Bản án số 15/2022/HS-ST ngày 27/04/2022 của TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam về tội hủy hoại tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 15/2022/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 15/2022/HS-ST ngày 27/04/2022 của TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam về tội hủy hoại tài sản
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Lý Nhân (TAND tỉnh Hà Nam)
Số hiệu: 15/2022/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/04/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 15/2022/HS-ST
Ngày: 27 - 4 - 2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Quốc Huy.
Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Quyên và ông Nguyễn Hải Hà.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thành Trung - Thẩm tra viên Toà án nhân
dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân huyện Nhân, tỉnh Nam tham
gia phiên toà: Ông Hoàng Mạnh Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhân,
tỉnh Nam xét xử thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ số:
09/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 16/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2022, đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh năm 1997 tại Nam; nơi trú: Thôn 1 C, thị trấn V,
huyện L, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc:
Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần
Văn Nh Đỗ Thị L; Vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bcáo bị tạm
giữ từ ngày 09/01/2022, chuyển tạm giam từ ngày 18/01/2022 đến nay; có mặt.
- Bị hại:
+ Ông Trần Văn Nh, sinh năm 1966; nơi trú: Thôn 1 C, thị trấn V,
huyện L, tỉnh H.
+ Đỗ Thị L, sinh năm 1973; nơi cư t: Thôn 1 C, thị trấn V, huyện L,
tỉnh H; có mặt.
(Ông Trn Văn Nh ủy quyền cho Đỗ Thị L tham gia tố tụng theo giấy
ủy quyền ngày 08/01/2022); có mặt.
- Người làm chứng:
+ Cháu Trần Thị Thanh H; người đại diện cho cháu Huyền: Bà Đỗ Thị L -
Là mẹ đẻ cháu H; có mặt.
+ Bà Trần Thị L, bà Trần Thị H; mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Thị L Trần Văn T (là con trai ruột bà L) đi ăn cỗ đến khoảng 21
giờ ngày 08/01/2022 tvề đến nhà thôn 1 Công Xá, thị trấn Vĩnh Trụ, huyện
Nhân, tỉnh Nam. Trần Văn T xin L 50.000 đồng đi cắt tóc nhưng bà L
không cho sử dụng xe môtô chở T đi cắt tóc, do quán đóng cửa nên L
T đi về, khi về đến nhà T tiếp tục xin bà L tiền nhưng bà L bảo để ngày hôm sau,
T tức giận bỏ lên tầng 2 sử dụng điện thoại còn bà L đi ra ngoài mua đồ.
Khoảng 30 phút sau T đi tìm bà L nhưng không thấy, do vẫn còn bực tức
nên T nảy sinh ý định đốt xe môtô của L. T đi ra phía trước cửa nhà lấy 01
ống hút của chai sữa tắm rồi đi ra sau nhà lấy 01 vỏ chai nhựa loại 500ml đi
vào phòng khách, lúc này có em gái T là cháu Trần Thị Thanh H, sinh năm 2008
đang ngồi sử dụng điện thoại ghế, T lấy chìa khóa xe môtô biển kiểm soát
90F9-9936 mở cốp xe, mở nắp bình xăng sử dụng ng hút hút xăng vào chai
nhựa khoảng 05 phút thì gần đầy chai, T đóng nắp bình xăng và cốp xe lại mang
ống hút để vào chỗ phía trước nrồi đi ra sau nhà lấy 01 bật lửa gas
quay lại phòng khách. T cầm chai xăng vừa hút đổ lên yên xe biển kiểm
soát 90F9-9936 châm bật lửa đốt rồi quay ra đổ xăng lên yếm xe môtô biển kiểm
soát 90B2-612.47 châm bật lửa đốt, thấy lửa bùng cháy cháu H sợ hãi chạy ra
ngoài hô hoán còn T đem bật lửa gas và chai nhựa bên trong còn 1/2 lượng xăng
T hút ra để bậc cầu thang rồi đi lên tầng 2 tiếp tục sdụng điện thoại.
Nghe tiếng cháu H hoán người dân đến cứu dập lửa khoảng 30 phút thì đám
cháy được dập tắt.
Sau khi nhận được tin báo, quan CSĐT - Công an huyện Nhân đã
tiến hành khám nghiệm hiện trường theo quy định của pháp luật. Đỗ Thị L
ông Trần Văn Nh xác định tài sản bị thiệt hại gồm: 02 chiếc xe mô tô bị cháy
hoàn toàn; 01 bộ cửa ra vào 04 cánh, 01 quạt trần, 05 bao thóc và 02 gian nhà bị
ám khói.
Vật chứng, tài sản đã thu giữ gồm: 02 khung xe mô bị cháy chỉ còn
phần sắt; 02 giấy đăng xe biển kiểm soát 90B2-612.47 biển kiểm
soát 90F9-9936; 01 ống hút màu trắng dài 17cm dạng ống hút của chai sữa tắm
được niêm phong trong túi cattong dán kín.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn đối với Trần Văn T ngày 08/01/2022: Nồng
độ cồn của Trần Văn T là 0.106 mg/L.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 05 ngày 14/01/2022 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lý Nhân, kết luận: 01 xe mô tô nhãn
hiệu Honda BKS 90B2-612.47, 01 xe nhãn hiệu Nomuza BKS 90F9-
9936, 01 bộ cánh cửa ra vào gồm 04 cánh bằng gỗ dổi, 01 quạt trần điện cơ, 05
bao thóc loại tám thơm tổng trọng lượng 150Kg, 170m2 tường trần hai
3
gian nhà phòng khách và phòng ngủ. Tổng giá trị bị hư hỏng của các tài sản trên
là: 19.015.500 (Mười chín triệu không trăm mười lăm nghìn năm trăm) đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Trầnn Nh và bà Đỗ Thị L không yêu cầu bị
cáo bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSLN ngày 03/3/2022 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Nhân, tỉnh Nam đã truy tTrần Văn T về tội “Hủy hoại
tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhân giữ nguyên quan điểm
truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 178;
điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần
Văn T từ 36 đến 42 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự, bị hại không yêu cầu bồi
thường nên không xem xét giải quyết. Bị cáo phải chịu án phí hình sự thẩm
và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
- Bcáo Trần Văn T khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của
Viện kiểm sát nhân dân huyện nhân đã truy tố; không ý kiến tranh luận,
bào chữa hay khiếu nại đề nghị Hội đồng xét xgiảm nhẹ một phần hình
phạt cho bị cáo.
- B hại Đỗ Thị L đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo. Trần Văn T con trong gia đình nên không yêu cầu phải bồi thường
thiệt hại về dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên snội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo những
người tham gia tố tụng khác không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết
định của quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Các hành vi,
quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng
trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Trần Văn T tại phiên tòa phù hợp
với lời khai của bị hại, người làm chứng phù hợp với kết quả khám nghiệm
hiện trường, vật chứng thu được cùng các tài liệu khác trong hồ vụ án. Do
đó đủ sở kết luận: Do bức xúc Đỗ Thị L không cho tiền đi cắt tóc nên
khoảng 21 giờ 30 phút ngày 08/01/2022 tại nhà Đỗ Thị L thôn 1 C, thị trấn
V, huyện L, Trần Văn T đã dùng xăng chất nguy hiểm về cháy đổ vào yên xe
môtô biển kiểm soát 90F9-9936 chiếc xe môtô biển kiểm soát 90B2-612.47,
sau đó châm lửa đốt làm cháy hỏng hoàn toàn 02 chiếc xe này cùng 01 bộ cửa ra
vào 04 cánh, 01 quạt trần, 05 bao thóc và 02 gian nhà bị ám khói. Tổng giá trị tài
4
sản bị thiệt hại 19.015.500 (Mười chín triệu không trăm mười lăm nghìn năm
trăm) đồng.
nh vi nêu trên của Trần n T đã phạm vào tội “Hủy hoại tài sản” tội
phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Quan điểm kết ti ca Vin kim sát nhân dân huyn Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối
vi b cáo đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp lut.
[3] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn T nguy hiểm
cho hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác
được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương. Bị cáo đã dùng chất
cháy nguy hiểm huhoại tài sản của chính gia đình bị cáo chỉ lý do nhỏ nhặt.
Vì vậy phải xphạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi hội một thời gian
mới thể cải tạo được bị cáo, đồng thời tác dụng phòng ngừa tội phạm
chung.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền s.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Trần Văn T
đã thành khẩn khai báo; bị hại bố mẹ đẻ của bị cáo đã đơn xin giảm nhẹ
hình phạt; bố đẻ bị o ông Trần Văn Nh là thương binh hạng 1/4 tỷ lệ thương
tật 87%, nên bị o được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được
quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: t thấy bị cáo phạm tội không có mục đích thu
lợi, bản thân không nghề nghiệp thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ
sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường
nên không xem xét, giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Chiếc xe môtô biển kiểm soát 90F9-9936 và chiếc
xe môtô biển kiểm soát 90B2-612.47 đều bị cháy trơ khung (đã bị cháy mất biển
kiểm soát); 01 ống hút màu trắng dài 17cm không còn giá trị sdụng nên tịch
thu tiêu huỷ. Đối với 02 giấy đăng xe môbiển kiểm soát 90F9-9936
xe môtô biển kiểm soát 90B2-612.47 được lưu theo hồ sơ vụ án.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại được quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.
5
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tính từ
ngày tạm giữ 09/01/2022.
2. Về xử vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ
luật tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu huỷ: 01 chiếc xe môtô biển kiểm soát 90F9-9936 và chiếc
xe môtô biển kiểm soát 90B2-612.47, đều bị cháy trơ khung (đã bcháy mất
biển kiểm soát); 01 ống hút màu trắng dài 17cm.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1
Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/1016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn T phải chịu
200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bcáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền
yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo
quy định của các Điều 6,7 Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Hà Nam;
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- VKSND huyện Lý Nhân;
- Cơ quan CSĐT, Cơ quan THA hình sự -
Công an huyện Lý Nhân;
- Chi cục THADS huyện Lý Nhân;
- Bị cáo; Đương sự;
- Lưu: Hồ sơ + Văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Đỗ Quốc Huy
Tải về
Bản án số 15/2022/HS-ST Bản án số 15/2022/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất