Bản án số 14/2021/DS-PT ngày 14/01/2021 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 14/2021/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 14/2021/DS-PT ngày 14/01/2021 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 14/2021/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/01/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị Xuân L. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chung.
Các Thẩm phán: Ông Y Phi Kbuôr, ông Hoàng Kim Khánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Trần Thị Xuân Linh Byă - Kiểm sát viên
Ny 14 tháng 01 m 2021, tại tr sở Tòa án nn n tỉnh Đắk Lk t xử
phúc thẩmng khai vụ án n sự phúc thẩm thụ số: 262/2020/TLPT- DS ngày 12
tháng 11 m 2020 về việcTranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số: 19/2019/DS - ST ngày 27/8/2020 của Tòa án
nhân dân huyện Krông Búk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 293/2020/QĐ - PT ngày
24/12/2020 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ (có mặt), bà Lê Thị Xuân L (vắng mặt);
địa chỉ: Thôn X, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk;
Người đại diện theo y quyền của Thị Xuân L: Ông Nguyễn Văn Đ;
địa chỉ: Thôn X, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
* Bđơn: Ông Trương Đăng S; địa chỉ: Thôn E, P, huyện K, tỉnh Đắk
Lắk; vắng mặt.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị T; địa chỉ: Thôn
E, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 14/2020/DSPT
Ngày 14 01 2021
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trương Đăng S và người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T anh Krương Đăng Phú N; địa
chỉ: Thôn E, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
* Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn H; địa chỉ: Thôn Đ, C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;
mặt.
2. Ông Nguyễn Nhân D; địa chỉ: Thôn Y, P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk;
mặt.
3. Ông Lê Minh A; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị Xuân L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ, Lê Thị Xuân L trình bày:
Vào năm 2007, gia đình tôi gia đình anh K (quán M) liền kề với thửa đất
của gia đình tôi) có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn H 01 lô đất có diện
tích là 480m
2
tại đại chỉ: Thôn E, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, đấtnguồn gốc là
do ông H nhận chuyển nhượng từ ông Trương Đăng S tứ cận: Phía Đông
phía Nam giáp với đất ông Trương Đăng S; phía Tây giáp đất ông C; phía Bắc giáp
đường. Trong đó vợ chồng tôi và vợ chồng anh K mỗi bên nhận chuyển nhượng từ
ông H 06m chiều ngang. Khi chuyển nhượng chúng tôi đã bàn bạc tại nhà ông S
để xác định ranh giới, cột mốc ràng đối với phần giáp ông S, chiều ngang
theo mặt đường tỉnh lộ 8 là 12m, kéo vuông góc. Theo trích lục bản đồ và theo tính
toán thì thửa đất mà vợ chồng tôi nhận chuyển nhượng có diện tích là 6 x (40 + 44)
: 2 = 252m
2
. Ngày 14/9/2007, vợ chồng tôi được UBND huyện K cấp GCNQSD
đất số H 06435 đối với thửa đất số 270, tờ bản đồ số 05 diện tích 255m
2
, việc
sai lệch 3m
2
so với GCNQSD đất là do tính toán của hai thửa đất này.
Trong quá trình sử dụng thì gia đình tôi chưa xây dựng nhay công trình
kiên cố trên đất, đến khoảng tháng 4/2019 chúng tôi tiến hành rào lại hàng rào và
đổ vật liệu xây dựng để dựng nhà cho con cái ở. Trong lúc tiến hành rào thì ông
Trương Đăng S đã ngăn cảm không cho gia đình tôi rào để xây dựng dẫn đến tranh
chấp. Ông S cho rằng chiều ngang thửa đất của gia đình chúng tôi theo mặt
đường tỉnh lộ 8 chứ không phải là kéo vuông góc. Tuy nhiên nếu chiều ngang thửa
đất tính theo mặt đường tỉnh lộ 8 thì diện tích đất của gia đình tôi sẽ bị thiếu so với
diện tích đã được cấp nên gia đình tôi yêu cầu UBND P a giải nhưng không
thành. Theo biên bản hòa giải ngày 04/7/2019 của UBND P đã xác định phần
3
diện tích thực tế so với GCNQSD đất của gia đình tôi bị giảm là khoảng 24m
2
. Tuy
nhiên, sau khi kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án thì tôi xác định
diện tích tranh chấp 24,5m
2
. Do đó, tôi khởi kiện đề nghị Tòa án xác định chiều
ngang thửa đất của tôi phải kéo vuông góc chứ không phải o theo mặt đường,
công nhận diện tích 24,5m
2
đang tranh chấp thuộc quyền sở hữu hợp pháp của
gia đình tôi buộc ông Trương Đăng S phải trả lại đủ cho tôi diện tích đúng như
trong GCNQSD đất là 255m
2
.
Về hàng rào ranh giới trước đây chôn cọc nhưng gia đình ông S đã nhổ
nên không xác định được nên đề nghị Tòa án xác định lại ranh giới kéo vuông
góc mới đúng như thỏa thuận và diện tích của gia đình tôi.
Về các cạnh của thửa đất thì các bên không tranh chấp, chỉ tranh chấp về các
đo đạc chiều nang của thửa đất theo đường tỉnh lộ 8.
- Bị đơn và đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Gia đình tôi trước đây có chuyển nhượng cho gia đình ông C 10m ngang đất
gia đình ông Nguyễn Văn H 12m ngang đất tính theo đường tỉnh lộ 8. Sau đó
ông H đã chuyển nhượng lại cho gia đình ông Đ, L 06m chiều ngang gia
đình ông K (quán M) 06m chiều ngang đều tính theo mặt đường tỉnh lộ 8. Khi ông
Đ đến thửa đất dựng rào để xây dựng thì gia đình tôi không đồng ý không
cho phép dựng rào theo ý ông Đ bởi lẽ: gia đình tôi không đồng ý việc ông Đ xác
định kích thước là đo kéo vuông góc, vì khi chuyển nhượng với gia đình ông H thì
gia đình tôi chỉ bán theo mặt đường chứ không mua bán vuông góc, các trích lục
bản đồ đề thể hiện chuyển nhượng theo mặt đường chứ không thể hiện chuyển
nhượng vuông góc. Việc diện tích trong GCNQSD đất sai so với diện tích đất thực
tế của gia đình ông Đ là do tính toán sai.
Ngoài ra, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì gia đình tôi không
chuyển nhượng đất cho ông Đ, bà L ông Đ, L nhận chuyển nhượng từ ông
Nguyễn Văn H nên tranh chấp thì đề nghị ông Đ gặp ông H để làm rõ, khi
chuyển nhượng đất cho ông H, gia đình tôi chuyển nhượng cho ông H theo mặt
đường tỉnh lộ 8 chứ không chuyển nhượng theo cách đo vuông góc như ông Đ,
L khởi kiện.
Về cọc mốc ranh giới bây giờ không xác định được đề nghị Tòa án căn cứ
vào các tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Người làm chứng ông Nguyễn Văn H trình bày: Trước đây gia đình tôi
nhận chuyển nhưng từ gia đình ông Trương Đăng S 01 đất tại thôn E, P,
huyện K. Sau đó khoảng 3 năm thì tôi chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn Đ.
4
Tại thời điểm nhận chuyển nhượng không ranh giới ràng hai bên thỏa
thuận chiều ngang mặt trước là 12m theo chiều mặt đường tỉnh lộ 8, mặt sau
12m, không kéo vuông góc. Về tranh chấp đất thì tôi không có ý kiến gì và đề nghị
Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Người làm chứng ông Minh A trình bày: Tại thời điểm ông Trương
Đăng S và ông Nguyễn Văn H làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì
tôi người trực tiếp đứng ra đo vẽ, làm trích lục thửa đất để làm thủ tục cấp
GCNQSD đất cho ông Sông H. Khi đo đạc và kiểm tra trên thực địa để làm thủ
tục cấp GCNQSD đất thì kéo thước đo theo chiều dài mặt đường tỉnh lộ 8 chứ
không phải kéo thước đo vuông góc như ông Đ, bà L khởi kiện.
Về diện tích đo đạc và cách tính diện tích như trong trích lục bản đồ nói trên
sự nhầm lẫn, sai sót trong việc tính toán diện tích, 12m ngang và 06m ngang
trong hình vẽ không phải đường cao của hình thang cân nên việc lấy 12m hay
6m nhân với đáy lớn cộng đáy chia hai là không chính xác. Hơn nữa, việc tính toán
diện tích do đo bằng thủ công nên diện tích tính toán chỉ mang tính tương đối,
không chính xác hoàn toàn được. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định
của pháp luật.
- Người làm chứng ông Nguyễn Nhân D trình bày: Tại thời điểm ông H
chuyển nhượng đất cho ông Đ ông K, tôi công chức địa chính P trực tiếp
đến kiểm tra và làm thủ tục tách thửa cho ông Đông K. Theo GCNQSD đất của
ông Đ thì thửa đất ông Đ nhận chuyển nhượng từ ông H hình thể hình
thang nên diện tích được tính theo công thức là trung bình cộng hai cạnh đáy x
chiều cao = (45+40)/2 x 6m = 255m
2
, như vậy, chiều ngang 6m của ông Đ phải
vuông góc với đường tỉnh lộ 8 mới tính ra được diện tích 255m
2
, nếu không vuông
góc thì không thể tính được diện tích như trong GCNQSD đất nên đề nghị HĐXX
xem xét.
Tại Bản án dân sự thẩm số 19/2020/DS - ST ngày 27/8/2020 của Tòa
án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật
tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 175; Điều 176 Bộ luật dân sự; ; khoản 1 Điều
136 của Luật Đất đai năm 2003; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức
thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Bác đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ
Thị Xuân L về việc khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định cách tính chiều
ngang giáp đường tỉnh lộ 8 kéo vuông góc sang phần đát ông Trương Đăng S của
5
thửa đất số 270, tờ bản đ số 05 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
H06435 cấp ngày 14/9/2007 diện tích 255m
2
mang tên Nguyễn Văn Đ, Thị
Xuân L để đủ diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng án phí quyền
kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/9/2020, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ, Thị Xuân L đơn
kháng cáo toàn bbản án sơ thẩm, đề nghTòa án cấp phúc thẩm xét xử lại theo
quy định của pháp luật để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ vẫn giữ nguyên
nội dung đơn khởi kiện và đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm về việc
giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Các đương sự trong vụ án và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực
hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân
sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ, Thị
Xuân L, giữ nguyên bản án dân sự số 19/2020/DS ST ngày 27/8/2020 của Tòa án
nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thu thập trong hồ vụ án, kết
quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát
viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Nguồn gốc thửa đất số 270, tờ bản đồ s05 được UBND huyện K cấp
GCNQSD đất số H06435 cấp ngày 14/9/2007 diện tích 255m
2
mang tên
Nguyễn Văn Đ, Thị Xuân L nguồn gốc do ông Trương Đăng S chuyển
nhượng cho ông Nguyễn Văn H, sau đó ông H chuyển nhượng lại cho gia đình ông
Nguyễn Văn Đ và Văn Toàn, mỗi gia đình 06m chiều ngang dọc theo đường
tỉnh lộ 8. Tại trích lục bản đồ kèm theo biên bản về việc kiểm tra diện tích đất
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trương Đăng S với ông Nguyễn Văn
H cũng như tại đồ thửa đất trong GCNQSD đất cấp cho hộ ông Nguyễn Văn Đ,
Thị Xuân L đều thể hiện chiều ngang mặt đường được tính dọc theo mặt
đường tỉnh lộ 8. Ông Đ, L cho rằng các bên đã thống nhất, thỏa thuận xác định
chiều ngang được kéo vuông góc với mặt đường tỉnh lộ 8, tuy nhiên ông S không
thừa nhận, các giấy tờ chuyển nhượng giữa các bên không nội dung nào thể
hiện chiều ngang được kéo vuông góc với mặt đường tỉnh lộ 8 ông Đ, L
6
không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho trình bày của
mình. Mặt khác, ông Minh A cán bộ địa chính trực tiếp đo đạc thửa đất để
làm thủ tục cấp GCNQSD đất cho hộ ông Nguyễn Văn Đ cũng thừa nhận diện ch
đo đạc như trong trích lục bản đồ sự nhầm lẫn, sai sót trong việc tính toán
diện tích. Theo đồ thửa đất thì phần đất của ông Đ, L không phải hình
thang vuông, nhưng cán bộ địa chính lại lấy số đo cạnh chiều ngang làm chiều cao
để nhân với trung bình cộng hai cạnh chiều dài thành diện tích thửa đất sai công
thức toán học. Do đó, kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ, Thị Xuân L đề
nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xlại vụ án theo hướng chấp nhận đơn khởi kiện
của nguyên đơn là không có căn cứ để chấp nhận.
[2]. Về chi phí tố tụng án phí: Do không được chấp nhận đơn khởi kiện
và đơn kháng cáo nên nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ, Lê Thị Xuân L phải chịu
toàn bộ chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ, Thị
Xuân L.
Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 19/2020/DS ST ngày 27/8/2020 của
Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Văn Đ Thị Xuân L về việc khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định cách tính
chiều ngang giáp đường tỉnh lộ 8 kéo vuông góc sang phần đát ông Trương Đăng S
của thửa đất số 270, tbản đồ số 05 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
H06435 cấp ngày 14/9/2007 diện tích 255m
2
mang tên Nguyễn Văn Đ, Thị
Xuân L để đủ diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[2]. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn Đ, bà ThXuân L phải chịu
toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.000.000 đồng, được khấu trừ vào số
tiền tạm ứng chi phí tố tụng ông Đ, bà L đã nộp và đã chi phí xong.
[3]. Về án phí:
- Về án phí DSST: Ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị Xuân L phải chịu 300.000
đồng án phí dân sự thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án
phí đã nộp theo biên lai số AA/2017/0014308 ngày 03/9/2019 tại Chi cục Thi hành
án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
7
- Về án phí DSPT: Ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị Xuân L phải chịu 300.000
đồng án phía dân sự phúc thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng
án phí đã nộp theo biên lai số AA/2019/0011641 ngày 08/9/2020 tại Chi cục Thi
hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDCC tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND huyện Krông Búk;
- Chi cục THADS huyện K;
- Đăng Cổng TTĐT TANDTC
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
(Đã ký)
Nguyễn Văn Chung
Tải về
Bản án số 14/2021/DS-PT Bản án số 14/2021/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất