Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 05/07/2024 của TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 14/2024/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 05/07/2024 của TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND TP. Vĩnh Yên (TAND tỉnh Vĩnh Phúc) |
Số hiệu: | 14/2024/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 05/07/2024 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Đỗ Thị Bích H, Nguyễn Châu T, Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 14/2024/HNGĐ -ST
Ngày 05 tháng 7 năm 2024
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
và chia tài sản chung”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đường.
Các Hội thẩm Nhân dân: Ông Bùi Thanh Bình và bà Bùi Thị Thu Hằng
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Linh – Thư ký Tòa án Nhân dân
thành phố Vĩnh Yên.
Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án Nhân dân thành phố Vĩnh
Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2023/TLST-
HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2023, về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con và
chia tài sản chung ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số:67/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Bích H, sinh năm 1977; (có mặt).
Bị đơn: Anh Nguyễn Châu T, sinh năm 1972 (vắng mặt);
Đều ở địa chỉ: Số 69, đường Đoàn Thị Điểm, khu hành chính 2, phường
Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 16 tháng 11 năm 2020 và những lời khai
tiếp theo nguyên đơn chị Đỗ Thị Bích H trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn
Châu T ngày 19/3/2002 trên cơ sở tự nguyện được đăng ký kết hôn tại Ủy ban
nhân dân xã Xuân Lôi, huyện Lập Thạch. Sau khi kết hôn vợ chồng ở tại xã
Xuân Lôi một thời gian, đến năm 2003 vợ chồng về ở với bố mẹ chị H ở phường
1

Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên và đến năm 2009 vợ chồng làm nhà ở riêng. Quá
trình chung sống thời gian đầu tình cảm vợ chồng hạnh phúc, đến cuối năm
2015 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất
đồng quan điểm trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày nên vợ chồng thường
xuyên cãi nhau. Mặt khác anh T có quan hệ với người phụ nữ khác từ năm 2017,
thường xuyên qua đêm ở ngoài không về nhà, vợ chồng nhiều lần xô sát với
nhau, có lần anh T đánh chị vào mặt chị phải điều trị một thời gian mới khỏi. Vợ
chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ
chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Bị đơn anh Nguyễn Châu T tại phiên tòa vắng mặt nhưng tại bản tự khai
và biên bản hòa giải anh T trình bày: Anh xác nhận thời gian kết hôn, quá trình
chung sống và thời gian mâu thuẫn như chị H trình bày là đúng. Nguyên nhân
mâu thuẫn là do chị H thường xuyên tụ tập bạn bè, bỏ bê và không quan tâm,
chăm lo cho gia đình. Năm 2015 chị H có quan hệ với người đàn ông khác, dẫn
đến vợ chồng hay cãi nhau, vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Tại
biên bản hòa giải anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly
hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 2 con chung là Nguyễn Thị Thùy D, sinh
ngày 01/2/2003 và cháu Nguyễn Trường G, sinh ngày 25/12/2007. Hiện nay
cháu D đã thành niên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ly hôn chị H và
anh T đều yêu cầu được nuôi được nuôi cháu G nếu ai được nuôi con đều không
yêu cầu phía bên kia cấp dưỡng nuôi con.
Hiện nay chị H đang làm cán bộ tại Chi nhánh Điện Lực Tam Dương thu
nhập trung bình là 12.000.000đ/ tháng. Anh T là cán bộ tại chi nhánh điện lực
thành phố Vĩnh Yên, anh T không cung cấp thu nhập của anh cho Tòa án.
Về tài sản chung: Theo chị H trình bày vợ chồng có tài sản là 113 m
2
đất
và 01 ngôi nhà xây 3 tầng 1 tum trên đất có địa chỉ: Số 69, Đoàn Thị Điểm,
phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên; 01 kiot tại chợ tổng, mua đầu thầu đến
năm 2028 ; 01 xe ô tô Fortuner, biển kiểm soát 88A- 22546, đăng ký xe đứng
tên anh Nguyễn Châu T. Khi vợ chồng mua đất bố mẹ chị cho 140.000.000đ, bố
mẹ anh T cho 50.000.000đ, vợ chồng vay Ngân hàng Hàng Hải 150.000.000đ
2

vay năm 2006, vợ chồng cùng trả gốc và lãi cho Ngân hàng. Đến năm 2009 vợ
chồng xây dựng nhà 3 tầng 1 tum trên đất.
Theo anh T vợ chồng có tài sản chung là 01 nhà 3 tầng 1 tum và 01 kiot
tại chợ Tổng, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên.
Anh T xác nhận chiếc xe ô tô Fortuner và diện tích 113 m
2
đất là tài sản
riêng của anh, khi mua xe ô tô bố mẹ anh đứng ra mua, em gái anh đứng ra vay
tiền của Ngân hàng để mua. Đối với diện tích đất 113 m
2
mua năm 2006, nguồn
tiền mua đất là do vợ chồng vay tiền của Ngân hàng Hàng Hải. Khi vay tiền cho
H có ký vào hợp đồng tín dụng, việc trả gốc và trả lãi chủ yếu là do anh trả, chị
H có đóng góp nhưng chỉ một phần nhỏ.
Về công nợ: Anh T, chị H đều xác nhận vợ chồng không nợ ai tài sản gì.
Ly hôn chị H đề nghị chia đôi tài sản chung của vợ chồng, chị đề nghị
được sử dụng nhà và đất để anh T sở hữu chiếc xe ô tô và 01 kiôt nếu có chênh
lệch tài sản chị sẽ thanh toán cho anh T theo nguyên tắc ½ tài sản.
Anh T không đồng ý chia tài sản là nhà và đất và 01 kiot tại chợ Tổng,
thành phố Vĩnh Yên mua đấu thầu đến năm 2028, các tài sản này khi nào cháu G
đủ 18 tuổi vợ chồng sẽ tặng cho cháu D và cháu G.
Về công sức: Chị H và anh T đều xác nhận vợ chồng có 5 năm ở chung
với bố mẹ chị H, trong thời gian này vợ chồng không cùng gia đình tạo lập được
tài sản gì. Ly hôn anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết Tòa án đã đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định
giá tài sản ngày 26/7/2023 đối với thửa đất số 28, tờ bản đồ QH, diện tích:
113m
2
và tài sản trên đất là 01 nhà 3 tầng, 1 tum; địa chỉ: Số 69 đường Đoàn Thị
Điểm, khu hành chính 2, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh
Phúc, theo giấy chứng nhận QSDĐ mang tên anh Nguyễn Châu T. Kết quả định
giá tài sản, Quyền sử dụng đất là 28.000.000đ/m
2
x 113 m
2
= 3.164.000.000đ
;
01 nhà 3 tầng, 1 tum có giá là 378.000đ/m
2
x 389m
2
= 147.042.000đ; 01 kiot số
6, diện tích 7,5 m
2
thời hạn thuê 25 năm (từ ngày 01/2/2003, giá trị thuê 25 năm
là 35000.000đ) đến ngày 29/6/2024, thời hạn thuê còn lại là 4 năm, giá trị thuê 4
năm là 5.600.000đ. Đối với chiếc xe ô tô Fortuner, anh T quản lý, sử dụng, Tòa
án đã gửi thông báo cho anh T về việc thẩm định tài sản và định giá chiếc xe ô
3

tô, tuy nhiên khi Tòa án cùng chính quyền địa phương và Hội đồng định giá đến
làm việc thì anh T vắng mặt, anh T không để chiếc xe ô tô trên ở nhà nên Hội
đồng định giá không định giá được đối với chiếc xe ô tô.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đỗ Thị Bích H vẫn giữ nguyên quan điểm
và yêu cầu như đã trình bày nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên phát biểu quan
điểm: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử và
Thư ký đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật về
tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã
thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng
xét xử áp dụng các Điều 33, 37, 51, 56, 57, 58, 59, 62, 81, 82 và Điều 83 của
Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về nghĩa vụ nộp án phí đề
nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Xử: cho chị Đỗ Thị Bích H được ly
hôn anh Nguyễn Châu T; về con chung: Giao cháu Nguyễn Trường G, sinh ngày
25/12/2007 cho chị Đỗ Thị Bích H trực tiếp, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T không
phải cấp dưỡng nuôi con chung;
Về tài sản chung của chị H và anh T gồm: Diện tích 113 m
2
đất tại thửa
số 28, tờ bản đồ QH và tài sản trên đất là 01 nhà 3 tầng 01 tum; địa chỉ: Số 69
Đoàn Thị Điểm, khu hành chính 2, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên; 01
kiot thuê tại chợ Tổng, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên.
Về chiếc xe ô tô fortuner anh T xác định là tài sản riêng của anh, chị H
xác định là tài sản chung của vợ chồng: Chị H đề nghị Tòa án đã thu thập tài
liệu, chứng cứ tại Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Vĩnh Phúc được cung
cấp chiếc xe ô tô trên anh T mua tháng 10/2018 mua sau thời kỳ chị H và anh T
sống ly thân (năm 2017). Qúa trình giải quyết vụ án anh T không hợp tác nên
Hội đồng định giá chưa định giá được chiếc xe ô tô trên, ngoài ra chị H không
cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh về việc mua chiếc xe ô tô trên thời
gian nào, mua của ai, nguồn tiền để mua chiếc xe ô tô trên nên chưa có căn cứ
để xác định chiếc xe ô tô là tài sản chung của vợ chồng.
4

Đối với diện tích đất 113 m
2
, trên đất có 1 nhà 3 tầng 1 tum về nhà và đất
trên không thể phân chia được cho 2 người cùng sở hữu, sử dụng mà chỉ có thể
phân chia cho một trong 2 người sở hữu, sử dụng. Hiện nay chị H yêu cầu được
nuôi cháu G và cháu G cũng có nguyện vọng ở với chị H. Do đó cần giao nhà và
đất trên cho chị H quản lý, sử dụng để chị nuôi con, giao cho anh T 01 kiot tại
chợ Tổng, chị H phải thanh toán chênh lệch tài sản cho anh T theo nguyên tắc ½
giá trị tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn và nuôi con
và chia tài sản chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành
phố Vĩnh Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Qúa trình giải quyết vụ án Tòa án triệu tập phiên tòa nhiều
lần nhưng bị đơn đều vắng mặt, nhiều lần làm đơn xin hoãn phiên tòa. Xét thấy
lý do hoãn phiên tòa của bị đơn là để giải quyết công việc gia đình và không
đồng ý xét xử vì ảnh hưởng đến tâm lý học tập của các cháu không được Hội
đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ
luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Bích H và anh Nguyễn Châu T kết
hôn trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn, đây là cuộc
hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Quá trình chung sống thời gian
đầu vợ chồng hòa thuận, đến năm 2015 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên
nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống và sinh hoạt hàng
ngày nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mặt khác giữa chị H và anh T đều
nghi ngờ nhau về việc có quan hệ không đúng mực với người khác dẫn đến vợ
chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Tại biên bản hòa giải ngày
30/6/2023 anh T và chị H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị H xin
ly hôn anh T đồng ý. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã căng thẳng, đời
5

sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần
chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh T
[3.1] Về con chung: Anh chị có hai con chung là Nguyễn Thị Thùy D,
sinh ngày 01/2/2003 và cháu Nguyễn Trường G, sinh ngày 25/12/2007. Hiện
nay cháu D đã thành niên cháu ở với ai là do cháu quyết định. Ly hôn chị H và
anh T đều yêu cầu được nuôi cháu G và đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu được nuôi con và chăm sóc con chung của chị H và anh T
thấy rằng anh chị đều có công việc ổn định, có thu nhập đảm bảo việc nuôi con.
Tòa án đã lấy lời khai của cháu G nguyện vọng của cháu khi bố mẹ ly hôn xin
được ở với mẹ. Do đó cần giao cháu G cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp
dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[3.2] Về tài sản chung:
Chị H trình bày tài sản chung của vợ chồng gồm: 113 m
2
đất tại số 69
Đoàn Thị Điểm, khu hành chính 2, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên và 01
ngôi nhà 3 tầng 1 tum xây dựng trên đất, 01 kiot thuê tại chợ Tổng, phường Liên
Bảo, thành phố Vĩnh Yên thuê đến năm 2028; 01 xe ô tô Fortuner 07 chỗ hiện
anh T đang quản lý, sử dụng. Chị H yêu cầu chia tài sản và xin sở hữu, sử dụng
nhà và đất để anh T sở hữu 01 xe ô tô và 01 kiot tại chợ Tổng, nếu có chênh lệch
tài sản sẽ thanh toán theo nguyên tắc 1/2 giá trị tài sản.
Tại biên bản hòa giải anh T trình bày tài sản chung của vợ chồng gồm: 01
nhà 3 tầng một tum, 01 kiot tại chợ Tổng, còn chiếc xe ô tô và 113 m
2
đất tại địa
chỉ số 69 Đoàn Thị Điểm, khu hành chính 2, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh
Yên là tài sản riêng của anh không phải là tài sản chung của vợ chồng. Anh T
không đồng ý chia tài sản là nhà và 01 kiot, đối với các tài sản này khi nào cháu
G đủ 18 tuổi vợ chồng sẽ tặng cho cháu D và cháu G.
Xét lời trình bày của anh T và chị H thấy rằng: Anh T và chị H đều xác
nhận năm 2006 vợ chồng mua 113 m
2
đất tại địa chỉ: Số 69 Đoàn Thị Điểm, khu
hành chính 2, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, khi mua đất vợ chồng có
vay tiền của Ngân hàng Hàng Hải và vợ chồng cùng trả tiền gốc và tiền lãi cho
Ngân hàng. Do đó tài sản trên được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và vợ
6

chồng cùng trả tiền gốc và lãi cho Ngân hàng. Anh T không cung cấp được tài
liệu, chứng cứ gì để chứng minh đối với 113 m
2
đất là tài sản riêng của anh.
Đối với chiếc xe ô tô Fortuner, biển kiểm soát 88A- 22546 anh T xác định
là tài sản riêng của anh, chị H xác định là tài sản chung của vợ chồng, hiện nay
anh T là người quản lý, sử dụng chiếc xe ô tô. Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ
tại Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Vĩnh Phúc được cung cấp: Chiếc xe
ô tô trên anh T mua tháng 9/2018 mua sau thời kỳ chị H và anh T sống ly thân
(năm 2017). Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi thông báo cho anh T về
việc thẩm định tài sản và định giá chiếc xe ô tô, tuy nhiên khi Tòa án cùng chính
quyền địa phương và Hội đồng định giá đến làm việc thì anh T vắng mặt và
không để chiếc xe ô tô trên ở nhà nên Hội đồng định giá không định giá được
đối với chiếc xe ô tô. Chị H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ, chứng
minh về thời gian mua chiếc xe ô tô, số tiền mua xe ô tô, nguồn tiền để mua
chiếc xe ô tô. Do đó chưa có căn cứ để xác định chiếc xe ô tô trên là tài sản
chung của chị H và anh T. Để đảm bảo việc giải quyết vụ án được triệt để, yêu
cầu chia chiếc xe ô tô trên của chị H không được xem xét giải quyết trong vụ án
này. Sau này chị H cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh chiếc xe ô tô
trên là tài sản chung của vợ chồng thì chị H có quyền khởi kiện chia tài sản là
chiếc xe ô tô trên bằng một vụ án khác.
Vì vậy tài sản chung của chị Đỗ Thị Bích H và anh Nguyễn Châu T gồm
có: Diện tích 113 m
2
đất tại thửa đất số 28, tờ bản đồ QH và tài sản trên đất là 01
nhà 3 tầng một tum có địa chỉ tại: Số 69, đường Đoàn Thị Điểm, khu hành chính
2, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; 01 kiot thuê tại chợ
Tổng, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên có trị giá thuê đến năm 2028.
Xét yêu cầu chia tài sản của chị H thấy rằng: Đối với nhà và đất trên chỉ
có thể giao được cho một trong hai bên sở hữu, sử dụng không thể phân chia cho
cả hai người cùng sở hữu, sử dụng được. Khi vợ chồng ly hôn cháu G xin được
ở với chị H nên chị H cần có chỗ ở ổn định để nuôi con. Mặt khác chị H là phụ
nữ việc tạo lập tài sản sẽ gặp khó khăn hơn so với anh T. Vì vậy cần giao cho chị
H sở hữu, sử dụng tài sản là diện tích đất 113 m
2
có trị giá theo định giá là
3.164.000.000đ và 01 nhà 3 tầng một tum có diện tích sử dụng là 389 m
2
có trị
7

giá là 147.042.000đ, tổng trị giá tài sản giao cho chị H có trị giá là
3.311.042.000đ. Về 01 kiot ở chợ Tổng, phường Liên Bảo có giá trị thuê đến
năm 2028, đến tháng 6/2024 giá trị thuê còn lại 4 năm là 5.600.000đ, nên cần
giao kiot trên cho anh T quản lý, sử dụng. Tổng trị giá các tài sản của chị H, anh
T là (3.311.042.000đ +5.600.000đ)= 3.316.642.000đ: 2 = 1.658.321.000đ. Chị H
có trách nhiệm thanh toán chênh lệch tài sản cho anh T là (1.658.321.000đ –
5.600.000đ) =1.652.721.000đ
Về công nợ: Chị H và anh T đều xác nhận vợ chồng không nợ ai tài sản
gì.
Về công sức: Chị H và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ và không yêu cầu
Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí chia tài sản;
anh T phải chịu án phí chia tài sản theo quy định. Đối với yêu cầu chia tài sản là
chiếc xe ô tô của chị H không được Tòa án chấp nhận, tuy nhiên do không định
giá được chiếc xe ô tô nên không tính được án phí đối với yêu cầu này.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn
cứ, được xem xét khi quyết định.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, khoản 2, 3, 5 Điều 59, 81, 82 và Điều 83
của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 4
Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Cho chị Đỗ Thị Bích H được ly hôn anh Nguyễn Châu T
1.1. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trường G, sinh ngày 25/12/2007
cho chị Đỗ Thị Bích H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Nguyễn
Châu T không phải cấp dưỡng nuôi con.
8

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà
không ai được cản trở.
1. 2. Về tài sản: Chấp nhận một phần yêu cầu chia tài sản chung của chị
Đỗ Thị Bích H:
- Giao cho chị Đỗ Thị Bích H sở hữu, sử dụng: Diện tích 113 m
2
đất tại
thửa số 28, tờ bản đồ QH và tài sản trên đất là 01 nhà 3 tầng một tum có các
chiều cạnh như biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 27/6/2023 (có sơ đồ
kèm theo); địa chỉ: Số 69 Đoàn Thị Điểm, khu hành chính 2, phường Liên Bảo,
thành phố Vĩnh Yên có tổng trị giá là 3.311.042.000đ (Ba tỷ ba trăm mười một
triệu không trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
- Giao cho anh T quản lý, sử dụng 01 kiot thuê tại chợ Tổng, phường Liên
Bảo, thành phố Vĩnh Yên có trị giá thuê đến năm 2028, đến tháng 6/2024 giá trị
thuê còn lại là 5.600.000đ (Năm triệu sáu trăm nghìn đồng).
- Chị Đỗ Thị Bích H có trách nhiệm thanh toán chênh lệch tài sản cho anh
Nguyễn Châu T số tiền là 1.652.721.000đ (Một tỷ sáu trăm năm mươi hai triệu
bẩy trăm hai mươi mốt nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người
phải thi hánh án không thanh toán khoản tiền nêu trên thì người phải thi hành án
còn phải chịu tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất là 10%/ năm.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
của Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi một số điều của Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9
của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
1.3. Về chi phí tố tụng : Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
1.4. Về án phí: Chị Đỗ Thị Bích H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn
đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 61.749.630đ án phí chia tài sản, tổng cộng là
62.049.630đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 21.300.000đ theo
9

biên lai thu tiền số: 0004823 ngày 01/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự
thành phố Vĩnh Yên, chị H còn phải nộp tiếp số tiền án phí là 40.749.630đ, làm
tròn 40.749.000đ (Bốn mươi triệu bẩy trăm bốn mươi chín nghìn đồng).
Anh Nguyễn Châu T phải chịu án phí chia tài sản là 61.749.630đ, làm
tròn 61.749.000đ (Sáu mươi mốt triệu bẩy trăm bốn mươi chín nghìn đồng).
2. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm
yết.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân TP Vĩnh Yên;
- Chi cục THADS thành phố Vĩnh Yên;
- Các đương sự ;
- UBND Xuân Lôi (ĐKKH năm 2002);
- Lưu: Hồ sơ vụ án; Văn phòng.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Thị Đường
10
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 31/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 13/03/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm