Bản án số 65/2026/HNGĐ-PT ngày 09/10/2026 của TAND TP. Cần Thơ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 65/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 65/2026/HNGĐ-PT ngày 09/10/2026 của TAND TP. Cần Thơ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 65/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/10/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị Ly khởi kiện yêu cầu ly hôn và nuôi con
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 65/2026/HNGĐ-PT Bản án số 65/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 65/2026/HNGĐ-PT Bản án số 65/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂNCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN THƠĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 65/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 09 - 10 - 2026
V/v: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tôn Thị Thanh Thúy
Các Thẩm phán:1. Ông Võ Thái Sơn.
2. Bà Trịnh Thị Bích Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Kim Mộc Nam - Thư ký viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 10 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố
Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2026/TLPT-HNGĐ, ngày
14 tháng 9 năm 2026, về việc: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”.
Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 216/2026/HNGĐ-ST, ngày 01
tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1815/2025/QĐ-PT,
ngày 17 tháng 9 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Mai L, sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp H, xã H,
thành phố Cần Thơ. Căn cước công dân số: ************, do Cục cảnh sát quản
lý hành chính và trật tự xã hội cấp ngày 26/4/2021 (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Trương Văn H, sinh năm 1989. Địa chỉ: ấp H, xã H, thành
phố Cần Thơ. Căn cước công dân số: ************, do Cục cảnh sát quản lý
hành chính và trật tự xã hội cấp ngày 01/9/2021 (có mặt).
- Người kháng cáo: bị đơn anh Trương Văn H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Nguyên đơn chị Đinh Thị Mai L trình bày: Chị và anh Trương Văn H tự
nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2010, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung
2
sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu
thuẫn là bất đồng ý kiến, dẫn đến vợ chồng thường xuyên tranh cãi, không còn
quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, hôn nhân không hạnh phúc. Do đó, vợ chồng đã
sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Về con chung: Có 02 con chung là cháu
Trương Đinh Thái K, sinh ngày 12 tháng 4 năm 2011 và cháu Trương Đinh Thái
H1, sinh ngày 07 tháng 4 năm 2015. Hiện các con do chị L trực tiếp nuôi dưỡng.
Nay chị L yêu cầu Tòa án giải quyết: cho chị được ly hôn với anh H; yêu cầu trực
tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con; về tài
sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đề cập đến.
- Bị đơn anh Trương Văn H trình bày: Anh và chị Đinh Thị Mai L tự
nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2010, có đăng ký kết hôn. Quá trình sống
chung, vợ chồng không phát sinh mâu thuẫn gì trầm trọng, bản thân anh luôn
chăm lo làm ăn, quan tâm, chăm sóc gia đình. Do đó, anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung anh thống nhất có 02 con chung là cháu Trương Đinh Thái K, sinh
ngày 12 tháng 4 năm 2011 và cháu Trương Đinh Thái H1, sinh ngày 07 tháng 4
năm 2015. Hiện các con chung đều đã lớn, đủ nhận thức nên việc các con chung
sống với ai thì anh tôn trọng ý kiến của các con.Về tài sản chung, nợ chung:
Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại các biên bản ghi nhận ý kiến con chung cùng ngày 06/5/2026, các con
chung của chị L, anh H là cháu Trương Đinh Thái K và Trương Đinh Thái H1
đều trình bày nguyện vọng muốn sống chung với mẹ.
Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 216/2025/HNGĐ-ST ngày
01/7/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 13 - Cần Thơ đã quyết định:
Áp dụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 56,
81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 24,
điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đinh Thị Mai L.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị Mai L được ly hôn với ông Trương
Văn H.
- Về con chung: Chị Đinh Thị Mai L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02
(hai) con chung là Trương Đinh Thái K, sinh ngày 12 tháng 4 năm 2011 và
Trương Đinh Thái H1, sinh ngày 07 tháng 4 năm 2015; anh Trương Văn H không
phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Đinh Thị Mai L cùng các thành viên trong gia đình
không được cản trở ông Trương Văn H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, không xem xét.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm và thông báo
quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
3
Ngày 01/7/2026 anh Trương Văn H kháng cáo toàn bộ bản án số
216/2026/HNGĐ - ST ngày 01/7/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 13 - Cần
Thơ yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng
không chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Thị Mai L, để tạo điều kiện cho vợ chồng
tiếp tục mối quan hệ hôn nhân, với lý do vợ chồng anh không xảy ra mâu thuẫn gì
trầm trọng, bản thân anh luôn thương yêu vợ và chăm lo làm ăn; hiện 02 con còn
quá nhỏ ly hôn sẽ ảnh hưởng đến tâm lý, cũng như việc học hành của các con.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn giữ nguyên
kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ
án.
Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân thành phố Cần Thơ phát biểu
ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của
những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Đồng thời, phát
biểu quan điểm của Viện kiểm sát về tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo và
đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự giữ
nguyên bản án sơ thẩm số 216/2026/HNGĐ - ST ngày 01/7/2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 13 - Cần Thơ theo hướng không chấp nhận kháng cáo của anh
Trương Văn H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các
chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến phát biểu và đề nghị
của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Người kháng cáo, nội dung và hình thức đơn kháng cáo,
thời hạn kháng cáo anh Trương Văn H nộp là đúng theo quy định tại các Điều
271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên kháng cáo của anh H là
hợp lệ và đúng theo luật định.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn
chị Đinh Thị Mai L vắng mặt. Xét thấy, nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp
lệ lần hai và cũng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử
căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn.
[3] Về nội dung vụ án: Chị Đinh Thị Mai L và anh Trương Văn H tự
nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn nên hôn nhân giữa chị L và anh H là hợp
pháp. Chị L khởi kiện yêu cầu ly hôn là đúng quy định tại Điều 56 của Luật Hôn
nhân và gia đình. Cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá chứng cứ và quyết định cho
chị L được ly hôn với anh H; về con giao các con cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng
theo yêu cầu của chị L và nguyện vọng của các con, do các con trên 07 tuổi.
Không đồng ý với quyết định trên nên anh H kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm
xem xét không chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L.
[4] Xét kháng cáo của anh Trương Văn H yêu cầu không chấp nhận yêu
cầu ly hôn của chị Đinh Thị Mai L, anh H cho rằng giữa vợ chồng không có mâu
4
thuẫn trầm trọng, trong cuộc sống anh vẫn yêu thương vợ con, hiện nay các con
còn nhỏ nếu ly hôn sẽ ảnh hưởng đến tâm lý, cũng như việc học hành của các
con. Xét thấy, hôn nhân giữa Đinh Thị Mai L và anh Trương Văn H là hợp pháp.
Tuy nhiên, sau thời gian kết hôn và chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn
làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, không có tiếng nói chung nên
vợ chồng cũng đã sống ly thân với nhau từ năm 2021. Anh H cho rằng mâu thuẫn
vợ chồng không trầm trọng, anh còn thương vợ nên không muốn ly hôn mà muốn
hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị L không đồng ý. Trong quá trình giải quyết
vụ án Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã triệu tập các đương sự để tiến hành hòa giải
động viên vợ chồng chị L, anh H đoàn tụ để về chung sống với nhau vun đắp
hạnh phúc gia đình nhưng các bên không tham gia và anh H cũng không có giải
pháp nào để thuyết phục chị L quay về chung sống với anh. Tại phiên tòa sơ thẩm
anh H cũng thừa nhận từ năm 2021 thì chị L đã đi Bình Dương làm rất ít về, các
con thì sống với ngoại và anh cũng cho rằng tình cảm vợ chồng cũng nhạc phai.
Từ đó cấp sơ thẩm xác định vợ chồng anh H không còn chung sống với nhau,
không quan tâm, yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau mà bỏ mặc vợ,
chồng để sống ly thân nên cho chị L được ly hôn với anh H là có căn cứ, đúng
quy định pháp luật. Do quan hệ hôn nhân không thể bắt nguồn từ một phía mà
phải có sự đồng cảm và thống nhất của cả vợ và chồng, nay chị L cương quyết ly
hôn. Anh H kháng cáo không đồng ý ly hôn nhưng cũng không cung cấp được tài
liệu, chứng cứ chứng minh vợ chồng có thể đoàn tụ, chung sống hạnh phúc nên
Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để xem xét yêu cầu của ông H.
[5] Về con chung: Chị L yêu cầu được nuôi con và nguyện vọng của các
con muốn sống với mẹ khi ly hôn. Xét thấy, khi vợ chồng còn chung sống, cũng
như khi ly thân thì các con chung của chị L, anh H đều do chị L nuôi dưỡng bên
nhà ngoại và hiện nay cuộc sống các cháu ổn định. Mặc dù, chị L đi làm ăn xa
nhưng các cháu được gửi cho ngoại và chị L đi làm chu cấp tiền để lo cho các
con. Đồng thời, các con chung đều có nguyện vọng muốn sống chung với mẹ nên
Hội đồng xét xử đã giao các cháu cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng và không buộc
anh H phải cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Do chị L
có đủ khả năng và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nên Hội đồng sơ thẩm không
buộc anh H cấp dưỡng là có căn cứ.
[6] Như đã phân tích trên thì thấy rằng đề nghị của vị đại viện Viện kiểm
sát áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Giữ nguyên bản án sơ
thẩm số 216/2026/HNGĐ - ST ngày 01/7/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 13 -
Cần Thơ là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của anh H không được chấp
nhận nên anh H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1
Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Vì các lẽ trên;
5
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 và khoản 6 Điều 313 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Trương Văn H. Giữ
nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 216/2026/HNGĐ-ST, ngày 01 tháng
7 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Cần Thơ, như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đinh Thị Mai L.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Mai L được ly hôn với anh Trương
Văn H.
- Về con chung: Chị Đinh Thị Mai L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02
(hai) con chung là Trương Đinh Thái K, sinh ngày 12 tháng 4 năm 2011 và
Trương Đinh Thái H1, sinh ngày 07 tháng 4 năm 2015; anh Trương Văn H không
phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Đinh Thị Mai L cùng các thành viên trong gia đình
không được cản trở ông Trương Văn H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, không xem xét.
2. Về án phí sơ thẩm: Chị Đinh Thị Mai L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí đã nộp
là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006733 ngày 13 tháng
4 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố C thành án phí, không ai phải nộp
thêm.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn anh Trương Văn H phải chịu
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án
phí đã nộp theo Biên lai thu số: 0000036, ngày 01/7/2026 của Thi hành án dân sự
thành phố Cần Thơ. Như vậy, bị đơn anh Trương Văn H đã nộp xong án phí phúc
thẩm.
4. Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND KV13-Cần Thơ;
- VKSND KV13-Cần Thơ;
- PTHADS KV13-Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu TGĐ&NCTN, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Tôn Thị Thanh Thúy
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 65/2026/HNGĐ-PT Bản án số 65/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 65/2026/HNGĐ-PT Bản án số 65/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất