm thủ tục ly hôn theo quy định của pháp luật. Giữa i với ông Y
L Bkrông tất cả 05 người con gồm: H B Niê, sinh năm 1987; Y K Niê, sinh
năm 1990; Y E Niê, sinh năm 1992; Y Jăk Niê, sinh năm 1994; Y G Niê, sinh
năm 1997. Hiện nay tôi cùng các con thuê nhà riêng còn ông Y L Bkrông
riêng, chúng tôi không có sống chung cùng với nhau.
Quá trình còn chung sống, tôi ông Y L Bkrông tạo lập được tài sản
là: Quyền sử dụng đất số R 617318 do UBND huyện KP cấp ngày 05/03/2001
vào sổ cấp GCNQSDĐ số 271102 QSDĐ/CH đối với thửa đất số 113, tờ bản đồ
15, diện tích 2440m
2
(400m
2
đất + 2040m
2
đất phê), địa chỉ: EK, huyện
KP, tỉnh Đắk Lắk.
Để thuận tiện cho việc làm ăn sinh hoạt nên năm 2017 gia đình đã làm
thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất này cho con gái H B Niê. Sau khi được tặng
cho, H B Niê đã làm thủ tục đăng biến động đất đai đã được Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai huyện KP đăng biến động sang tên H B Niê vào
ngày 16/03/2017 H B Niê đã thế chấp quyền sử dụng đất này tại Ngân hàng
Đầu tư Phát triển Việt Nam chi nhánh KP đvay tiền stiền 150.000.000
đồng. Đến tháng 11 năm 2018, H B Niê đã tất toán khoản vay tại Ngân hàng
Đầu Phát triển Việt Nam chi nhánh KP chuyển sang vay tại Ngân hàng
khác Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam với số tiền 400.000.000 đồng, thời
gian vay là ngày 25/11/2018.
Đến tháng 11 năm 2019 đến hạn trả nợ thì H B đã trả đủ số tiền đã vay
cho Ngân hàng và rút giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về. Sau đó H B Niê
làm thtục tặng cho lại Quyền sử dụng đất số R 617318 do UBND huyện KP
cấp ngày 05/03/2001 vào sổ cấp GCNQSDĐ số 271102 QSDĐ/CH đối với thửa
đất số 113, tờ bản đồ 15, diện tích 2440m
2
(400m
2
đất + 2040m
2
đất phê),
địa chỉ: xã EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk sang cho em trai Y G Niê. Sau đó
quyền sử dụng đất này đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện KP
đăng ký biến động sang tên Y G Niê vào ngày 25/12/2019.
Ngày 10/01/2020, Y G Niê đã thế chấp quyền sử dụng đất này cho Ngân
hàng TMCP Quốc tế Việt Nam đ vay số tiền 500.000.000 đồng. Đến ngày
22/02/2021, Y G Niê ủy quyền cho H V Byă liên hệ với Ngân hàng để rút
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xóa đăng thế chấp tại Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai huyện KP. Việc trả số tiền 500.000.000 đồng của Y G
Niê đã vay của Ngân hàng cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam do H V
Byă tự trả. Bản thân Y G Niê không có trả tiền cho Ngân hàng.
Mặc thửa đất số 113, tờ bản đ15, diện tích 2440m
2
(400m
2
đất +
2040m
2
đất cà phê), địa chỉ: EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay là EK, tỉnh
18
Đắk Lắk) đã được tặng cho sang tên H B Niê sau đó H B Niê tặng cho Y G Niê
nhưng cả gia đình chúng tôi vẫn trực tiếp ở, canh tác, sử dụng.
Đến tháng 6 năm 2021 thì tôi nhận tiền đặt cọc tiền bán đất liên quan
đến diện tích 2440m
2
(400m
2
đất ở + 2040m
2
đất cà phê), thửa đất số 113, tờ bản
đồ 15, tọa lạc tại: xã EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã EK, tỉnh Đắk Lắk).
Tôi đã nhận cọc với số tiền là 50.000.000 đồng, số tiền còn lại thì tôi không
nhận. Sau khi nhận tiền cọc đất thì cả gia đình không còn ở trên thửa đất số 113,
tờ bản đồ 15, diện tích 2440m
2
(400m
2
đất + 2040m
2
đất phê), địa chỉ:
EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay EK, tỉnh Đắk Lắk) nữa. do không
trên thửa đất này là: thửa đất đã được chuyển nhượng cho người khác. Cụ thể Y
G Niê đã chuyển nhượng cho ông Trịnh Hoàng D theo hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất công chứng số 1626, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày
04/03/2021 tại Phòng công chứng số 2 tỉnh Đắk Lắk giữa bên chuyển nhượng Y
G Niê với bên nhận chuyển nhượng Trịnh Hoàng D. Trịnh Hoàng D đã
chuyển nhượng lại cho người khác. Hiện nay quyền sử dụng đất đối với thửa đất
số 113, tờ bản đồ 15, diện tích 2440m
2
(400m
2
đất + 2040m
2
đất phê), địa
chỉ: EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay EK, tỉnh Đắk Lắk) sau khi được
ông Trịnh Hoàng D nhận chuyển nhượng của Y G Niê thì ông D đã làm thủ tục
tách thửa đã chuyển nhượng cho người khác trong đó có chuyển nhượng cho
Hoàng Thị Phương T diện tích 396,8m
2
Ngô Thị Thanh X diện tích
388,6m
2
.
Nay Hoàng Thị Phương T, Ngô Thị Thanh X đơn khởi kiện ông
Y L Bkrông đến Tòa án thì tôi với cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan tôi đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngoài
ra tôi không có yêu cầu gì thêm.
5. H B Niê trình bày: Tôi con đẻ của ông Y L Bkrông với HR
Niê. Bố mtôi tất cả 05 người con gồm: H B Niê, sinh năm 1987; Y K Niê,
sinh năm 1990; Y E Niê, sinh năm 1992; Y Jăk Niê, sinh năm 1994; Y G Niê,
sinh năm 1997. Hiện nay tôi cùng mẹ và các em thuê nhà riêng còn bố tôi ông
Y L Bkrông ở riêng, chúng tôi không có sống chung cùng với nhau.
Quá trình còn chung sống, bố mtôi tạo lập được tài sản là: Quyền sử
dụng đất số R 617318 do UBND huyện KP cấp ngày 05/03/2001 vào sổ cấp
GCNQSDĐ số 271102 QSDĐ/CH đối với thửa đất số 113, tbản đồ 15, diện
tích 2440m
2
(400m
2
đất + 2040m
2
đất cà phê), địa chỉ: EK, huyện KP, tỉnh
Đắk Lắk.
Để thuận tiện cho việc làm ăn sinh hoạt gia đình nên năm 2017 bố m
tôi các em đã làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất này cho tôi H B Niê.
Sau khi được tặng cho, tôi đã làm thủ tục đăng biến động đất đai đã được
Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện KP đăng biến động sang tên H
B Niê vào ngày 16/03/2017 tôi đã thế chấp quyền sử dụng đất này tại Ngân
hàng Đầu Phát triển Việt Nam chi nhánh PK để vay tiền số tiền
150.000.000 đồng.
Đến tháng 11 năm 2018, tôi (H B Niê) đã tất toán khoản vay tại Ngân
hàng Đầu Phát triển Việt Nam - Chi nhánh KP và chuyển sang vay tại
19
Ngân hàng khác Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam với số tiền 400.000.000
đồng, thời gian vay ngày 25/11/2018. Tháng 11 năm 2019 đến hạn trả nợ thì
tôi đã trả đủ số tiền đã vay cho Ngân hàng rút giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất về. Nguồn tiền để trả cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam vào
tháng 11/2019 là tôi vay của bà H V Byă để trả cho Ngân hàng.
Sau khi rút giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ Ngân hàng TMCP
Quốc tế Việt Nam vthì tôi làm thủ tục xóa thế chấp sau đó tôi làm thủ tục tặng
cho lại Quyền sử dụng đất số R 617318 do UBND huyện KP cấp ngày
05/03/2001 vào sổ cấp GCNQSDĐ số 271102 QSDĐ/CH đối với thửa đất số
113, tờ bản đồ 15, diện tích 2440m
2
(400m
2
đất + 2040m
2
đất cà phê), địa chỉ:
EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk sang cho em trai tôi Y G Niê. Sau đó quyền
sử dụng đất này đã được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện KP đăng
ký biến động sang tên Y G Niê vào ngày 25/12/2019.
Ngày 10/01/2020, em trai tôi Y G Niê đã thế chấp quyền sử dụng đất này
cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam để vay số tiền 500.000.000 đồng và Y
G Niê đã lấy số tiền này trả cho H V Byă thay cho tôi. Đến hạn trả tiền cho
Ngân hàng thì Y G Niê không tiền để trả thì H V Byă đã chủ động liên hệ
với Ngân hàng để trả tiền thay cho Y G Niê.
Đến ngày 22/02/2021, Y G Niê ủy quyền cho H V Byă liên hệ với
Ngân hàng để rút giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xóa đăng ký thế chấp tại
Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện KP. Như vậy, việc trả số tiền
500.000.000 đồng của Y G Niê đã vay của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam
cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam do H V Byă tự trả. Bản thân Y G
Niê không có trả tiền cho Ngân hàng. Mặc dù thửa đất số 113, tờ bản đồ 15, diện
tích 2440m
2
(400m
2
đất + 2040m
2
đất cà phê), địa chỉ: EK, huyện KP, tỉnh
Đắk Lắk đã được tặng cho sang tên tôi H B Niê sau đó tôi tặng cho lại em trai Y
G Niê nhưng cả gia đình chúng tôi vẫn trực tiếp ở, canh tác, sử dụng.
Ngoài ra trước đây vào năm 2005 thì bố mẹ tôi cùng em trai Y K Niê
chuyển nhượng một phần diện tích đất 500m
2
trong tổng diện tích 2440m
2
cho
vợ chồng bà H B1 Bkrông nhưng chỉ viết giấy tay, chưa làm thủ tục tách thửa và
Hợp đồng chuyển nhượng theo quy định mặc gia đình đã bàn giao diện tích
đất 500m
2
cho vợ chồng H B1 Bkrông từ năm 2005. Bố mẹ tôi cũng đã nhận
đủ số tiền mà vợ chồng H B1 Bkrông trả cho gia đình. Thực tế diện tích đất
còn lại của gia đình tôi 1940m
2
trong tổng diện tích 2440m
2
thuộc thửa đất số
113, tờ bản đồ 15, tọa lạc tại: xã EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk.
Ngày 01/6/2021 tôi cùng mẹ tôi bà HR Niê và em trai Y O Niê có nhận số
tiền đặt cọc đất liên quan thửa đất số 113, tờ bản đồ 15, diện tích 2440m
2
tọa lạc
tại: EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk với số tiền đã nhận 50.000.000 đồng của
ông Nhâm Văn P. Việc nhận số tiền này có bà H V Byă, ông Trịnh Hoàng D làm
chứng. Tại thời điểm tôi mẹ i bà HR Niê em trai Y O Niê nhận số tiền đặt
cọc đất 50.000.000 đồng của ông Nhâm Văn P thì thửa đất số 113, tờ bản đồ 15,
tọa lạc tại: EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk thì giấy tờ pháp không mang tên
tôi (H B Niê) tôi cũng không biết giấy tờ pháp hiện tại n đứng tên Y
20
G Niê nữa không. Tôi chỉ biết gia đình tôi vẫn đang người trực tiếp canh tác
quản lý sử dụng thửa đất này.
Sau khi nhận số tiền 50.000.000 đồng của ông Nhâm Văn P thì đến
khoảng giữa tháng 6/2021 tôi cùng mẹ các em không còn trên thửa đất số
113, tờ bản đồ 15, toạ lạc: xã EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk nữa. Riêng bố tôi ông
Y L Bkrông vẫn trên thửa đất này. Ngoài nhận số tiền 50.000.000 đồng của
ông Nhâm Văn P thì tôi cũng như gia đình tôi không còn nhận bất kỳ số tiền nào
khác từ ông Nhâm Văn P.
Trước đây tôi khai “Lý do tôi không trên thửa đất này là: thửa đất đã
được Y G Niê chuyển nhượng cho người khác. Cụ thể Y G Niê đã chuyển
nhượng cho ông Trịnh Hoàng D theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng
đất công chứng số 1626, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/03/2021 tại
Phòng công chứng số 2 tỉnh Đắk Lắk giữa bên chuyển nhượng Y G Niê với bên
nhận chuyển nhượng Trịnh Hoàng D” tuy nhiên thực tế tôi hoàn toàn không biết
Y G Niê đã chuyển nhượng thửa đất số 113, tờ bản đồ 15, toạ lạc: EK, huyện
KP, tỉnh Đắk Lắk cho ông Trịnh Hoàng D. Tôi không trên thửa đất này do
ông Trịnh Hoàng D cùng H V Byă cho xe múc đến tháo dỡ nhà của gia
đình tôi dẫn đến chúng tôi không có nhà ở phải đi thuê nhà để ở.
Quyền sử dụng đất đối với thửa đất s113, tờ bản đồ 15, tọa lạc tại:
EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk sau này được ông Trịnh Hoàng D làm thủ tục tách
thửa và đã chuyển nhượng cho người khác thì tôi cũng hoàn toàn không biết.
Nay Hoàng Thị Phương T, Ngô Thị Thanh X đơn khởi kiện ông
Y L Bkrông đến Tòa án thì tôi đnghị Tòa án xem xét thực tế gia đình tôi
không chuyển nhượng đất cho người khác. Ngoài ra tôi không yêu cầu
thêm.
6. Ông Y S1 Ktla H B1 Bkrông trình bày: Vợ chồng chúng tôi
với ông Y L Bkrông không con họ hàng . Ông Y L Bkrông với HR
Niê vợ chồng. Vợ chồng ông Y L Bkrông với vợ chồng tôi sống cùng buôn
với nhau nên có quen biết nhau.
Vào ngày 10/03/2005, vợ chồng ông Y L Bkrông (tên thường gọi là A Ma
K3 A Mi K3) cùng con trai của ông bà Y K Niê chuyển nhượng cho vợ
chồng tôi diện tích đất vườn 500m
2
, với giá chuyển nhượng 6.000.000
đồng. Việc chuyển nhượng được viết bằng giấy tờ viết tay, viết theo tiếng Ê Đê
không viết bằng tiếng phổ thông. người chng kiến là ông A Ma S3
ông A Ma H’ R3 (tên theo giấy tờ của ông A Ma S3 là Y T2 Ayŭn và ông A Ma
H’ R3 Y V3 Bkrông) xác nhận của Buôn trưởng Buôn YE, EK
ông Y B3 Niê. Chúng tôi đã giao đủ số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) cho
vợ chồng ông Y L Bkrông.
Sau khi nhận chuyển nhượng đất từ vợ chồng ông Y L Bkrông tên thường
gọi A Ma K3 A Mi K3 cùng con trai của ông Y K Niê thì vợ chồng
chúng tôi đã giao đủ tiền, vợ chồng ông Y L Bkrông ng con trai ông cũng
đã bàn giao diện tích đất 500m
2
cho vợ chồng chúng tôi trực tiếp sở hữu, quản
lý, canh tác, sử dụng. Tuy nhiên vợ chồng ông Y L Bkrông không chịu làm thủ
tục tách thửa để chuyển nhượng diện tích đất 500m
2
sang cho chúng tôi cũng
21
không chịu làm giấy tờ thủ tục đất đai theo quy định của pháp luật sang cho
chúng tôi. Vợ chồng chúng tôi đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông Y L Bkrông
phải trách nhiệm làm thủ tục tách thửa hoàn tất các thủ tục pháp cho
chúng tôi theo quy định nhưng ông không làm. do ông Y L Bkrông đưa ra
do giấy tờ đất đang thế chấp vay ngân hàng nên chưa làm thủ tục tách thửa
được, còn cụ thể ông thế chấp ngân hàng nào thì ông Y L không nói.
Diện ch đất 500m
2
vợ chồng ông Y L Bkrông cùng con trai ông
chuyển nhượng cho chúng tôi nằm trong tổng diện tích đất 2440m
2
thuộc thửa
đất số 113, tờ bản đồ 15, tọa lạc tại xã EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk.
Thửa đất số 113, tờ bản đồ 15, diện tích 2440m
2
(400m
2
đất + 2040m
2
đất phê), tọa lạc tại EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk của gia đình ông Y L
Bkrông sau này đến m 2017 đã được gia đình ông tặng cho H B Niê (con gái
của ông Y L Bkrông HR Niê) khi giấy tờ đứng tên H B Niê thì H B Niê
cũng không làm thủ tục tách thửa cho chúng tôi; sau đó đến năm 2019 thì H B
Niê tặng cho lại toàn bộ thửa đất sang cho Y G Niê (là em trai của H B Niê). Khi
giấy tờ đất mang tên pháp của Y G Niê thì Y G Niê cũng không trách
nhiệm cùng gia đình làm thtục tách thửa xác lập giấy tđất đai sang cho
chúng tôi theo quy định.
Sau này ông Y G Niê đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 113, tờ bản
đồ 15, diện tích 2440m
2
(400m
2
đất + 2040m
2
đất phê), tọa lạc tại xã EK,
huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (trong đó cả phần đất đã chuyển nhượng cho chúng
tôi) cho ông Trịnh Hoàng D thì lúc này ông Trịnh Hoàng D đã làm thủ tục tách
thửa và xác lập hợp đồng chuyển nhượng diện tích 500m
2
(đo thực tế là
480,4m
2
) cho chúng i. Việc ông Trịnh Hoàng D xác lập hợp đồng chuyển
nhượng diện tích 500m
2
(đo thực tế 480,4m
2
) cho chúng tôi theo yêu cầu
của gia đình ông Y L Bkrông.
Thực tế toàn bộ thửa đất số 113, tbản đồ 15, diện tích 2440m
2
(400m
2
đất + 2040m
2
đất phê), tọa lạc tại EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk đã được
gia đình ông Y L Bkrông chuyển nhượng lại cho ông Trịnh Hoàng D ông D
trách nhiệm tách thửa chuyển nhượng lại một phần diện tích đất 500m
2
(đo
thực tế 480,4m
2
) cho chúng tôi. Diện ch đất còn lại của ông D. Ngày
05/6/2023, ông Trịnh Hoàng D cùng với vợ chồng chúng tôi đã đến Phòng công
chứng số 2 tỉnh Đắk Lắk xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
đối với diện tích đất 500m
2
o thực tế là 480,4m
2
) mà gia đình ông Y L Bkrông
đã chuyển nhượng cho vợ chồng chúng tôi vào ngày 10/3/2005 trước đây
ông Y L Bkrông ng gia đình không chịu làm thủ tục tách thửa và xác lập hợp
đồng chuyển nhượng theo quy định cho chúng tôi. Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông Trịnh Hoàng D với chúng tôi được công chứng số
2031, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/6/2023 tại Phòng công
chứng số 2 tỉnh Đắk Lắk.
Ngày 20/7/2023 Văn phòng đăng đất đai tỉnh Đắk Lắk đã cấp
GCNQSDĐ, QSH nhà và tài sản khác gắn liền với đất mang tên ông Y S1
Ktla, bà H B1 Bkrông sDL 124965, thửa đất 201, diện tích 480,4m
2
(đất tại
22
nông thôn 60m
2
, đất trồng cây lâu năm 420,4m
2
), tọa lạc tại EK, huyện KP,
tỉnh Đắk Lắk.
Từ c nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Y L Bkrông ngày
10/03/2005 cho đến nay thì diện tích đất 480,4m
2
(đất tại ng thôn 60m
2
, đất
trồng cây lâu năm 420,4m
2
), tọa lạc tại EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk là do vợ
chồng chúng tôi là người trực tiếp sở hữu, quản lý, canh tác và sử dụng. Đối với
phần diện tích đất còn lại của thửa đất 113, tờ bản đồ 15 của gia đình ông Y L
Bkrông hiện nay đã được chuyển nhượng cho người khác thì chúng tôi không
liên quan nên không có ý kiến. Ngoài ra chúng tôi không có yêu cầu gì thêm.
7. Ông Y E Niê trình bày: Tôi con đcủa ông Y L Bkrông với HR
Niê. Bố mtôi tất cả 05 người con gồm: H B Niê, sinh năm 1987; Y K Niê,
sinh năm 1990; Y E Niê, sinh năm 1992; Y O Niê, sinh năm 1994; Y G Niê,
sinh năm 1997. Hiện nay tôi đã lập gia đình cùng với bên gia đình vtại
Buôn SM, xã CS, huyện CM, tỉnh Đắk Lắk. Tôi không còn sống chung cùng với
gia đình cũng không tại Buôn YE, xã EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk nữa.
Hiện nay tôi chưa cắt khẩu nhập về bên gia đình vợ mà vẫn còn hộ khẩu chung
với bố mẹ của tôi.
Quá trình còn chung sống với bố mcủa tôi, bố mẹ tôi có tạo lập được tài
sản Quyền sdụng đất nào không thì tôi không biết. Lúc còn nhỏ tôi sống
cùng với bố mẹ, được bmnuôi dưỡng. Sau khi đủ 18 tuổi thì tôi gia đình
riêng, sống cùng với gia đình bên vợ nên không còn liên quan đến bố
mẹ. Tôi khẳng định tôi hoàn toàn không biết bố mẹ tôi trong quá trình chung
sống tạo lập được tài sản nào không nữa. Trường hợp ông tạo lập được
tài sản thì tôi cũng không liên quan.
Việc Hoàng Thị Phương T, Ngô Thị Thanh X khởi kiện btôi
ông Y L Bkrông thì tôi hoàn toàn không biết, không liên quan. Đề nghị Tòa án
xem xét theo quy định của pháp luật.
8. Ông Y G Niê trình bày: Tôi là con đẻ của ông Y L Bkrông với bà HR
Niê. Bố mtôi tất cả 05 người con gồm: H B Niê, sinh năm 1987; Y K Niê,
sinh năm 1990; Y E Niê, sinh năm 1992; Y Jăk Niê, sinh năm 1994; Y G Niê,
sinh năm 1997. Hiện nay tôi cùng mẹ và các anh chị em thuê nhà ở riêng còn bố
tôi ông Y L Bkrông ở riêng, chúng tôi không có sống chung cùng với nhau.
Quá trình còn chung sống, bố mtôi tạo lập được tài sản là: Quyền sử
dụng đất số R 617318 do UBND huyện KP cấp ngày 05/03/2001 vào sổ cấp
GCNQSDĐ số 271102 QSDĐ/CH đối với thửa đất số 113, t bản đồ 15, diện
tích 2440m
2
(400m
2
đất + 2040m
2
đất cà phê), địa chỉ: EK, huyện KP, tỉnh
Đắk Lắk.
Để thuận tiện cho việc làm ăn sinh hoạt gia đình nên năm 2017 bố m
tôi và các anh chị em của tôi đã làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất này cho
chị gái tôi H B Niê. Sau khi được tặng cho, chị gái tôi H B Niê đã làm thủ tục
đăng biến động đất đai và đã được Chi nhánh văn phòng đăng đất đai
huyện KP đăng biến động sang tên H B Niê vào ngày 16/03/2017 chị đã
thế chấp quyền sdụng đất y tại Ngân hàng Đầu tư Phát triển Việt Nam
chi nhánh KP để vay tiền số tiền 150.000.000 đồng.
23
Đến tháng 11 năm 2018, chị gái tôi H B Niê đã tất toán khoản vay tại
Ngân hàng Đầu Phát triển Việt Nam chi nhánh KP chuyển sang vay tại
Ngân hàng khác Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam với số tiền 400.000.000
đồng, thời gian vay ngày 25/11/2018. Đến tháng 11 năm 2019 đến hạn trả nợ
thì chị tôi đã trả đủ số tiền đã vay cho Ngân hàng rút giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất về. Sau đó chị tôi làm thủ tục tặng cho lại Quyền sử dụng đất số R
617318 do UBND huyện KP cấp ngày 05/03/2001 vào sổ cấp GCNQSDĐ số
271102 QSDĐ/CH đối với thửa đất số 113, tờ bản đồ 15, diện tích 2440m
2
(400m
2
đất + 2040m
2
đất phê), địa chỉ: EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk
sang cho tôi Y G Niê. Sau đó quyền sử dụng đất này đã được Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai huyện KP đăng biến động sang tên của tôi Y G Niê
vào ngày 25/12/2019.
Ngày 10/01/2020, tôi đã thế chấp quyền sử dụng đất này cho Ngân hàng
TMCP Quốc tế Việt Nam để vay số tiền 500.000.000 đồng. Đến ngày
22/02/2021, tôi đã y quyền cho H V Byă liên hệ với Ngân hàng để rút giấy
chứng nhận quyền sdụng đất, xóa đăng thế chấp tại Chi nhánh văn phòng
đăng đất đai huyện KP. Việc trả số tiền 500.000.000 đồng của tôi đã vay của
Ngân hàng cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam do H V Byă tự trả. Bản
thân tôi không trả tiền cho Ngân hàng. Mặc dù thửa đất số 113, tờ bản đồ 15,
diện tích 2440m
2
(400m
2
đất + 2040m
2
đất cà phê), địa chỉ: EK, huyện KP,
tỉnh Đắk Lắk đã được tặng cho sang tên chị tôi H B Niê sau đó chtôi tặng cho
lại cho tôi Y G Niê nhưng cả gia đình chúng tôi vẫn trực tiếp ở, canh tác, sử
dụng.
Đến tháng 6 năm 2021 thì cả gia đình gồm bố mtôi các thành viên
của gia đình không còn trên thửa đất số 113, tờ bản đồ 15, diện tích 2440m
2
(400m
2
đất + 2040m
2
đất phê), địa chỉ: EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk
nữa. do không trên thửa đất này là: thửa đất đã được tôi chuyển nhượng
cho người khác. Cụ thể tôi đã chuyển nhượng cho ông Trịnh Hoàng D theo hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 1626, quyển số 01
TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/03/2021 tại Phòng công chứng số 2 tỉnh Đắk Lắk
giữa bên chuyển nhượng Y G Niê với bên nhận chuyển nhượng Trịnh Hoàng D.
Hiện nay quyền sử dụng đất đối với thửa đất s113, tờ bản đồ 15, diện
tích 2440m
2
(400m
2
đất + 2040m
2
đất cà phê), địa chỉ: EK, huyện KP, tỉnh
Đắk Lắk sau khi được ông Trịnh Hoàng D nhận chuyển nhượng từ tôi thì ông D
đã làm thủ tục tách thửa đã chuyển nhượng cho người khác trong đó
chuyển nhượng cho Hoàng Thị Phương T diện tích 396,8m
2
, Ngô Thị
Thanh X diện tích 388,6 m
2
.
Nay Hoàng Thị Phương T, Ngô Thị Thanh X đơn khởi kiện ông
Y L Bkrông đến Tòa án thì tôi có ý kiến như sau:
Thứ nhất: Bản thân ông Y L Bkrông đã nhận tiền hỗ trợ với số tiền
50.000.000đồng tngười nhận chuyển nhượng ông Trịnh Hoàng D (số tiền này
do bà H V Byă thay mặt ông D trực tiếp giao cho ông Y L Bkrông, việc giao
nhận tiền được thực hiện tại nhà cộng đồng Buôn YE, sự chứng kiến của
24
công an viên, buôn phó của Buôn YE). Do đó đề nghị ông Y L Bkrông xem xét
lại.
Thứ 2: Hiện nay ông Y L Bkrông không có nhà để ở, không có chỗ cư trú.
Đề nghị Hoàng Thị Phương T, Ngô Thị Thanh X tạo điều kiện cắt một
phần diện tích để hỗ trợ chỗ cho ông Y L chỗ sinh hoạt. Ngoài ra tôi
không có yêu cầu gì thêm.
9. Ông Nhâm Văn P trình bày:
Ngày 01/6/2021 tôi đứng ra nhận chuyển nhượng (Hợp đồng đặt cọc)
Quyền sử dụng đất số: R 617318 số vào sổ 271102 QSDĐ do UBND huyện KP
cấp ngày 05/3/2001 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Trịnh
Hoàng D. Quá trình mua bán được làm việc tại nhà bà H B Niê thường tBuôn
YE, EK, huyện KP. Bên mua bên bán thương lượng làm hợp đồng
chuyển nhượng viết tay, thống nhất giá bán 850.000.000 đồng (Tám trăm năm
mươi triệu đồng) phương thức thanh toán các lần thanh toán được thoả thuận
và ghi nhận cụ thể. Bên mua không mua giá trị tài sản trên đất do vậy sau khi đặt
cọc xong đi đến thống nhất H B Niê các thành viên trong gia đình tự
tháo phá dỡ căn nhà trên đất và chuyển đồ đạc đi nơi khác sinh sống.
Trong quá trình mua bán tôi được bên gia đình H B Niê cho biết
hiện tại trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang nhờ ông Trịnh Hoàng D
đứng hộ để thế chấp giấy chứng nhận vay Ngân hàng ACB Chi nhánh huyện KP
với số tiền 750.000.000 đồng (Bảy trăm năm mươi triệu đồng). Sau khi thống
nhất thoả thuận tôi trả thay gia đình H B Niê số tiền vay ngân hàng
750.000.000 đồng (Bảy trăm năm mươi triệu đồng), tôi người trực tiếp đưa
tiền tới ngân hàng ACB để ông Trịnh Hoàng D trả ngân hàng lấy bìa ra làm
thủ tục cấp đổi và chuyển nhượng.
Đến ngày 01/7/2021 bên tôi (đại diện cho tôi ông Nguyễn Văn S) trả
thêm tiền cho bên bán - gia đình H B Niê với số tiền 50.000.000 đồng
(Năm mươi triệu đồng). Ông Nguyễn Văn S đứng ra trả và ghi lại hợp đồng mua
bán. Số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) còn lại được ông Trịnh
Hoàng D đưa cho ông Y L Bkrông hỗ trợ ông Y L chuyển đi nơi khác sinh sống.
Do thời điểm chúng tôi nhận chuyển nhượng đất thì ông Y L Bkrông trên căn
nhà nhỏ với diện tích xây dựng 16m
2
. Như vậy tôi đã thanh toán đủ để nhận
chuyển nhượng thửa đất nêu trên là: 850.000.000 đồng (Tám trăm năm mươi
triệu đồng) cho gia đình H B Niê ông Y L Bkrông. Thực tế thửa đất nêu
trên do tôi cùng 03 người nữa đầu mua chung đbán gồm: Tôi (Nhâm Văn
P), ông Nguyễn Văn S, ông Phạm Ngọc Q, ông Văn T3. Chúng tôi 04 người
chung vốn thống nhất cử ông Phạm Ngọc Q Hồ Thị A đứng tên trong hợp
đồng chuyển nhượng và đứng ra các giao dịch mua bán sau này. Sau khi cấp đổi
- tách thửa xong, tiến hành ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa bên chuyển nhượng ông Trịnh Hoàng D bên nhận chuyển
nhượng ông Phạm Ngọc Q, bà Hồ Thị A, hợp đồng được công chứng số 005090
quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/7/2021 tại Văn phòng công
chứng Trung Nghĩa.
25
Chúng tôi đã chuyển nhượng cũng như thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo
quy định của pháp luật. Sau đó ông Q, A đã chuyển nhượng đất cho người
khác. Từ đó tới nay chúng tôi không còn liên quan nữa. Việc Hoàng Thị
Phương T, Ngô ThThanh X khởi kiện ông Y L Bkrông chúng tôi không
liên quan cũng như không quen biết bà T và bà X.
10. Ông Nguyễn Văn S trình bày: Ngày 01/6/2021 ông Nhâm Văn P
đứng ra nhận chuyển nhượng (Hợp đồng đặt cọc) Quyền sử dụng đất số: R
617318 số vào sổ 271102 QSDĐ do UBND huyện KP cấp ngày 05/3/2001 giấy
chứng nhận QSDĐ đứng tên ông Trịnh Hoàng D.
Quá trình mua bán được làm việc tại nhà bà H B Niê thường trú Buôn YE,
EK, huyện KP. Bên mua bên bán thương lượng làm hợp đồng
chuyển nhượng viết tay, thống nhất giá bán 850.000.000 đồng (Tám trăm m
mươi triệu đồng) phương thức thanh toán các lần thanh toán được thoả thuận
và ghi nhận cụ thể. Bên mua không mua giá trị tài sản trên đất do vậy sau khi đặt
cọc xong đi đến thống nhất H B Niê các thành viên trong gia đình tự
tháo phá dỡ căn nhà trên đất và chuyển đồ đạc đi nơi khác sinh sống.
Trong quá trình mua bán tôi ông P được bên gia đình H B Niê
cho biết hiện tại trên giấy chứng nhận quyền sdụng đất đang nhờ ông Trịnh
Hoàng D đứng hộ để thế chấp giấy chứng nhận vay Ngân hàng ACB Chi nhánh
huyện KP với số tiền 750.000.000 đồng (Bảy trăm m mươi triệu đồng). Sau
khi thống nhất thoả thuận ông P trả thay gia đình H B Niê stiền vay ngân
hàng 750.000.000 đồng (Bảy trăm năm mươi triệu đồng), ông P là người trực
tiếp đưa tiền tới ngân hàng ACB để ông Trịnh Hoàng D trả ngân hàng và lấy bìa
ra làm thủ tục cấp đổi và chuyển nhượng.
Đến ngày 01/7/2021 tôi trực tiếp trả thêm tiền cho bên bán - gia đình bà H
B Niê với số tiền 50.000.000 đồng (Năm ơi triệu đồng). ghi lại hợp
đồng mua bán. Số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) còn lại được
ông Trịnh Hoàng D đưa cho ông Y L Bkrông hỗ trợ ông Y L chuyển đi nơi khác
sinh sống. Do thời điểm chúng i nhận chuyển nhượng đất thì ông Y L Bkrông
ở trên căn nhà nhỏ với diện tích xây dựng 16m
2
.
Như vậy chúng tôi đã thanh toán đđể nhận chuyển nhượng thửa đất nêu
trên là: 850.000.000 đồng (Tám trăm năm mươi triệu đồng) cho gia đình bà H B
Niê và ông Y L Bkrông. Thực tế thửa đất nêu trên do tôi cùng 03 người nữa đầu
mua chung để bán gồm: Tôi (Nguyễn Văn S), ông Nhâm Văn P, ông Phạm
Ngọc Q, ông Văn T3. Chúng tôi 04 người chung vốn thống nhất cử ông
Phạm Ngọc Q và bà Hồ Thị A đứng tên trong hợp đồng chuyển nhượng và đứng
ra các giao dịch mua bán sau này. Sau khi cấp đổi - tách thửa xong, tiến hành ra
công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển
nhượng ông Trịnh Hoàng D bên nhận chuyển nhượng ông Phạm Ngọc Q,
Hồ Thị A, hợp đồng được công chứng số 005090 quyển số 01/2021 TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 29/7/2021 tại Văn phòng công chứng Trung Nghĩa.
Chúng tôi đã chuyển nhượng cũng như thực hiện đầy đtrách nhiệm theo
quy định của pháp luật. Sau đó ông Q, A đã chuyển nhượng đất cho người
khác. Từ đó tới nay chúng tôi không còn liên quan nữa. Việc Hoàng Thị
26
Phương T, Ngô ThThanh X khởi kiện ông Y L Bkrông chúng tôi không
liên quan cũng như không quen biết bà T và bà X.
11. Ông Lê Ngọc C, bà Nguyễn Thị Hải Y trình bày: Ngày 04 tháng 05
năm 2022, chúng tôi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bên
nhận chuyển nhượng là Hoàng Thị Phương T, địa chỉ: 558/9 Nguyễn Văn
Cừ,Tổ dân phố 8, phường TL, Tp. BMT, tỉnh Đắk Lắk tại Văn phòng công
chứng PHT, địa chỉ: 168 A Đường GP, Thị Trấn PA, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk.
Số công chứng: 1745 quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD. Cụ thể thông tin
thửa đất chuyển nhượng như sau: thửa đất số 206, tờ bản đồ 84, địa chỉ thửa đất:
EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk. Diện tích: 396,8m
2
(Ba trăm chín mươi sáu
phẩy tám mét vuông). Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng, Mục đích sử dụng: Đất
nông thôn (ONT): 100m
2
; Đất trồng cây lâu năm: 296,8m
2
; Thời hạn sử dụng:
Đất ở ONT: Lâu dài; Đất trồng cây hàng năm (CLN): 2043. Nguồn gốc sử dụng:
Nhận chuyển nhượng đất được Công nhận quyền sử dụng đất ngiao đất
thu tiền sdụng đất: 100m
2
; Nhận chuyển nhượng đất được Công nhận quyền
sử dụng đất như giao đất có không thu tiền sử dng đất: 296,8m
2
.
Cùng ngày sau khi công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất xong. Chúng tôi Hoàng Thị Phương T đã cùng nhau tới kiểm tra lại
hiện trạng thửa đất trên, chúng tôi đã bàn giao quyền sử dụng đất trên cho T
trên thực địa, T cũng đã tiếp nhận đất thanh toán đầy đủ số tiền chuyển
nhượng cho chúng tôi theo Biên bản bàn giao quyền sử dụng đất, tài sản nhà
gắn liền với đất được lập ngày 04/05/2022. Việc chúng tôi Hoàng
Thị Phương T tự nguyện thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đã
thực hiện theo đúng các thủ tục theo quy định của pháp luật. Chúng tôi đã nhận
đầy đủ tiền chuyển nhượng, bà T cũng đã nhận bàn giao đất trên thực tế.
vậy, nay T khởi kiện ông Y L Bkrông về việc “Kiện đòi tài sản
quyền sử dụng đất” là thửa đất chúng tôi đã chuyển nhượng cho bà T. Chúng tôi
đồng ý với bà T về yêu cầu khởi kiện của bà T, yêu cầu ông Y L Bkrông phải trả
lại tài sản quyền sử dụng đất ông Y L Bkrông đang chiếm giữ sử dụng trái
quy định của pháp luật cho bà T.
12. Ông Nguyễn Đ, Huỳnh Thị T3 M trình bày: Ngày 21 tháng 03
năm 2022, chúng tôi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bên
nhận chuyển nhượng Ngô Thị Thanh X, địa chỉ: Thôn 2 (Thôn TT cũ)
EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk tại Văn phòng công chng PHT, địa chỉ: 168 A
Đường GP, Thị Trấn PA, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk. Số công chứng: 1745 quyền
số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD. Cụ thể thông tin thửa đất chuyển nhượng như
sau: thửa đất số 204, tờ bản đồ 84; Địa chỉ thửa đất: Xã EK, huyện KP, tỉnh Đắk
Lắk. Diện tích: 388,6m
2
(Ba trăm tám mươi tám phẩy sáu mét vuông). Hình
thức sử dụng: Sử dụng riêng; Mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn (ONT): 60m
2
;
Đất trồng cây lâu năm (CLN): 328,6m². Thời hạn sử dụng: Đất ở ONT: Lâu dài;
Đất trồng cây hàng năm (CLN): 2043. Nguồn gốc sử dụng: Nhận chuyển
nhượng đất được Công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng
đất: 60m
2
; Nhận chuyển nhượng đất được Công nhận quyền sử dụng đất như
giao đất có không thu tiền sử dụng đất: 328,6m
2
.
27
Cùng ngày sau khi công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất xong. Chúng tôi Ngô Thị Thanh X đã cùng nhau tới kiểm tra lại hiện
trạng thửa đất trên, cũng đã bàn giao quyền sử dụng đất trên cho bà Ngô Thị
Thanh X trên thực địa, X cũng đã tiếp nhận đất thanh toán đầy đủ số tiền
chuyển nhượng cho chúng tôi theo Biên bản bàn giao quyền sử dụng đất, tài sản
nhà gắn liền với đất được lập và ngày 21/03/2022. Việc chúng tôi
Ngô Thị Thanh X tự nguyện thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
đã thực hiện theo đúng các thủ tục theo quy định của pháp luật. Chúng tôi đã
nhận đầy đủ tiền chuyển nhượng, bà X cũng đã nhận bàn giao đất trên thực tế.
vậy, nay X khởi kiện ông Y L Bkrông về việc “Kiện đòi tài sản
quyền sử dụng đất” là thửa đất chúng tôi đã chuyển nhượng cho bà X. Chúng tôi
đồng ý với X về yêu cầu khởi kiện của X, yêu cầu ông Y L Bkrông phải
trả lại tài sản là quyền sử dụng đất ông Y L Bkrông đang chiếm giữ sử dụng trái
quy định của pháp luật. Ngoài nội dung trình bày ý kiến yêu cầu trên, chúng
tôi không có trình bày hay yêu cầu gì khác.
13. Ông Phạm Ngọc Q, Hồ Thị A đã cung cấp văn bản trình bày ý
kiến cho Tòa án với nội dung: Chúng tôi không biết Hoàng Thị Phương T,
Ngô Thị Thanh X ai. cũng không biết ông Y L Bkrông ai. Đối với
ông Trịnh Hoàng D thì ông D người đã chuyển nhượng đất cho chúng tôi. Cụ
thể: Vào ngày 29/7/2021 chúng tôi nhận chuyển nhượng một phần quyền sử
dụng đất của ông Trịnh Hoàng D (ông D địa chỉ tại thôn NL, xã EK, huyện
KP, tỉnh Đắk Lắk (nay xã EP, tỉnh Đắk Lắk). Cụ thể diện tích đất chúng
tôi nhận chuyển nhượng của ông D một phần quyền sử dụng đất thuộc thửa
đất số 16, tờ bản đồ 84, tọa lạc tại Buôn YE, EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk
(nay là xã EK, tỉnh Đắk Lắk). Thửa đất số 16 được tách thành 06 thửa gồm 201,
202, 203, 204, 205, 206 tờ bản đồ 84 theo trích lục bản đồ địa chính số 1512/TL-
CNKP-KTĐC ngày 27/7/2021. Một phần diện tích của thửa đất số 16, tờ bản đồ
84 chúng tôi nhận chuyển nhượng của ông Trịnh Hoàng D gồm các thửa đất
sau: thửa 202 diện tích 358,3m
2
, thửa 203 diện tích 399,2m
2
, thửa 204 diện tích
388,6m
2
, thửa 205 diện tích 392,7m
2
, thửa 206 diện tích 396,8m
2
) đều thuộc tờ
bản đồ 84, đất tọa lạc tại Buôn YE, EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay
EK, tỉnh Đắk Lắk) theo GCNQSDĐ số DA 241736 do Sở tài nguyên môi
trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 12/7/2021 mang tên Trịnh Hoàng D (ghi chú: cấp
đổi thay cho GCN số R 617318 do UBND huyện KP cấp ngày 5/03/2001). Tại
thời điểm chúng tôi nhận chuyển nhượng đất của ông Trịnh Hoàng D tđất này
đất trống, không người sinh sống trên đất, không công trình vật kiến
trúc trên đất. Sau khi nhận chuyển nhượng thì ông D đã bàn giao đất trên thực
địa cho chúng tôi chúng tôi cũng đã làm thủ tục giấy tờ đất đai sang tên
chúng tôi theo quy định của pháp luật.
Sau khi được cơ quan thẩm quyền cấp GCNQSDĐ mang tên chúng tôi
đối với các thửa đất chúng tôi nhận chuyển nhượng từ ông D thì trong quá trình
sử dụng chúng tôi đã chuyển nhượng lại các thửa đất này cho người khác, thời
gian chuyển nhượng cũng trong năm 2021 (do chuyển nhượng lâu rồi nên không
còn nhớ rõ). Chúng tôi cũng đã bàn giao đất trên thực tế cho người nhận chuyển
28
nhượng. Hiện nay chúng tôi không còn liên quan đến các thửa đất chúng tôi
đã nhận chuyển nhượng từ ông D.
Với nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Phương T, Ngô Thị
Thanh X đối với ông Y L Bkrông về việc kiện đòi tài sản cụ thể kiện đòi
quyền sử dụng đất (đất nguồn gốc của chúng tôi nhận chuyển nhượng từ ông
D) thì đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để xem xét giải quyết.
Do chúng tôi không còn liên quan đến các thửa đất chúng tôi nhận chuyển
nhượng từ ông Trịnh Hoàng D nên chúng tôi từ chối tham gia tố tụng trong vụ
án. Đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để xem xét giải quyết.
14. Bà H V Byă: Qtrình làm việc tại Tòa án H V Byă đã được Tòa
án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để bà đến làm việc tuy nhiên bà đều vắng
mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà H V Byă.
Tại kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc kết quả thẩm định
giá thể hiện:
Thửa số 206, tờ bản đồ 84, tọa lạc tại EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk
(nay là EK, tỉnh Đắk Lắk) thuc theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số DB 010719, được Sở tài
nguyên môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp cho ông Phạm Ngọc Q, Hồ Thị A
vào ngày 16/9/2021. Được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện KP (nay
Văn phòng đăng đất đai tỉnh Đắk Lắk - Chi nhánh khu vực KP) thay đổi
đăng biến động sang Nguyễn Thị Hải Y (Theo hồ số 000151.CN.001)
vào ngày 09/02/2022. tiếp tục được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
huyện KP (nay là Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk - Chi nhánh khu vực
KP) thay đổi đăng biến động sang bà Hoàng Thị Phương T (Theo hồ số
000151.CN.004) vào ngày 20/5/2022 din tích thc tế 398,7m
2
. tcận:
phía Bắc giáp thửa đất 205 của Phạm Thị T3 dài 39,93m; phía Nam giáp
đường đất dài 39,93m; phía Đông giáp thửa đất 203 của ông Bùi Minh T2 dài
10m; phía Tây giáp đường bê tông liên thôn dài 10m. Và tài sản gắn liền trên đất
gồm có: 01 căn nhà tạm kết cấu mái lợp tôn, vách đóng tôn, nền láng xi
măng. diện tích 42,3m
2
; 01 chái nhà mái lợp tôn, vách tôn, nền đất diện
tích 17,7m
2
; 01 mái che bằng tôn khung sắt có diện tích 12,5m
2
.
Theo chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần Thẩm định giá và dịch
vụ tài sản TC - Chi nhánh Đắk Lắk thửa đất có tổng giá trị là 1.005.986.000đồng
(Một tỷ không trăm lẻ năm triệu chín trăm tám mươi sáu nghìn đồng).
Thửa số 204, tờ bản đồ 84, tọa lạc tại EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk
(nay là xã EK, tỉnh Đắk Lắk) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 105121, được Sở tài nguyên và
môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp cho ông Nguyễn Đ vào ngày 04/11/2021. Được
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện KP (nay là Văn phòng đăng đất
đai tỉnh Đắk Lắk - Chi nhánh khu vực KP) thay đổi đăng biến động sang
Ngô Thị Thanh X (Theo hồ số 000147.CN.001) vào ngày 28/3/2022 diện
tích đo đạc thực tế 398,7m
2
. Đất tứ cận: phía Bắc giáp thửa đất 202 dài
39,93m; phía Nam thửa đất 205 dài 39,93m; phía Đông giáp thửa đất 203 của
29
ông Bùi Minh T2 dài 10m; phía Tây giáp đường tông liên thôn dài 10m.
tài sản gắn liền trên đất gồm có: 01 cây sầu riêng, 02 cây chuối.
Theo chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần Thẩm định giá và dịch
vụ tài sản TC - Chi nhánh Đắk Lắk thửa đất tổng giá trị 794.955.520 đồng
(Bảy trăm chín mươi tư triệu, chín trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
Tại Bn án n sự thm số 28/2025/DS-ST ngày 17 tng 9 năm 2025
ca Toà án nhân dân khu vc 4 - Đắk Lắk đã quyết định:
- Áp dụng Điều 5; khoản 2, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c
khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 165, khoản 2 Điều 227,
Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Áp dụng Điều 158, Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 169 của Bộ
luật dân sự; Điều 26, Điều 27, Điều 31, Điều 45, Điều 133, Điều 236 Luật đất
đai năm 2024 (cũ Điều 95, Điều 166, Điều 167, Điều 170, Điều 188, Điều
203 Luật đất đai năm 2013).
- Áp dụng điểm điểm khoản 1 Điều 12; Điều 26 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vQuốc Hội về
việc mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Hoàng Thị Phương T, Ngô
Thị Thanh X đối với ông Y L Bkrông về việc:
- Buộc ông Y L Bkrông phải trả lại cho Hoàng Thị Phương T toàn
bộ thửa đất số 206, tờ bản đồ 84, diện tích 396,8m
2
(Đất nông thôn (ONT):
100m
2
; đất trồng cây lâu năm (CLN): 296,8m
2
) đo thực tế 398,7m
2
tọa lạc tại
EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay EK, tỉnh Đắk Lắk) ông Y L
Bkrông đang sử dụng trái phép thuộc quyền sở hữu của bà Hoàng Thị
Phương T. Đồng thời, buộc ông Y L Bkrông phải tự di dời, tháo dỡ công trình
ông đã tự tạo dựng trên đất, gồm: 01 n nhà tạm kết cấu mái lợp tôn,
vách đóng tôn, nền láng xi măng. diện tích 42,3m
2
; 01 chái nhà mái lợp
tôn, vách tôn, nền đất diện tích 17,7m
2
01 mái che bằng tôn khung sắt
có diện tích 12,5m
2
.
Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
i sản khác gắn liền với đất sDB 010719, được Sở tài nguyên môi
trường tỉnh Đắk Lắk cấp cho ông Phạm Ngọc Q, Hồ Thị A vào ngày
16/9/2021; ngày 09/02/2022 đã được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
huyện KP (nay Văn phòng đăng đất đai tỉnh Đắk Lắk - Chi nhánh khu
vực KP) đăng biến động pháp sang Nguyễn Thị Hải Y (Theo hồ
số 000151.CN.001); ngày 20/5/2022, tiếp tục được Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai huyện KP (nay Văn phòng đăng đất đai tỉnh Đắk Lắk -
Chi nhánh khu vực KP) đăng biến động pháp lý sang bà Hoàng Thị
Phương T (Theo hồ số 000151.CN.004). Bà Hoàng Thị Phương T được
quyền sử dụng hợp pháp thửa đất số 206, tờ bản đồ 84, diện tích 396,8m
2
30
(Đất nông thôn (ONT): 100m
2
; đất trồng cây lâu năm (CLN): 296,8m
2
) đo
thực tế 398,7m
2
, tọa lạc tại xã EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã EK, tỉnh
Đắk Lắk).
- Buộc ông Y L Bkrông phải trả lại cho bà Ngô Thị Thanh X toàn bộ
thửa đất số 204, tờ bản đồ 84, diện tích 388,6m
2
(Đất nông thôn (ONT):
60m
2
; Đất trồng cây lâu năm (CLN): 328,6m².) đo thực tế 398,7m
2
, tọa lạc tại
EK, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk (nay xã EK, tỉnh Đắk Lắk) cây trồng
trên đất mà ông Y L Bkrông đang chiếm hữu, sử dụng trái phép thuộc sở hữu
của bà Ngô Thị Thanh X.
Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
i sản khác gắn liền với đất sDB 105121, được Sở tài nguyên môi
trường tỉnh Đắk Lắk cấp cho ông Nguyễn Đ vào ngày 04/11/2021; ngày
28/3/2022 đã được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện KP (nay
Văn phòng đăng đất đai tỉnh Đắk Lắk - Chi nhánh khu vực KP) đăng
biến động pháp lý sang bà Ngô Thị Thanh X (Theo hồ sơ số 000147.CN.001).
Ngô Thị Thanh X được quyền sử dụng hợp pháp thửa đất số 204, tờ bản
đồ 84, diện tích 388,6m
2
(Đất nông thôn (ONT): 60m
2
; Đất trồng cây lâu
năm (CLN): 328,6m².) đo thực tế 398,7m
2
, tọa lạc tại EK, huyện KP, tỉnh
Đắk Lắk (nay là xã EK, tỉnh Đắk Lắk).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm n quyết định về chi phí tố tụng, về án phí và
quyền kháng cáo cho c đương sự theo quy đnh của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm ông Y L Bkrông kháng cáo đối với toàn bộ bản án
dân sự sơ thẩm số 28/2025/DS-ST ngày 17/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực
4 - Đắk Lắk. Đề nghị cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo ủy quyền của ông Y L ông
Nguyễn Thanh Q trình bày:
Thửa đất số 113, tờ bản đồ số 15 của ông Y L, ông Y L sang nhượng
một phần cho ông AM A MMN nên ủy quyền cho H B đi làm thủ tục
tách thửa đất cho ông AM. Sau đó H B đã thay đổi nội dung thành hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất rồi tặng cho ông Y G Niê, ông Y G Niê sang
nhượng đất cho ông D, ông D tách thành nhiều thửa đất sang nhượng cho
nhiều người trong đó có bà X, bà T, ông T2, bà T3.
Ông Y L đã làm đơn khởi kiện H B. Tại bản án số 77/2024 ngày
27/9/2024 Tòa án nhân dân khu vực 4 đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông
Y L tuyên hủy hợp đồng tặng cho giữa ông Y L H B nhưng không giải
quyết hậu quả vô hiệu.
Sau đó X, T, ông T2, T3 khởi kiện ông Y L về việc tranh chấp
quyền sử dụng đất. Cấp thẩm không nhập các vụ án mà xét xử vụ án của
X, bà T còn vụ án của T3, ông T2 thì chưa giải quyết. Hơn nữa, hiện nay Tòa
án nhân dân khu vực 4 đang thụ vụ án ông Y L khởi kiện tuyên hiệu hợp
31
đồng tặng cho giữa H B với ông Y G Niê, tuyên hiệu hợp đồng sang
nhượng giữa Y G Niê với ông D tuyên vô hiệu tất cả các hợp đồng chuyển
nhượng đất được tách ra từ thửa đất số 113 của ông Y L trong đó có có bà X, bà
T, ông T2, bà T3, đồng thời giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Các vụ án
này hiện nay chưa được giải quyết xong nên việc Tòa án cấp phúc thẩm xét xử
vụ án của bà X, bà T là không đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của ông Y L. Do
đó, tôi đề nghị cấp phúc thẩm tạm đình chỉ chờ kết quả giải quyết vụ án ông Y L
đang khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo ủy quyền của X, T trình
bày:
Chúng tôi không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ông Y L cũng như đề
nghị tạm đình chỉ giải quyết vụ án của ông Q. X, T đều người thứ ba
ngay nh khi nhận sang nhượng đất nên quyền lợi ích hợp pháp cần được
đảm bảo. Đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa, đại din Vin kiểm t nhân dân tỉnh Đắk Lắk pt biu quan
điểm vvụ án:
Về tố tng: Trong quá trình thụ lý gii quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét
x, Thư , c đương sự đã chấp hành đúng quy đnh ca Bộ luật tố tụng n sự.
Về nội dung: ĐnghHĐXX căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của ông Y L
Bkrông - giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2025/DS-ST ny 17 tháng 9
năm 2025 ca Toà án nn n khu vực 4 - Đk Lk.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Căn cứ o c tài liệu trong h vụ án đã được thẩm tra tại phiên a,
căn cứ vào kết qu tranh luận tại phn a trên sxem t đầy đ c i liệu
chứng cứ, lời trình bày cac đương sự, ý kiến ca Kiểmt viên, Hội đồng xét xử
nhn định:
[1] Về thtục ttụng: Đơn kháng o của ông Y L Bkrông trong hạn luật
đnh, đưc miễn np án phí, kháng cáo ca ông Y L hp ln đưc xem xét theo
tnh tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng o của ông Y L Bkng, Hi đồng t xử thấy rng:
[2.1] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Tài liệu có trong hồ sơ vụ án
thể hiện thửa đất số 204 và 206, tờ bản đồ 84 có nguồn gốc được tách ra từ thửa
đất đất số 113 (mới 16), tờ bản đồ 15 (mới 84), diện tích 2440m² (trong đó
400m² đất ở, 2040m
2
đất phê) địa chỉ thửa đất: EK, huyện KP, tỉnh Đắk
Lắk (nay là EK, tỉnh Đắk Lắk) theo Giấy chứng nhận QSDĐ số R 617318
được UBND huyện KP cấp ngày 05/03/2001 cho hộ ông Y L Bkrông.
Ngày 14/03/2017, ông Y L Bkrông tặng cho lại toàn bộ diện tích 2440m²
thuộc thửa đất số 113, tờ bản đồ 15 cho H B Niê con gái của ông Y L
32
Bkrông theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất công chứng số 1644, quyển
số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/03/2017 tại Phòng công chứng số 2 tỉnh Đắk
Lắk. Ngày 16/3/2017 Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện KP đăng
biến động pháp lý sang tên bà H B Niê.
Ngày 23/12/2019, H B Niê đã tặng cho lại toàn bộ thửa đất trên cho
ông Y G Niê (là em trai của bà H B Niê). Việc tặng cho được thực hiện theo hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất công chứng số 9366, quyển số 01/TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 23/12/2019 tại Phòng công chứng số 2 tỉnh Đắk Lắk. Ngày
25/12/2019 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện KP đăng ký biến động
pháp lý sang tên ông Y G Niê.
Đến ngày 04/03/2021, ông Y G Niê đã chuyển nhượng lại toàn bộ thửa
đất mà ông đã được bà H B Niê tặng cho sang cho ông Trịnh Hoàng D theo hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 1626, quyển số 01
TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/03/2021 tại Phòng công chứng số 2 tỉnh Đắk Lắk.
Ngày 11/3/2021 Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện KP đăng biến
động pháp lý sang tên ông Trịnh Hoàng D.
Sau khi đăng biến động sang ông Trịnh Hoàng D thì ông D đã làm thủ
tục cấp đổi GCNQSDĐ. Ngày 12/7/2021, ông Trịnh Hoàng D đã được Sở tài
nguyên môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp GCNQSDĐ mang tên ông theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số
DA 241736, thửa đất số 16, tờ bản đồ 84, thửa đất được tách thành các thửa 201,
202, 203, 204, 205, 206, tờ bản đồ số 84.
Ngày 29/7/2021, ông Trịnh Hoàng D đã chuyển nhượng thửa đất 202,
203, 204, 205, 206 cho ông Phạm Ngọc Q, Hồ Thị A tại hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 005090, quyển số 01/2021 TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 29/7/2021 tại Văn Phòng công chứng Trung Nghĩa. Ngày
16/9/2021 ông Q, A đã được Sở tài nguyên môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp
GCNQSDĐ tại các thửa đất số 202, 203, 204, 205, 206.
Sau đó ông Phạm Ngọc Q bà Hồ Thị A chuyển nhượng thửa đất 202
cho ông Nguyễn Đ Huỳnh Thị T3 M. Đến ngày 22/04/2022, ông Nguyễn
Đ Huỳnh Thị M chuyển nhượng thửa đất 202 cho Trần H3 ông
Nguyễn Vũ T3.
Ông Phạm Ngọc Q Hồ Thị A chuyển nhượng thửa đất 203 cho ông
Phú H3 Nguyễn Thị K. Đến ngày 08/12/2021, ông Phú H3
Nguyễn Thị K chuyển nhượng thửa đất 203 cho Nguyễn Thị Thùy L1. Ngày
10/03/2022. Đến ngày 15/04/2022 L1 ủy quyền cho ông H2 chuyển nhượng
thửa đất 203 cho bà Bùi Minh T2, được Sở nông nghiệp & Môi trường tỉnh Đắk
Lắk cấp Giấy chứng nhận QSD đất số BT 066333 cho bà Bùi Minh T2 ngày
31/05/2022.
Ông Phạm Ngọc Q Hồ Thị A chuyển nhượng thửa đất 204 cho ông
Nguyễn Đ Huỳnh Thị T3 M. Sau đó ông Nguyễn Đ Huỳnh Thị T3
M, làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận QSD đất, được Snông nghiệp & Môi
trường tỉnh Đắk Lắk cấp đổi Giấy chứng nhận QSD đất số DB 105121; thửa đất
số 204; tờ bản đồ số 84; diện tích 388,6m
2
; 60m
2
; địa chỉ: EK, tỉnh Đắk Lắk
33
cho ông Nguyễn Đ Huỳnh Thị T3 M vào ngày 01/11/2021. Đến ngày
21/03/2022, ông Nguyễn Đ và bà Huỳnh ThT3 M chuyển nhượng thửa đất 204
cho Ngô Thị Thanh X, được cập nhật thông tin thay đổi chủ QSD đất sang
tên cho bà Ngô Thị Thanh X ngày 28/03/2022.
Ngày 24/09/2021, ông Phạm Ngọc Q và bà Hồ Thị A chuyển nhượng thửa
đất 205 cho Phạm Thị T3. Sau đó Phạm Thị T3 làm thủ tục cấp đổi Giấy
chứng nhận QSD đất, được Sở nông nghiệp & Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp
Giấy chứng nhận QSD đất số DB 105601 cho bà Phạm Thị T3 ngày 09/11/2021.
Ngày 08/10/2021, ông Phạm Ngọc Q và bà Hồ Thị A chuyển nhượng thửa
đất 206 cho Nguyễn Thị Hải Y, được Văn phòng đăng đất đai tỉnh Đắk
Lắk Chi nhánh khu vực KP cập nhật thông tìm thay đổi chủ QSD đất sang tên
cho Nguyễn Thị Hải Y ngày 09/02/2022. Đến ngày 04/05/2022, Nguyễn
Thị Hải Y chuyển nhượng lại thửa đất 206 cho Hoàng Thị Phương T với giá,
được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk – Chi nhánh khu vực KP cập nhật
thông tin thay đổi chủ QSD đất sang tên cho Hoàng Thị Phương T ngày
22/05/2022.
Thửa đất số 201, ngày 05/6/2023, ông Trịnh Hoàng D chuyển cho ông Y
S1 Ktla H B1 Bkrông. Ngày 20/7/2023 Văn phòng đăng đất đai tỉnh
Đắk Lắk đã cấp GCNQSDĐ, QSH nhà tài sản khác gắn liền với đất mang
tên ông Y S1 Ktla, bà H B1 Bkrông số DL 124965, thửa đất 201.
[2.2] Ông Y L cho rằng không biết thửa đất đã sang nhượng cho nhiều
người khác nhau. Các bên chỉ sang nhượng trên giấy tờ và thực tế thửa đất do
gia đình ông quản lý, sử dụng từ trước đến nay, chưa chuyển giao cho ai.
HĐXX xét thấy: Q trình tham gia tố tụng vợ ông Y L bà H R, con gái
H B Niê, con trai J O Niê trình bày vào tháng 6/2021 có nhận số tiền 50.000.000
đồng đặt cọc chuyển nhượng đất từ ông Nhâm Văn P. H R và ông Y G xác
định từ giữa tháng 6/2021 sau khi nhận tiền đặt cọc chuyển nhượng đất thì gia
đình ông Y L đã không còn trên thửa đất số 113, tờ bản đồ số 15. Biên bản
cam kết tại bút lục số 283 thể hiện ông D hỗ trợ cho gia đình ông Y L
50.000.000 đồng để gải tỏa căn nhà tên thửa đất số 113, tờ bản đồ số 15 xác
nhận của Ban tự quản thôn, phù hợp với lời khai của ông Y G xác nhận ông Y L
nhận 50.000.000 đồng tiền hỗ trợ từ ông D thông qua H V Byă. Ông Y L
trình bày ông D thuê hội đen hủy hoại ngôi nhà cấp 4 ngôi nhà 134 của
ông rồi ép buộc ông nhận 50.000.000 đồng tiền hỗ trợ nhà làm nhà mới.
Tuy nhiên, ông Y L không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không
cơ sở để chấp nhận.
Như vậy, tại thời điểm ông Q bà A sang nhượng thửa đất số 204 cho ông
Đ, M, rồi ông Đ M sang nhượng lại cho X cũng như ông Q A sang
nhượng thửa đất số 206 cho Y rồi Y sang nhượng cho bà T thì gia đình
ông Y L đã không còn ở trên đất. Ông Lim cho rằng không biết thửa đất đã sang
nhượng cho nhiều người khác nhau, thửa đất do gia đình ông quản lý, sử dụng từ
trước đến nay, chưa chuyển giao cho ai là không có căn cứ.
[2.3] Bà X T trình bày sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng và nhận
bàn giao đất trên thực địa vào tháng 7/2022 ông Y L tự ý lấn chiếm hai thửa đất
34
số 204, 206, tự ý dựng nhà tạm trên thửa đất số 206 của bà T. Bà X bà T đã làm
đơn yêu cầu UBND EK giải quyết nhưng không kết quả, bà X bà T
cung cấp biên bản làm việc tại UBND EK. Đồng thời, như nhận định trên
thì gia đình ông Y L sau khi nhận tiên đặt cọc từ ông D đã không còn trên đất
từ tháng 6/2021; ông D, ông Q, A, ông Dung, M ông C bà Y đều xác định
khi chuyển nhượng đất đều đã bàn giao đất cho người nhận chuyển nhượng. Do
đó, có đủ căn cứ để xác định bà X, bà T đã nhận bàn giao đất trên thực đa.
Mặc hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 14/03/2017, giữa bên
tặng cho ông Y L Bkrông bên nhận tặng cho H B Niê bị tuyên hiệu
theo bản án dân sự thẩm số 77/2024/DSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân
dân huyện Krông Pắc (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk). Tuy nhiên,
toàn bộ thửa đất số 113 đã được tặng cho lại, chuyển nhượng lại sang cho nhiều
người, trên sở của việc tặng cho chuyển nhượng thì đã được đăng biến
động pháp lý, cấp lại GCNQSDĐ. Việc đăng biến động pháp lý, cấp lại
GCNQSDĐ đều đã được thực hiện đúng với trình tự, thtục quy định của luật.
Các bên đã giao tiền bàn giao đất trên thực địa nên T, X được coi
người thứ ba ngay tình theo quy định tại Điều 133 BLDS. Giao dịch nhận
chuyển nhượng tại thửa đất số 204, 206 của bà X, T không bị hiệu nên bà
X T người quyền sử dụng đất hợp pháp đối với thửa đất số 204, 206
theo quy định tại khoản 2 Điều 133 BLDS.
Do đó, Bản án thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của X, T buộc
ông Y L Bkrông trả lại cho T, X diện tích đất ông đã chiếm dụng.
Riêng đối với thửa đất của T thì buộc ông Y L Bkrông phải tự di dời, tháo dỡ
công trình ông đã tự tạo dựng trên đất, gồm: 01 căn nhà tạm kết cấu mái
lợp tôn, vách đóng tôn, nền láng xi măng. diện tích 42,3m
2
; 01 chái nhà mái
lợp tôn, vách tôn, nền đất có diện tích 17,7m
2
01 mái che bằng tôn khung sắt
có diện tích 12,5m
2
là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu tạm đình chỉ giải quyết vụ án của ông Q không
sở để chấp nhận. Ông Y L quyền yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất ngày 14/03/2017 với H B Nbằng một vụ án
khác khi có đơn yêu cầu.
[2.3] Đối với yêu cầu khi kin phn t ca ông Y L Bkrông gửi đến a án
sau thời điểm Tòa án mphiên họp vkiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ hòa giải khi đã Quyết định đưa vụ án ra xét xử nên cấp
thẩm không xem xét căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 200 của Bộ
luật tố tụng dân sự.
Từ những phân tích nhận định nêu trên, Hi đồng xét xử xét thấy không
chấp nhận đơn kháng cáo của ông Y L Bkrông - giữ nguyên Bản án dân sự sơ
thẩm số 28/2025/DS-ST ny 17 tháng 9 năm 2025 ca T án nhân dân khu vc 4 -
Đk Lk.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Y L Bkrông được miễn án phí dân
sự phúc thẩm.
35
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015;
[1]. Không chấp nhận kháng cáo của ông Y L Bkrông - giữ nguyên Bản
án dân sự thẩm số 28/2025/DS-ST ngày 17 tháng 9 m 2025 của T án nhân
dân khu vực 4 - Đk Lk.
[2.]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Y L Bkrông được miễn nộp án phí
dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân s quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,
Điều 7, Điều 7a, và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Đắk Lắk; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- TAND khu vực 4; (Đã ký)
- Chi cục THADS khu vực 4;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Đình Triết
Tải về
Bản án số 148/2026/DS-PT Bản án số 148/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 148/2026/DS-PT Bản án số 148/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất