Bản án số 138/2025/DS-PT ngày 16/09/2025 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 138/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 138/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 138/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 138/2025/DS-PT ngày 16/09/2025 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Gia Lai |
| Số hiệu: | 138/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 16/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH GIA LAI Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 138/2025/DS-PT
Ngày: 16 - 9 - 2025
V/v tranh chấp hụi
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Duy
Các Thẩm phán: Ông Đặng Chí Công
Ông Trương Nam Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh An là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà
Đặng Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 37/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 4 năm
2025 về việc “Tranh chấp hụi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025
của Toà án nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định (nay là Toà án nhân dân khu vực 6
- Gia Lai) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 81/2025/QĐ-PT ngày
05 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị L (N), sinh năm 1958; địa chỉ: Khu phố T,
phường H, tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình
Định).
Đại diện hợp pháp của bà Phạm Thị L: Bà Châu Thị Bích S, sinh năm
1994, địa chỉ: Khu phố T, phường H, tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: Khu phố T,
phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định) là đại diện theo ủy quyền (Theo hợp đồng
ủy quyền số 6972 ngày 18/12/2024 của Văn phòng công chứng H); có mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Thị L (A), sinh năm 1970; địa chỉ: Khu phố T, phường
H, tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định; có
mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Trần Thị L: Ông
Hồ Thành P - Luật sư của Văn phòng luật sư T thuộc Đoàn luật sư tỉnh Gia Lai;
địa chỉ: 53 đường L, phường Q, tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: 53 đường L, phường H,
thành phố Q, tỉnh Bình Định); có mặt.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm
1967; địa chỉ: Khu phố T, phường H, tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: Khu phố T,
phường T, thị xã H, Bình Định).
Đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị T: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm
1990; địa chỉ: Khu phố A, phường H, tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: Khu phố A,
phường H1, thị xã H, tỉnh Bình Định) là đại diện theo ủy quyền (Theo hợp đồng
ủy quyền số 045 ngày 07/02/2025 của Văn phòng công chứng H); có mặt.
- Người làm chứng:
+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967; địa chỉ: Khu phố T, phường H, tỉnh
Gia Lai (địa chỉ cũ: Khu phố T, phường T, thị xã H, Bình Định); vắng mặt.
+ Bà Phạm Thị G, sinh năm 1964; địa chỉ: khu phố T, phường H, tỉnh Gia
Lai (địa chỉ cũ: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm: 1964; địa chỉ: khu phố T, phường H,
tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định), vắng
mặt.
+ Bà Ngô Thị T, sinh năm: 1969; địa chỉ: khu phố T, phường H, tỉnh Gia
Lai (địa chỉ cũ: khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định); vắng mặt.
+ Bà Lý Thị K, sinh năm: 1973; địa chỉ: khu phố T, phường H, tỉnh Gia
Lai (địa chỉ cũ: khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định); vắng mặt.
+ Bà Văn Thị Sáu, sinh năm: 1961; địa chỉ: khu phố T, phường H, tỉnh
Gia Lai (địa chỉ cũ: khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định); vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm: 1982; địa chỉ: khu phố T, phường H,
tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định); vắng
mặt.
+ Bà Trịnh Thị H, sinh năm: 1964; địa chỉ: khu phố T, phường H, tỉnh Gia
Lai (địa chỉ cũ: khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định); vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1957; địa chỉ: khu phố T, phường H, tỉnh
Gia Lai (địa chỉ cũ: khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định); vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm: 1987; địa chỉ: khu phố T, phường H,
tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định); vắng
mặt.
+ Bà Trương Thị C, sinh năm: 1965; địa chỉ: khu phố T, phường H, tỉnh
Gia Lai (địa chỉ cũ: khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định); vắng mặt.
Do có kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên tòa nguyên đơn, người được nguyên đơn bà Phạm Thị L ủy quyền trình
bày:

3
Giữa bà Phạm Thị L và bà Trần Thị L có chơi hụi với nhau. Đến năm
2020 thì giữa hai bên không chơi hụi với nhau nữa. Sau đó giữa hai bên tổng kết
và viết giấy nợ thì bà Trần Thị L còn nợ bà Phạm Thị L 672.000.000 đồng tiền
hụi và 120.000.000 đồng tiền hụi cấn trừ từ bà Nguyễn Thị T. Như vậy bà Trần
Thị L còn nợ bà Phạm Thị L số tiền là 792.000.000 đồng. Nay bà Phạm Thị L
yêu cầu bà Trần Thị L trả 792.000.000 đồng và tiền lãi từ năm 2020 cho đến
nay.
Về các số “0” viết thêm: Tại thời điểm hai bên chốt số tiền nợ, thì viết các
số không kèm số “0” do ban đầu viết tắt theo kiểu ở chợ (thiếu ba số “0”), bà
Trần Thị L cũng biết được chuyện này. Lúc này bà Trần Thị L chưa ký vào tờ
giấy chốt nợ. Đến khi bà Phạm Thị L viết thêm các số “0” ở phía sau, bà Trần
Thị L cũng biết và ký vào.
Về các số “0” viết thêm vượt quá số tiền chốt nợ là 792.000.000 đồng, bà
Phạm Thị L viết theo quán tính nên mới thành ra số tiền là 6.720.000.000 (Sáu
tỷ bảy trăm hai mươi triệu) + 120.000.000 (Một trăm hai mươi triệu). Chốt lại bà
Phạm Thị L yêu cầu bà Trần Thị L trả số tiền là 792.000.000 đồng.
Bị đơn bà Trần Thị L trình bày:
Từ năm 2015 đến năm 2020 bà có chơi hụi với bà Phạm Thị L với nhiều
dây hụi khác nhau. Đến năm 2020, bà Phạm Thị L tổng kết hụi thì bà chụp hình
giấy tính tiền hụi mà bà Phạm Thị L viết, thời điểm bà chụp hình là chưa có chữ
ký của bà. Sau khi chụp hình bà mới ký và ghi họ tên bà phía dưới với số tiền bà
còn nợ là 672.000 đồng. Các số “0” phía sau là do bà Phạm Thị L mới viết thêm.
Còn đối với số tiền 120.000.000 đồng. Đây là số tiền bà Nguyễn Thị T cấn
nợ sang cho bà Phạm Thị L vào ngày 15/12/2018 (âm lịch) là đúng, số tiền này
của 5 chân hụi là 100.000.000 đồng, tính tiền lãi 20.000.000 đồng nên tổng là
120.000.000 đồng. Sau khi cấn trừ nợ thì bà đã trả cho bà Phạm Thị L thông qua
việc hốt hụi với số tiền tổng được hốt 180.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà đã nộp
được 120.000.000 đồng còn thiếu 60.000.000 đồng nên bà có viết giấy tính tiền
hụi còn lại 60.000.000 đồng. Sau đó bà trả được 47.000.000 đồng nên chỉ còn
thiếu lại 13.000.000 đồng. Nhưng do bà Phạm Thị L chưa tính tiền lãi nên sau khi
trừ lãi bà chỉ còn nợ bà Phạm Thị L 349.000 (Ba trăm bốn mươi chín nghìn)
đồng.
Như vậy, bà khẳng định chỉ còn nợ bà Phạm Thị L 672.000 đồng. Cuối
năm 2023 vừa rồi bà có trả cho bà Phạm Thị L 1.000.000 đồng nhưng bà Phạm
Thị L không đưa vào giấy tờ nên bà khẳng định chỉ còn nợ bà Phạm Thị L
672.000 (Sáu trăm bảy mươi hai nghìn) đồng.
Đối với giấy nợ gốc mà bà Phạm Thị L cung cấp bà có ý kiến như sau:
Tại thời điểm bà Phạm Thị L chốt tiền còn nợ lại, chỉ có số tiền là
672.000 (Sáu trăm bảy mươi hai nghìn) đồng, không có các số “0” đi kèm. Bà
có viết chữ “đ” (ý nghĩa là chữ đồng) sau số tiền 672.000 (Sáu trăm bảy mươi
hai nghìn) đồng này và ký tên ghi rõ họ tên ở dưới.
Việc bà Phạm Thị L ghi thêm các số “0” và dòng số “120000000” đã

4
được giám định là đúng. Do đó, bà khẳng định, bà chỉ còn nợ bà Phạm Thị L
672.000 đồng.
Bà còn nợ bà Phạm Thị L số tiền 60.000.000 đồng (hụi chết). Bà đã trả
được 47.000.000 đồng, còn nợ 13.000.000 đồng. Việc trả nợ số tiền 47.000.000
đồng được thực hiện nhiều lần. Hai lần trả nợ có ghi nhận trong giấy nợ
60.000.000 đồng, các lần sau là trả lắc nhắc, bà Phạm Thị L nói sẽ gạch sổ cho bà.
Sau đó, bà Phạm Thị L đã tổng hợp và tính trừ các khoản lãi hàng tháng mà
đáng ra bà Phạm Thị L phải đưa cho bà nhưng chưa đưa và tính trừ từ khoản
13.000.000 đồng mà bà còn nợ bà Phạm Thị L.
Bà Phạm Thị L tự tính toán, cộng thêm các khoản 190.000 đồng, 133.000
đồng, tính trừ các khoản lãi và xác định bà còn nợ bà Phạm Thị L 672.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T trình bày: Tôi có
bán đất cho bà L, bà L trả tiền bán đất cho tôi. Sau đó, bà L đưa ra một tờ giấy,
thể hiện nội dung bà N đồng ý cấn số tiền 120.000.000 đồng mà tôi nợ bà N
sang cho bà L. Tôi đã đưa 120.000.000 đồng này cho bà L và nghĩ là bà L nợ bà
N số tiền này và có nghĩa vụ trả nợ cho bà N. Tôi không còn nợ bà N nữa.
Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025
của Toà án nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định (nay là Toà án nhân dân khu vực
6 - Gia Lai) quyết định:
Căn cứ khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 91, Điều 92, Điều 95, Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS;
Căn cứ Điều 471 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L.
1.1 Buộc bà Trần Thị L trả cho bà Phạm Thị L số tiền 792.000.000 đồng.
1.2 Không chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị L yêu cầu tính lãi suất đối
với số tiền 792.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án dân sự sơ thẩm còn quyết định về lãi chậm trả; biện pháp
khẩn cấp tạm thời; chi phí giám định; án phí; quyền, nghĩa vụ thi hành án và
quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 24/02/2025, bị đơn bà Trần Thị L kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, sửa toàn bộ bản
án sơ thẩm.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn vẫn
giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Luật sư Hồ Thành P bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
cho rằng trước đây bị đơn có chơi hụi với nguyên đơn, nhưng sau đó hai bên đã

5
thống nhất chốt lại số tiền bị đơn nợ của nguyên đơn là 672.000 đồng. Các chữ
số 0 ghi phía sau số tiền 672.000 là do nguyên đơn tự ghi thêm. Đối với số tiền
120.000.000 đồng là do nguyên đơn ghi thêm vào giấy nợ sau khi hai bên đã
chốt nợ. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện của nguyên đơn không phải thích được
từ “Lợi nộp 15.000.000đ (tháng 8)” là nộp tiền của tháng nào, không giải thích
được lý do vì sao bị đơn còn nợ của nguyên đơn số tiền 120.000.000 đồng. Do
đó đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm
theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai phát biểu: Trong quá trình
tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy
định của pháp luật tố tụng; Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2
Điều 308 BLTTDS chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ
thẩm theo hướng buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ là
672.000.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với
số tiền 120.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng
xét xử nhận định:
[1]. Nội dung vụ án: Bà Phạm Thị L là người cầm cái hụi, bà Trần Thị L
là người chơi hụi; hai bà chơi hụi với nhau từ năm 2015 đến năm 2020. Trong
quá trình chơi hụi, bà Trần Thị L hốt trước nhiều dây hụi nhưng chưa đóng hụi
“chết” đầy đủ nên bà Phạm Thị L có viết giấy nợ tiền hụi và bà Trần Thị L có ký
tên, ghi họ và tên phía dưới. Bà Phạm Thị L khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị L trả
nợ số tiền chơi hụi và tiền cấn trừ hụi từ bà Nguyễn Thị T, tổng số tiền
792.000.000 đồng; bà Trần Thị L không đồng ý trả số tiền trên, bà cho rằng chỉ
còn nợ nguyên đơn 672.000 đồng.
[2]. Xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị L, HĐXX thấy rằng:
[2.1]. Đối với khoản tiền “672.000” trên giấy tổng hợp nợ:
Đây là số tiền của ba dây hụi mà bà Trần Thị L còn nợ bà Phạm Thị L,
được hai bên thống nhất sang sổ và tổng hợp chung lại vào tháng 8/2020. Hai
bên đều thừa nhận tổng số tiền là “672.000”. Bà Phạm Thị L cho rằng đây là số
tiền 672.000.000 đồng, vì lớn tuổi và thói quen viết nên đã viết thiếu ba số “0” ở
phía sau. Bà Trần Thị L cho rằng sau khi tính toán lại tiền nợ thì hai bên thống
nhất bà chỉ còn nợ bà Phạm Thị L 672.000 đồng, bà Phạm Thị L đã sang sổ ghi
lại số tiền này và bà đã ký xác nhận bên dưới số tiền. Sau đó, bà Phạm Thị L tự
ý ghi thêm số “000” vào để yêu cầu bà trả số tiền 672.000.000 đồng thì bà
không đồng ý. Thấy rằng: Các bên đương sự đều thừa nhận chữ viết trong các sổ
ghi hụi do chủ hụi ghi. Tại các giấy ghi hụi thể hiện bà Phạm Thị L có thói quen
ghi tắt, thường ghi thiếu 3 số “0” phía sau (thể hiện tại BL số 45: số tiền
“190.000đ” nhưng ghi bằng chữ là “một trăm chín mươi triệu”, “90.000đ”
nhưng ghi bằng chữ là “chín chục triệu”, “43.000” nhưng ghi bằng chữ là “Bốn
ba triệu”; tại BL số 72: giấy mượn tiền bà Nguyễn Thị T viết nợ tiền của “chị
6
Lộc” có ghi 100.000 đồng nhưng viết bằng chữ là một trăm triệu đồng chẵn,
giấy này do bà Trần Thị L cung cấp). Ngoài các giấy ghi hụi trên thì tại phiên
tòa bà Trần Thị L thừa nhận giấy ghi hụi ngày 30-5-2019 với nội dung Lợi hốt
10 chưng hụi tổng cộng 195.000 là do bà Trần Thị L ghi với số tiền hốt là
195.000.000 đồng. Như vậy, có căn cứ xác định vì bà Phạm Thị L lớn tuổi và có
thói quen viết thiếu ba số “000” phía sau của mỗi dãy số. Do đó, số tiền 672.000
trong giấy tổng hợp nợ thực tế là 672.000.000 đồng. Vì vậy, bà Phạm Thị L yêu
cầu bà Trần Thị L phải có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị L số tiền 672.000.000
đồng là có căn cứ.
[2.2]. Đối với khoản tiền 120.000.000 đồng:
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn cho rằng trước đó bà Nguyễn Thị T có
nợ bà Phạm Thị L 120.000.000 đồng. Khi bà T bán đất cho bị đơn bà L (L) thì
tại phòng công chứng giữa nguyên đơn bà L (N), bị đơn bà L (L) và bà T thống
nhất thỏa thuận chuyển số tiền 120.000.000 đồng mà bà Tám nợ của nguyên đơn
sang cho bị đơn bà L (L) (Số tiền này khác với số tiền 100.000.000đ bà Nguyễn
Thị T cấn nợ sang cho bà Phạm Thị L vào ngày 15/12/2018 (âm lịch)). Sau đó,
do bị đơn không có tiền trả nên hai bên thỏa thuận lập một dây hụi có nội dung:
Đầu thảo 30-4-2019, ngày 30-5-2029, Lợi hốt 10 chưng hụi tổng cộng 195.000,
L nộp 15.000.000đ (tháng 8). Mục đích là để bị đơn trả dần tiền nợ cho nguyên
đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn thừa nhận có chơi 01 dây hụi nêu trên
nhưng sau đó đã trả nợ đầy đủ cho nguyên đơn và các lần trả nợ đều được
nguyên đơn ghi cụ thể ở các hàng phía dưới liền kề với hàng chữ Lợi nộp
15.000.000đ (tháng 8). Còn đại diện hợp pháp của nguyên đơn cho rằng các
hàng phía dưới hàng “Lợi nộp 15.000.000đ (tháng 8)” đúng là tiền bị đơn trả nợ
cho nguyên đơn nhưng là trả nợ cho các dây hụi khác, nhưng đại diện nguyên
đơn không chứng minh được trả nợ cho nguyên đơn ở dây hụi nào và lý do vì
sao trả nợ cho nguyên đơn ở dây hụi khác nhưng lại ghi liền kề phía dưới dây
hụi 195.000.000đ nêu trên.
Mặt khác, đại diện hợp pháp của nguyên đơn cũng không chứng minh
được lý do vì sao bị đơn hốt một chưng (dây) hụi với số tiền 195.000.000đ, bị
đơn mới nộp cho nguyên đơn 01 lần 15.000.000đ (tháng 8), nhưng nguyên đơn
cho rằng bị đơn chỉ còn nợ nguyên đơn 120.000.000đ. Tại phiên tòa phúc thẩm,
đại diện của nguyên đơn giải thích từ “Lợi nộp 15.000.000đ (tháng 8)” là bắt
đầu đóng hụi chết từ tháng 6 vì số 8 được ghi chồng lên số 6, có lúc giải thích là
đóng hụi chết từ tháng 8 và cuối cùng giải thích từ (tháng 8) là bị đơn còn nợ
nguyên đơn trong 08 tháng, mỗi tháng 15.000.000đ.
Hội đồng xét xử xét thấy, số tiền 120.000.000đ trong giấy ghi nợ theo kết
quả giám định là do nguyên đơn viết thêm sau khi hai bên đã chốt số tiền nợ. Tại
phiên tòa, đại diện hợp pháp của nguyên đơn nhiều lần thay đổi lời khai về thời
gian, số lần trả nợ và lời giải thích của đại diện nguyên đơn không phù hợp với
tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Ngoài ra, đại diện của nguyên đơn
cũng không chứng minh được các lần bị đơn trả nợ được nguyên đơn ghi phía
dưới hàng “Lợi nộp 15.000.000đ (tháng 8) là trả nợ của dây hụi nào. Do đó, đối
7
với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả cho nguyên
đơn số tiền 120.000.000đ là không có căn cứ để chấp nhận. Nên, Hội đồng xét
xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm
của TAND thị xã H, tỉnh Bình Định (nay là Toà án nhân dân khu vực 6 – Gia
Lai) đối với số tiền buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 120.000.000đ.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do kháng cáo của bị đơn được chấp nhận
một phần, nên HĐXX phúc thẩm sửa phần án phí dân sơ thẩm.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị L được
chấp nhận nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định
của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội.
[6] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai
đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm là
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị L, sửa bản án dân
sự sơ thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân
thị xã H, tỉnh Bình Định (nay là TAND khu vực 6 - Gia Lai).
1.1. Buộc bà Trần Thị L trả cho bà Phạm Thị L số tiền 672.000.000 đồng
(Sáu trăm bảy mươi hai triệu đồng).
1.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L về việc buộc
bà Trần Thị L phải trả cho bà Phạm Thị L số tiền 120.000.000 đồng (Một trăm hai
mươi triệu đồng)
2. Về án phí:
2.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Phạm Thị L là người cao tuổi nên được miễn.
- Bà Trần Thị L phải chịu 30.880.000 đồng.
2.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị L không phải chịu. Trả lại
cho bà Trần Thị L 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số
8
0007151 ngày 24/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã H, tỉnh Bình
Định (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 – Gia Lai).
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
4.1. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án
cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành
án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
qui định tại Điều 357 khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
4.2. Trường hợp bản án,quyết định được thi hành theo quy đinh tại điều 2
luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật
thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định điều 30
luật thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 6 – Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 6 – Gia Lai;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP, Tòa DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Duy
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 08/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm