Bản án số 138/2025/DS-PT ngày 16/09/2025 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 138/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 138/2025/DS-PT ngày 16/09/2025 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 138/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH GIA LAI Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 138/2025/DS-PT
Ngày: 16 - 9 - 2025
V/v tranh chấp hụi
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Tnh phần Hội đồng xét xphúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Duy
Các Thẩm phán: Ông Đặng Chí Công
Ông Trương Nam Trung
- Thư phiên tòa: Ông Đỗ Thanh An Thư Tòa án nn dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:
Đặng Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử
phúc thẩm công khai ván thụ số 37/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 4 năm
2025 về việc Tranh chấp hụi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025
của Toà án nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định (nay là Toà án nhân dân khu vực 6
- Gia Lai) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s81/2025/QĐ-PT ngày
05 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phạm Thị L (N), sinh năm 1958; địa chỉ: Khu phố T,
phường H, tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: Khu phố T, phường T, thị H, tỉnh Bình
Định).
Đại diện hợp pháp của Phạm Thị L: Châu ThBích S, sinh m
1994, địa chỉ: Khu phố T, phường H, tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: Khu phố T,
phường T, thị H, tỉnh Bình Định) là đại diện theo y quyền (Theo hợp đồng
ủy quyền số 6972 ngày 18/12/2024 của Văn phòng công chứng H); có mặt.
- Bị đơn: Trần Thị L (A), sinh năm 1970; địa chỉ: Khu phố T, phường
H, tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: Khu phố T, phường T, thị H, tỉnh Bình Định;
mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn Trần Thị L: Ông
Hồ Thành P - Luật sư của Văn phòng luật T thuộc Đoàn luật sư tỉnh Gia Lai;
địa chỉ: 53 đường L, phường Q, tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: 53 đường L, phường H,
thành phố Q, tỉnh Bình Định); có mặt.
2
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị T, sinh năm
1967; địa chỉ: Khu phố T, phường H, tỉnh Gia Lai (địa chỉ : Khu phố T,
phường T, thị xã H, Bình Định).
Đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị T: Nguyễn Thị T1, sinh năm
1990; địa chỉ: Khu phố A, phường H, tỉnh Gia Lai (địa chỉ : Khu phố A,
phường H1, thị H, tỉnh Bình Định) là đại diện theo ủy quyền (Theo hợp đồng
ủy quyền số 045 ngày 07/02/2025 của Văn phòng công chứng H); có mặt.
- Người làm chứng:
+ Nguyễn Thị T, sinh năm 1967; địa chỉ: Khu phố T, phường H, tỉnh
Gia Lai (địa ch : Khu phố T, phường T, thị xã H, Bình Định); vắng mặt.
+ Bà Phạm Thị G, sinh năm 1964; địa chỉ: khu phố T, phường H, tỉnh Gia
Lai (địa chỉ cũ: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
+ Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm: 1964; địa chỉ: khu phố T, phường H,
tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: khu phố T, phường T, thị H, tỉnh Bình Định), vắng
mặt.
+ Ngô Thị T, sinh năm: 1969; địa chỉ: khu phố T, phường H, tỉnh Gia
Lai (địa chỉ cũ: khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định); vắng mặt.
+ Thị K, sinh năm: 1973; địa chỉ: khu phố T, phường H, tỉnh Gia
Lai (địa chỉ cũ: khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định); vắng mặt.
+ Văn Thị Sáu, sinh năm: 1961; địa chỉ: khu phố T, phường H, tỉnh
Gia Lai (địa chỉ cũ: khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định); vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm: 1982; địa chỉ: khu phố T, phường H,
tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: khu phố T, phường T, thH, tỉnh nh Định); vắng
mặt.
+ Bà Trịnh Thị H, sinh năm: 1964; địa chỉ: khu phố T, phường H, tỉnh Gia
Lai (địa chỉ cũ: khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định); vắng mặt.
+ Nguyễn Thị M, sinh năm: 1957; địa chỉ: khu phố T, phường H, tỉnh
Gia Lai (địa chỉ cũ: khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định); vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm: 1987; địa chỉ: khu phố T, phường H,
tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: khu phố T, phường T, thị H, tỉnh Bình Định); vắng
mặt.
+ Trương Thị C, sinh năm: 1965; địa chỉ: khu phố T, phường H, tỉnh
Gia Lai (địa chỉ cũ: khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định); vắng mặt.
Do có kháng cáo của bị đơn Trần Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, c lời khai trong qtrình giải quyết vụ án tại
phiên tòa nguyên đơn, nời được nguyên đơn Phạm ThL ủy quyền trình
bày:
3
Giữa Phạm Thị L Trần Thị L chơi hụi với nhau. Đến năm
2020 thì giữa hai bên không chơi hụi với nhau nữa. Sau đó giữa hai bên tổng kết
viết giấy nthì Trần Thị L còn nợ Phạm Thị L 672.000.000 đồng tiền
hụi 120.000.000 đồng tiền hụi cấn trừ từ bà Nguyễn Thị T. Như vậy Trần
Thị L còn nợ Phạm Thị L stiền 792.000.000 đồng. Nay Phạm Thị L
yêu cầu bà Trần ThL trả 792.000.000 đồng và tiền lãi từ năm 2020 cho đến
nay.
Về các số “0” viết thêm: Tại thời điểm hai bên chốt số tiền nợ, thì viết các
số không kèm số “0” do ban đầu viết tắt theo kiểu chợ (thiếu ba số “0”),
Trần Thị L cũng biết được chuyện này. Lúc này bà Trần Thị L chưa vào tờ
giấy chốt nợ. Đến khi Phạm Thị L viết thêm các số “0” phía sau, Trần
Thị L cũng biết và ký vào.
Về các số “0” viết thêm vượt quá stiền chốt nợ 792.000.000 đồng,
Phạm Thị L viết theo quán tính nên mới thành ra số tiền 6.720.000.000 (Sáu
tỷ bảy trăm hai mươi triệu) + 120.000.000 (Một trăm hai mươi triệu). Chốt lại bà
Phạm Thị L u cầu Trần Thị L trả số tiền là 792.000.000 đồng.
Bị đơn bà Trần Thị L trình bày:
Từ năm 2015 đến năm 2020 chơi hụi với Phạm Thị L với nhiều
dây hụi khác nhau. Đến năm 2020, Phạm Thị L tổng kết hụi thì chụp hình
giấy tính tiền hụi mà bà Phạm Thị L viết, thời điểm chụp hình là chưa chữ
ký của bà. Sau khi chụp hình mới ký và ghi họ tên bà phía dưới với số tiền bà
còn nợ là 672.000 đồng. Các số “0” phía sau là do bà Phạm Thị L mới viết thêm.
Còn đối với số tiền 120.000.000 đồng. Đây là số tiền Nguyễn Thị T cấn
nợ sang cho Phạm Thị L vào ngày 15/12/2018 (âm lịch) đúng, số tiền này
của 5 chân hụi 100.000.000 đồng, tính tiền i 20.000.000 đồng nên tổng
120.000.000 đồng. Sau khi cấn trừ nợ thì đã trả cho Phạm Thị L thông qua
việc hốt hụi với số tiền tổng được hốt 180.000.000 đồng. Tuy nhiên, đã nộp
được 120.000.000 đồng còn thiếu 60.000.000 đồng nên viết giấy tính tiền
hụi n lại 60.000.000 đồng. Sau đó trả được 47.000.000 đồng n chỉ n
thiếu lại 13.000.000 đồng. Nng do bà Phạm Thị L chưa tính tiền lãi nên sau khi
trừ lãi chcòn nợ Phạm Thị L 349.000 (Ba trăm bốn ơi chín nghìn)
đồng.
Như vậy, khẳng định chỉ còn nPhạm Thị L 672.000 đồng. Cuối
năm 2023 vừa rồi trả cho Phạm Thị L 1.000.000 đồng nhưng Phạm
Thị L không đưa vào giấy tờ nên khẳng định chỉ còn nợ Phạm Thị L
672.000 (Sáu trăm bảy mươi hai nghìn) đồng.
Đối với giấy nợ gốc mà bà Phạm Thị L cung cấp có ý kiến như sau:
Tại thời điểm Phạm Thị L chốt tiền còn nợ lại, chỉ số tiền là
672.000 (Sáu trăm bảy mươi hai nghìn) đồng, không các số “0” đi kèm.
viết chữ “đ” nghĩa chữ đồng) sau số tiền 672.000 (Sáu trăm bảy mươi
hai nghìn) đồng này và ký tên ghi rõ họ tên ở dưới.
Việc Phạm Thị L ghi thêm các số “0” dòng số “120000000” đã
4
được giám định là đúng. Do đó, khẳng định, chỉ còn nợ Phạm Thị L
672.000 đồng.
còn nợ Phạm ThL số tiền 60.000.000 đồng (hụi chết). đã trả
được 47.000.000 đồng, còn nợ 13.000.000 đồng. Việc trả nợ số tiền 47.000.000
đồng được thực hiện nhiu lần. Hai lần trả nợ có ghi nhận trong giấy nợ
60.000.000 đồng, các lần sau là trả lắc nhắc, Phạm Thị L i sgạch sổ cho .
Sau đó, Phạm Thị L đã tổng hợp và tính trừ các khoản lãi hàng tháng
đáng ra Phạm Thị L phải đưa cho nhưng chưa đưa và tính trừ từ khoản
13.000.000 đồng mà còn nợ bà Phạm Thị L.
Phạm ThL tự tính toán, cộng thêm các khoản 190.000 đồng, 133.000
đồng, tính trừ các khoảni và xác định còn nợ bà Phạm ThL 672.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T trình bày: Tôi có
bán đất cho L, L trả tiền n đất cho tôi. Sau đó, L đưa ra một tờ giấy,
thể hiện nội dung N đồng ý cấn số tiền 120.000.000 đồng mà tôi nN
sang cho bà L. Tôi đã đưa 120.000.000 đồng này cho bà L nghĩ là bà L nợ bà
N số tiền này và có nghĩa vụ trả nợ cho bà N. Tôi không còn nợ bà N nữa.
Bản án dân sự thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025
của Toà án nhân dân thị H, tỉnh Bình Định (nay Toà án nhân dân khu vực
6 - Gia Lai) quyết định:
Căn cứ khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 91, Điều 92, Điều 95, Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS;
Căn cứ Điều 471 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định vmức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận mt phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L.
1.1 Buộc bà Trần Thị L trcho Phạm ThL số tiền 792.000.000 đồng.
1.2 Không chấp nhận yêu cầu của Phạm Thị L yêu cầu tính lãi suất đối
với số tiền 792.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án dân sự sơ thẩm còn quyết định về lãi chậm trả; biện pháp
khẩn cấp tạm thời; chi phí giám định; án phí; quyền, nghĩa vụ thi hành án
quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 24/02/2025, bị đơn Trần Thị L kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, sửa toàn bộ bản
án sơ thẩm.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bđơn vẫn
giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Luật Hồ Thành P bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
cho rằng trước đây bị đơn chơi hụi với nguyên đơn, nhưng sau đó hai bên đã
5
thống nhất chốt lại số tiền bị đơn nợ của nguyên đơn 672.000 đồng. Các chữ
số 0 ghi phía sau số tiền 672.000 do nguyên đơn tghi thêm. Đối với số tiền
120.000.000 đồng do nguyên đơn ghi thêm vào giấy nợ sau khi hai bên đã
chốt nợ. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện của nguyên đơn không phải thích được
từ Li nộp 15.000.000đ (tháng 8)” nộp tiền của tháng nào, không giải thích
được do sao bị đơn còn ncủa nguyên đơn số tiền 120.000.000 đồng. Do
đó đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn, sửa bản án thẩm
theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai phát biểu: Trong quá trình
tố tụng, người tiến hành tố tụng người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy
định của pháp luật tố tụng; Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2
Điều 308 BLTTDS chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án
thẩm theo hướng buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ là
672.000.000 đồng. Không chấp nhận u cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với
số tiền 120.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng
xét xử nhận định:
[1]. Nội dung vụ án: Phạm Thị L là người cầm cái hụi, bà Trần Thị L
người chơi hụi; hai chơi hụi với nhau tnăm 2015 đến m 2020. Trong
quá trình chơi hụi, Trần Thị L hốt trước nhiều dây hụi nhưng chưa đóng hụi
“chết” đầy đủ nên bà Phạm Thị L có viết giấy nợ tiền hụi và bà Trần Thị L có ký
tên, ghi họ và tên phía dưới. Bà Phạm Thị L khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị L trả
nợ số tiền chơi hụi và tiền cấn trừ hụi từ bà Nguyễn Thị T, tổng số tiền
792.000.000 đồng; Trần Thị L không đồng ý trả số tiền trên, cho rằng chỉ
còn nợ nguyên đơn 672.000 đồng.
[2]. Xét kháng cáo của bị đơn Trần Thị L, HĐXX thấy rằng:
[2.1]. Đối với khoản tiền “672.000” trên giấy tổng hợp nợ:
Đây số tiền của ba dây hụi Trần Thị L còn nợ bà Phạm Thị L,
được hai bên thống nhất sang sổ tổng hợp chung lại vào tháng 8/2020. Hai
bên đều thừa nhận tổng số tiền “672.000”. Phạm Thị L cho rằng đây số
tiền 672.000.000 đồng, vì lớn tuổi và thói quen viết nên đã viết thiếu ba số “0”
phía sau. Trần Thị L cho rằng sau khi tính toán lại tiền nợ thì hai bên thống
nhất chỉ còn nợ Phạm Thị L 672.000 đồng, Phạm Thị L đã sang sổ ghi
lại số tiền này đã xác nhận bên dưới số tiền. Sau đó, Phạm Thị L tự
ý ghi thêm s “000 vào để yêu cầu bà trả số tiền 672.000.000 đồng thì
không đồng ý. Thấy rằng: Các bên đương sự đều thừa nhận chữ viết trong các s
ghi hụi do chủ hụi ghi. Tại các giấy ghi hụi thể hiện bà Phạm Thị L thói quen
ghi tắt, thường ghi thiếu 3 số “0” phía sau (thể hiện tại BL số 45: số tiền
“190.000đ” nhưng ghi bằng chữ là “mt trăm chín mươi triệu”, “90.000đ”
nhưng ghi bằng chữ “chín chục triệu”, “43.000” nhưng ghi bằng chlà “Bốn
ba triệu”; tại BL số 72: giấy mượn tiền Nguyễn Thị T viết ntiền của “chị
6
Lộc” ghi 100.000 đồng nhưng viết bằng chữ một trăm triệu đồng chẵn,
giấy này do Trần Thị L cung cấp). Ngoài các giấy ghi hụi trên thì tại phiên
tòa Trần Thị L thừa nhận giấy ghi hụi ngày 30-5-2019 với nội dung Lợi hốt
10 chưng hụi tổng cộng 195.000 do Trần Thị L ghi với số tiền hốt
195.000.000 đồng. Như vậy, căn cứ xác định Phạm Thị L lớn tuổi và
thói quen viết thiếu ba số “000” phía sau của mỗi dãy số. Do đó, số tiền 672.000
trong giấy tổng hợp nợ thực tế 672.000.000 đồng. vậy, bà Phạm Thị L yêu
cầu bà Trần Thị L phải nghĩa vụ trả cho Phạm Thị L số tiền 672.000.000
đồng là có căn cứ.
[2.2]. Đối với khoản tiền 120.000.000 đồng:
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn cho rằng trước đó bà Nguyễn Thị T
nợ bà Phạm Thị L 120.000.000 đồng. Khi T bán đất cho bị đơn L (L) thì
tại phòng công chứng giữa nguyên đơn L (N), bị đơn L (L) T thống
nhất thỏa thuận chuyển số tiền 120.000.000 đồng mà bà Tám nợ của nguyên đơn
sang cho bị đơn L (L) (Số tiền này khác với số tiền 100.000.000đ Nguyễn
Thị T cấn nợ sang cho Phạm Thị L vào ngày 15/12/2018 (âm lịch)). Sau đó,
do bị đơn không tiền trả nên hai bên thỏa thuận lập một dây hụi nội dung:
Đầu thảo 30-4-2019, ngày 30-5-2029, Lợi hốt 10 chưng hụi tổng cộng 195.000,
L nộp 15.000.000đ (tháng 8). Mục đích để bị đơn trả dần tiền nợ cho nguyên
đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn thừa nhận có chơi 01 dây hụi nêu trên
nhưng sau đó đã trả nợ đầy đủ cho nguyên đơn các lần trả nợ đều được
nguyên đơn ghi cụ thể các hàng phía dưới liền kề với hàng chữ Lợi nộp
15.000.000đ (tháng 8). Còn đại diện hợp pháp của nguyên đơn cho rằng các
hàng phía dưới hàng Lợi nộp 15.000.000đ (tháng 8)” đúng tiền bị đơn trả nợ
cho nguyên đơn nhưng trả nợ cho các dây hụi khác, nhưng đại diện nguyên
đơn không chứng minh được trả nợ cho nguyên đơn dây hụi nào do
sao trả nợ cho nguyên đơn dây hụi khác nhưng lại ghi liền kề phía dưới dây
hụi 195.000.000đ nêu trên.
Mặt khác, đại diện hợp pháp của nguyên đơn cũng không chứng minh
được do sao bị đơn hốt một chưng (dây) hụi với số tiền 195.000.000đ, bị
đơn mới nộp cho nguyên đơn 01 lần 15.000.000đ (tháng 8), nhưng nguyên đơn
cho rằng bị đơn chỉ còn nợ nguyên đơn 120.000.000đ. Tại phiên tòa phúc thẩm,
đại diện của nguyên đơn giải thích từ “Lợi nộp 15.000.000đ (tháng 8)” bắt
đầu đóng hụi chết từ tháng 6 vì số 8 được ghi chồng lên số 6, có lúc giải thích là
đóng hụi chết từ tháng 8 cuối cùng giải thích từ (tháng 8) bị đơn còn nợ
nguyên đơn trong 08 tháng, mỗi tháng 15.000.000đ.
Hội đồng xét xử xét thấy, số tiền 120.000.000đ trong giấy ghi nợ theo kết
quả giám định là do nguyên đơn viết thêm sau khi hai bên đã chốt số tiền nợ. Tại
phiên tòa, đại diện hợp pháp của nguyên đơn nhiều lần thay đổi lời khai về thời
gian, số lần trả nợ lời giải thích của đại diện nguyên đơn không phù hợp với
tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Ngoài ra, đại diện của nguyên đơn
cũng không chứng minh được c lần bị đơn trả nợ được nguyên đơn ghi phía
dưới hàng “Lợi nộp 15.000.000đ (tháng 8) trả nợ của dây hụi nào. Do đó, đối
7
với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả cho nguyên
đơn số tiền 120.000.000đ không căn cứ đchấp nhận. Nên, Hội đồng xét
xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án thẩm
của TAND thị H, tỉnh Bình Định (nay Toà án nhân dân khu vực 6 Gia
Lai) đối với số tiền buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 120.000.000đ.
[3] Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí dân sự thẩm: Do kháng cáo của bị đơn được chấp nhận
một phần, nên HĐXX phúc thẩm sửa phần án phí dân sơ thẩm.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn Trần Thị L được
chấp nhận nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định
của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội.
[6] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai
đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm là
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét x nên được chấp nhận.
các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điu 12, Điều 26, Điu 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Trn Th L, sửa bản án dân
sự thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân
thị H, tỉnh nh Định (nayTAND khu vực 6 - Gia Lai).
1.1. Buộc Trần Thị L trả cho Phạm ThL số tiền 672.000.000 đồng
(Sáu tm bảy mươi hai triệu đồng).
1.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Phạm Thị L về việc buộc
Trn Thị L phi trả cho bà Phạm ThL số tiền 120.000.000 đồng (Một trăm hai
mươi triệu đồng)
2. Về án phí:
2.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Phạm ThL người cao tuổi nên được miễn.
- Trn Th L phải chịu 30.880.000 đồng.
2.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Trn Th L không phải chịu. Trả lại
cho Trn Th L 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu s
8
0007151 ngày 24/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sthxã H, tỉnh Bình
Định (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 Gia Lai).
3. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
4.1. Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án
cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành
án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
qui định tại Điều 357 khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
4.2. Trường hợp bản án,quyết định được thi hành theo quy đinh tại điều 2
luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,quyền yêu cầu thi nh án, tự nguyện thi
hành án hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 9 luật
thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định điều 30
luật thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 6 Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 6 – Gia Lai;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP, a DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Duy
Tải về
Bản án số 138/2025/DS-PT Bản án số 138/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 138/2025/DS-PT Bản án số 138/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất