Bản án số 136/2026/DS-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng gia công

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 136/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 136/2026/DS-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng gia công
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng gia công
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 136/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: BA Khổng Kim T - Hoàng Xuân Nam H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 136/2026/DS-PT Bản án số 136/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 136/2026/DS-PT Bản án số 136/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 136/2026/DS -ST
Ngày 20 tháng 5 năm 2026
V/v Tranh chấp kiện đòi tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Sơn.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền và ông Nguyễn Xuân Trọng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Lụa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú
Thọ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà:
Hà Thị Loan - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14 20 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ sở 2 xét x phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số:
246/2025/TLPT- DS ngày 18 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp kiện đòi tài
sản”. Do bản án dân sự thẩm số 34/2025/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 11- Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 256/2025/QĐ-DS ngày 08 tháng
12 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Khổng Kim T, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn X, T,
huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc nay là thôn X, xã T, tỉnh Phú Th, (có mặt).
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Chu Văn H
- Luật sư Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H, (có mặt khi xét xử, vắng
mặt khi tuyên án).
Bị đơn: Anh Hoàng Xuân Nam H1, sinh năm 1980 chị Nguyễn Thị
D, sinh năm 1980; đều ở địa chỉ: TDP P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc nay
là thôn P, xã L, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của chD: Anh Hoàng Xuân Nam H1, sinh
năm 1980, địa chỉ: TDP P, thtrấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc nay là thôn P,
L, tỉnh Phú Thọ, (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Anh Hoàng Hữu C, sinh năm 1978; địa chỉ: TDP T, thị trấn L, huyện L,
tỉnh Vĩnh Phúc nay là thôn T, xã L, tỉnh Phú Thọ, (vắng mặt).
2. Anh Ngọc T1, sinh năm 1977; nơi thường trú: Tổ A, phường M, quận
H, thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện tại: Phòng 1610 tòa HH02D, khu đô thị T, xã C,
quận T, thành phố Hà Nội, (vắng mặt).
3. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện S, tỉnh
Vĩnh Phúc nay là thôn X, xã T, tỉnh Phú Thọ, (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của T2: Ông Khổng Kim T, sinh năm
1962; địa chỉ: Thôn X, T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc nay thôn X, T, tỉnh
Phú Thọ, (có mặt).
Người kháng cáo: Ông Khổng Kim T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 3 m 2024 cùng những lời khai tiếp
theo nguyên đơn ông T (ông T đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của
T2) và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T thống nhất trình bày:
Tháng 5/2020, ông Khổng Kim T thỏa thuận với anh Hoàng Xuân Nam
H1 và anh Hoàng Xuân C1 về việc cùng nhau hợp tác xây dựng trại chăn nuôi gà
tại địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc nay là xã T, tỉnh Phú Thọ. Nội
dung thỏa thuận: Ông T sẽ người trực tiếp dùng diện tích đất của gia đình mình
để làm trang trại chăn nuôi gà, con rể ông T là anh Ngọc T1 bỏ vốn làm chung
cùng anh H1, anh C1, cùng đầu tư vốn để xây chuồng trại, trực tiếp bỏ thời gian,
công sức của mình để chăn nuôi gà từ khi còn nhỏ đến khi đạt tiêu chuẩn để xuất
bán (thỏa thuận miệng không có văn bản, giấy tờ gì). Anh H1anh C1 thuê ông
T chăm sóc hàng tháng, sau khi quyết toán lứa gà tiền lãi chia làm 3 phần của 3
lứa đầu; từ lứa thứ tư, anh H1 không nuôi nữa nên gia đình ông T nuôi, còn anh
C1 nếu dỗi thì ra hỗ trợ cho ông T. Lứa thứ tư do anh H1 đứng ra bán hơn
900kg theo giá thị trường giữ toàn bộ số tiền thu được. Ngoài ra anh H1 còn
giữ tiền công ty trả phí gia công chăn nuôi gà bốn lứa (03 lứa gia công của công
ty J và 01 lứa gia công của công ty G).
Sau khi tất toán với công ty bốn lứa trên, gia đình ông T đã nhiều lần
nhắc anh H1 trả tiền công cho gia đình ông, anh H1 đã không trả xin khất nhận
nợ, hẹn đến ngày 20/6/2023 sẽ trả tiền cho gia đình ông nhưng anh H1 đã không
thanh toán đúng hẹn. Ngày 08/5/2023, vợ chồng anh H1, chị D đã viết giấy nhận
nợ với gia đình ông T, nội dung như sau: "Vợ chồng anh H1, chị D xác nhận
toàn bộ số tiền chi phí chăn nuôi lứa thứ đang nợ gia đình ông T
170.000.000đ ba lứa đầu với tổng số tiền phí gia công 200.000.000đ đến
ngày 20/6/2023 vợ chồng anh H1, chị D sẽ thanh toán đầy đủ cho gia đình ông T
3
số tiền này”. Giấy nhận nợ này do anh H1 ttay viết và hai vợ chồng cùng ký với
tổng số tiền là 370.000.000đ.
Kể từ ngày hết thời hạn trả nợ là ngày 20/6/2023 đến nay, nhiều lần ông
T yêu cầu vợ chồng anh H1, chị D thanh toán toàn bộ số tiền trên cho gia đình
ông nhưng vợ chồng anh H1, chị D luôn tìm cách lẩn tránh không muốn trả toàn
bộ số tiền trên.
Nay ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Phú Thọ
giải quyết buộc vợ chng anh Hoàng Xuân Nam H1, chị Nguyễn Thị Lê D thanh
toán cho gia đình ông T toàn bộ số tiền 370.000.000đ theo giấy nhận nợ lập ngày
08/5/2023.
Bị đơn anh Hoàng Xuân Nam H1 (đồng thời người đại diện theo ủy quyền
của chị Nguyễn Thị D) trình bày: Tháng 5/2020, anh H1; anh Hoàng Hữu C
anh Ngọc T1 (con rể ông T) thống nhất góp tiền xây chung trại nuôi gà trên
đất nhà ông T (ông T cho mượn đất không phải trả tiền thuê). Toàn bộ chi phí xây
dựng và mua thiết bị chăn nuôi của trang trại hết khoảng 240.000.000đ, mục đích
xây chuồng trại để chăn nuôi gia công màu cho Công ty J1. Các anh cùng thống
nhất là thuê ông Khổng Kim T chăn nuôi gà mỗi lứa trả công là 10.000.000đ, cả
anh H1, anh C, anh T1 (con rể ông T) và gia đình ông T đã đồng ý.
Anh H1, anh C, anh T1 thống nhất lỗ hay lãi đều phải góp tiền đtrả
tiền công cho ông T là 10.000.000đ/lứa, các anh thoả thuận anh H1 là người đứng
ra trả tiền công cho ông T. Tính đến ngày 06/9/2022 ông T đã nuôi thuê cho anh
H1, anh C anh T1 được 04 lứa gà. Lứa gà thứ nhất đã thanh toán xong tiền
công cho ông T, chỉ còn nợ tiền công nuôi gà của 03 lứa sau (lứa 2, 3, 4). Vì vậy
anh H1, anh C anh T1 trách nhiệm trả tiền công nuôi gà cho ông T là
30.000.000đ cho 03 lứa còn lại. Ngoài ra gia đình ông T không được đòi hỏi
thêm bất kỳ mt khoản tiền nào khác, còn tiền phí gia công chăn nuôi mà ng
ty thanh toán cho các anh thì anh H1, anh C và anh T1 được hưởng, lỗ thì các anh
phải chịu. Cụ thể các lứa gà nuôi như sau:
- Lứa gà thứ nhất: Nuôi gà màu cho công ty G, trụ sở Văn phòng công ty
V. Thời gian nuôi gà bắt đầu từ khoảng tháng 10/2020 đến tháng 01/2021 thì bán
gà. Số gà giống lấy khoảng 5000 con, khi bán trọng lượng gà được khoảng hơn 7
tấn, phí gia công công ty G trả khoảng hơn 15 triệu. Tuy nhiên, ông T đã lấy 240kg
gà thịt cưới con, tương đương khoảng 14 triệu tiền gà. Sau lứa này anh H1, anh
T1 anh C thống nhất đã giải quyết xong tiền công chăn nuôi cho ông T. Tuy
nhiên đối với lứa thứ nhất này thì tiền cám phải mua thêm ngoài khoảng
22.000.000đ đến 23.000.000đ; tiền thuốc mua ngoài hết khoảng 15.000.000đ; tiền
thuê người tiêm gà và bắt gà lên xe khoảng 4.000.000đ. Sau khi trừ đi chi phí thì
4
lứa này bị lỗ khoảng 40.000.000đ. Sau lứa này ba người thống nhất đã giải
quyết xong tiền công chăn nuôi, tiền phí chăn nuôi.
- Lứa gà thứ hai: Nhận gà để nuôi ngày 08/02/2021, số gà thực nhận ttrại
9.544 con, nuôi 231 ngày, ngày bán 26/9/2021, số bán 9.163 con, trọng lượng
19.225,29kg; phí chăn nuôi công ty trả cho anh H1 của lứa hai 66.466.628đ.
Tuy nhiên đối với lứa gà này thì không phải là hoàn toàn ở trại gà ở trên nhà ông
T, trại đó sức chứa chỉ được 5.000con gà; còn lại là trại của anh H1 (gọi
là Trại Hoàng Xuân N Hưng 2) ở thôn N, xã X, huyện L nay là xã L Trên thực
tế anh H1 với công ty nhận từ trại ấp 9.544 con sau đó anh H1 chia đôi 1
nửa lên trại gà trên nhà ông T và một nửa là ở trại gà của anh H1 thôn N, xã X
nay L Do trại trên đất nhà ông T chưa tiền nộp cọc nên phải nuôi chung
với T3 Hoàng Xuân Nam H1 2. Do đó tiền phí chăn nuôi công ty trả cho anh
H1 của mã đàn lứa hai 66.466.628đ bao gồm cả nửa số trên trại nhà ông T
và nửa số gà tại trại của anh H1 X, khi xuất chuồng là xuất chuồng cùng nhau.
Công ty cấp giống, cám và thuốc còn về việc mình chia ra nuôi ở những trại nào
là do mình và phải đảm bảo được khối lượng gà cho công ty. Nếu không đảm bảo
thì công ty sẽ trừ luôn vào phí, còn lại bao nhiêu công ty mới thanh toán. Do đó
lứa gà này (lứa đầu tiên nuôi cho Công ty J và là lứa thứ hai anh T1, anh H1, anh
C nuôi cùng nhau) trên trại gà nhà ông T chỉ 33.233.314đ. Sau khi trừ các chi
phí thngười tiêm gà, tiền thuốc, tiền cám mua ngoài, tiền người bốc vác cám
và bắt gà bán, tiền điện thì lứa thứ 2 này bị lỗ khoảng 16 đến 17 triệu.
- Lứa thứ ba: Nhận để nuôi ngày 23/9/2021, số thực nhận từ trại
ấp là 5.097 con, ngày xuất bán 01/01/2022, số bán 4.895 con, tổng trng lượng
9.573,9kg; phí chăn nuôi công ty trả cho anh H1 là 14.941.689đ. Tuy nhiên sau
khi trừ các chi phí thuê người tiêm gà, tiền thuốc, tiền cám mua ngoài, tiền người
bốc vác cám và bắt gà bán, tiền điện thì lứa ba bị lỗ khoảng 50 triệu đến 60 triệu.
- Lứa thứ tư: Nhận gà để nuôi ngày 09/5/2022, số thực nhận từ trại
ấp 5.634 con, nuôi 121 ngày, ngày bán 06/9/2022, số bán 4.461 con, trọng
lượng 10.706,5kg; phí chăn nuôi công ty trả cho anh H1 của lứa bốn 76.050.164
đồng, nhưng thực tế thanh toán là 0 đồng và chưa trừ các chi phí thuê người tiêm
gà, tiền thuốc, tiền cám mua ngoài, tiền người bốc c cám bắt bán, tiền
điện thì lứa 4 cũng bị lỗ khoảng 30 triệu đến 40 triệu đồng.
Vì là các lứa gà trước thất thoát nhiều và bị lỗ nhiều nên trước khi nuôi lứa
gà thứ tư thì anh H1 có nói với anh T1 là nếu anh T1 đồng ý mua lại trại gà theo
giá thỏa thuận và đền bù cả lứa gà thứ 3 (bị lỗ) thì lứa gà thứ 4 anh H1 không lấy
một đồng nào. Lúc đầu anh T1 đồng ý, nhưng sau đó lại không đồng ý nữa. Do
vậy ở lứa gà thứ 4 này, anh H1 vẫn làm như các lứa gà trước từ nhận giống, cám,
thuốc, thuê người bốc vác cám, thuê người tiêm thuốc, mua thêm thuốc, mua thêm
5
cám, cân cho công ty….Tất cả 4 lứa anh T1, anh C không nộp bất kỳ một
chi phí nào, hoàn toàn là do anh H1 bỏ tiền ra chi phí và trên thực tế anh T1 vẫn
tham gia nuôi gà cùng anh H1, anh C từ đầu đến cuối của cả 4 lứa gà. Tuy nhiên
nay ông T và anh T1 không thừa nhận việc anh T1 tham gia hợp tác chăn nuôi
ng anh H1, anh C cho công ty cho rằng chỉ ông T hợp tác cùng anh
H1, anh C chăn nuôi gà cho công ty thì anh H1 cũng phải chịu vì anh T1 là con rể
ông T, việc anh T1 và ông T đứng về một phía để trình bày cũng là điều dễ hiểu.
Theo thỏa thuận từ đầu thì đến nay anh H1, anh C, anh T1 chỉ còn nợ ông
T số tiền công chăn nuôi của 03 lứa gà (2,3,4) là 30.000.000đ (vì lứa gà thứ nhất
ông T lấy 240kg gà để cưới con nên đã trừ vào tiền công chăn nuôi) và giữa anh
H1, ông T, anh C, anh T1 đã thỏa thuận thống nhất xong lứa gà thứ nhất.
Ngoài ra anh H1 có một trại gà (ngay bên cạnh nhà ông T) cho anh P B,
Hà Nội thuê lại để nuôi gà, anh P nhờ hoặc thuê ông T trông nom, chăm sóc. Đến
ngày 07/5/2023 giữa anh H1 và anh P mâu thuẫn với nhau về vấn đề thuê trại.
Anh H1 đến trại cho anh P thuê mời anh P lên để giải quyết nhưng đến ngày
hôm sau anh P mới lên, khi đến nơi anh P gọi điện cho anh báo chết (s
lượng chết anh không biết), sau đó anh P yêu cầu anh phải bồi thường s
chết nếu không sẽ báo công an, anh chưa biết nguyên nhân gà chết, đúng sai thế
nào. Anh mặt đó ngày m trước nên anh P nói báo công an làm việc nếu
không bồi thường. Trong lúc tinh thần anh đang hoảng loạn thì ông T đã tát nước
theo mưa, yêu cầu anh viết giấy nhận nợ cụ thể là: 30.000.000đ (tiền công chăn
nuôi 03 lứa gà) 140.000.000đ (tiền bán gà). Tổng stiền 170.000.000đ
yêu cầu vợ chồng anh nhận, rồi ông T giữ giấy nhận nợ đó. Khoảng 15 phút
sau, ông T lợi dụng lúc tinh thần anh đang hoảng loạn và nhẹ dạ cả tin đã tiếp tục
yêu cầu anh viết nợ thêm 200.000.000đ thì ông T sẽ giàn xếp với anh P để giải
quyết nội bộ, đồng thời sẽ cho anh tiếp tục sử dụng trại gà trên đất nhà ông T để
nuôi gia công. Sau khi ông T nhận được tờ giấy nhận nợ đó thì ông T đã không
cho anh lấy trại để tiếp tục nuôi gia công gà mà ông T đã tự ý lấy trại của các anh
cho người khác thuê không được sđồng ý ca anh (ước tính số tiền ông T đã
thu được từ việc cho thuê trại là 70.000.000 đồng).
Nay ông T khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11 giải quyết buộc
vợ chồng anh thanh toán toàn bộ số tiền 370.000.000đ theo giấy nhận nợ lập ngày
08/5/2023, anh không đồng ý giấy nhận nợ trên chỉ 30.000.00tiền công
thuê chăn nuôi 03 lứa 2, 3, 4 anh H1, anh C, anh T1 phải trách nhiệm
thanh toán cho ông T còn số tiền bán gà viết như trong giấy nhận nợ theo yêu cầu
của ông T hoàn toàn không có vì toàn bộ số tiền bán gà là phải nộp về công ty gia
công.
6
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Hữu C trình bày:
Khoảng đầu năm 2020, anh với anh H1 anh T1 (con rể ông T) ng hợp tác
xây dựng trại gà ở thôn X, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc trên đất nhà ông T (ông
T cho mượn đất không phải trả tiền thuê). Tổng chi phí xây dựng mua trang
thiết bị chăn nuôi hết: 240.000.000đ chia đều cho ba người nên mỗi người
80.000.000đ, mục đích xây chuồng trại để chăn nuôi gia công gà màu cho công
ty J1; các anh cùng thống nhất thuê ông Khổng Kim T chăn nuôi mỗi lứa trả
tiền công 10.000.000đ cả anh, anh C, anh T1 (con rể ông T) và gia đình ông T đã
đồng ý. Tổng cộng là anh C, anh H1, anh T1 cùng nhau nuôi 4 lứa gà. Lứa 1 ông
T đã lấy hơn 200kg gà cưới con, các anh đã trừ vào tiền công chăn nuôi của ông
T của lứa 1, còn hạch toán lỗ lãi giữa anh C, anh H1 anh T1 thì các anh chưa
thanh hạch toán với nhau.
Việc ông T trình bày lứa thứ 2, thứ 3, thứ 4 anh T1, anh H1, anh C
ông T ng ngồi thống nhất với nhau là anh T1 không nuôi chung nữa mà để ông
T nuôi thì anh C không nắm được việc này, anh C không thấy anh T1 hay ông T,
anh H1 nói chuyện này. Anh C cũng không thống nhất với ông T, anh T1, anh H1
việc này.
Đối với lứa thứ 4, thì các anh vẫn thông Tăng N1 như ba lứa đầu, anh
H1 vẫn làm các công việc như 3 lứa đầu; cả 4 lứa anh H1 đều người
nhập giống cân thành phẩm với công ty cũng ncầm tiền do công ty
trả. Việc ông T trình bày lứa gà thứ nhất, ông T lấy 200kg gà cưới con thì ông
T đã trừ vào tiền công nuôi ông T đã nuôi thuê cho anh H1 trại gà trên
thôn R, X đã thống nhất với anh C, T1, H1 nvậy, nhưng anh C khẳng
định không việc các anh thống nhất để ông T lấy 200kg cưới con rồi ông
Tăng trừ luôn số tiền anh H1 còn nợ công nuôi gà trên trại gà ở Rừng C, vì đó là
trại gà riêng của anh H1 và việc anh H1 thuê riêng ông Tăng nuôi trên đó, không
liên quan đến của các anh nuôi trại gà trên đất nhà ông T. Anh C biết
việc ông T nuôi gà thuê cho anh H1 trại gà trên thôn R, xã X, còn việc ông T
anh H1 thanh toán tiền công cho nhau thế nào thì anh C không biết, đó việc
riêng của ông T và anh H1. Đến nay cả 4 lứa gà anh H1 vẫn chưa thanh toán cho
anh C đồng nào. Đối với số tiền anh H1 chưa thanh toán cho anh anh T1
thì anh sẽ thỏa thuận với anh H1, anh không đnghị giải quyết trong vụ án này.
Nếu không thỏa thuận được anh sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Nay ông T khởi kiện yêu cầu anh H1 trả tiền, anh đề nghTòa án giải quyết
theo quy định Pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hà Ngọc T1 vắng mặt tại phiên
tòa ngày 22/9/2025, nhưng quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa ngày
05/3/2025 anh T1 trình bày: Anh là con rể của ông Khổng Kim T, anh cùng anh
7
H1, anh C thỏa thuận về việc hợp tác xây dựng chuồng trại chăn nuôi gà trên
đất của bố mẹ vợ anh. Cả ba anh thống nhất thuê ông T đứng ra chăn nuôi mỗi
lứa trả 10.000.000đ. Anh H1 người trực tiếp nhập con giống. Anh cùng anh H1,
anh C nuôi lứa gà thứ nhất, sau đó đến lứa gà thứ 2, 3, 4 anh không tham gia nuôi
nữa để bố vợ anh ông T tham gia nuôi cùng anh H1, anh C. Hiện nay các
lứa anh H1 đã xuất chuồng từ lâu nhưng không thanh toán tiền công cho ông
T nên ngày 08/5/2023 vợ chồng anh H1, chị D đã đứng ra giấy nhận nợ tiền
công chăn nuôi 04 lứa gà là 370.000.000đ với ông T.
Nay ông T khởi kiện yêu cầu anh Hoàng Xuân Nam H1 chị Nguyễn
Thị Lê D trả số tiền 370.000.000đ, anh đề nghị anh H1, chị D phải trả cho ông T
số tiền trên.
Với nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 34/2025/DS-ST ngày 22
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 401; Điều 406; Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự
năm 2015; Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Toà án. Xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Khổng Kim T về việc yêu
cầu thanh toán công chăn nuôi gà.
- Buộc anh Hoàng Xuân Nam H1 phải trả cho ông Khổng Kim T số tiền
30.000.000đ.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Khổng Kim T về việc buộc
anh H1 phải trả tiền bán 140.000.000đ tiền phí gia công chăn nuôi của ba
lứa gà 200.000.000đ.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm n quyết định về quyền yêu cầu thi hành án;
về án ptuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp
luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/9/2025, ông Khổng Kim T kháng cáo nội
dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án. Tại phiên tòa phúc thẩm ông
Khổng Kim T nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện thay đổi nội
dung kháng cáo không yêu cầu anh H1, chị D trả pchăn nuôi của các lứa gà với
số tiền 200.000.000đ nữa; chỉ đề nghị anh H1, chị D thanh toán tiền công 3 lứa
với số tiền 30.000.000đ và thanh toán tiền bán của lứa thứ 4 số tiền
140.000.000đ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không
8
chấp nhận kháng cáo của ông Khổng Kim T; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm
số: 34/2025/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 -
Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Khổng Kim T trong thời hạn luật định,
đơn hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.
[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập các
đương sự đến tham dự phiên tòa và các đương sự đã nhận được văn bản của Tòa
án hợp lệ. Tuy nhiên một số đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc đã ủy quyền
cho người khác tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật. Do vậy Tòa án đưa
vụ án ra xét xử vắng mặt là phù hợp quy định của pháp luật.
[3]. Về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết ván: Ông Khổng Kim
T khởi kiện đối với anh Hoàng Xuân Nam H1 chị Nguyễn Thị D đề nghị
Tòa án buộc vợ chồng anh N, chị D phải thanh toán số tiền theo giấy nhận n
ngày 08/5/2023 370.000.000đ; phía bị đơn anh N, chị D quan điểm không
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T. Hiện nay anh N, chị D bị đơn trú
tại L, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ vào Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1
Điều 38; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định vụ án“Kiện đòi tài
sản” thuộc thẩm quyền giải quyết thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 11 Phú
Thọ. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Khổng Kim T kháng cáo nên vụ án thuộc thẩm
quyền giải quyết phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
[4]. Về nội dung vụ án:
Theo nguyên đơn thì ông Khổng Kim T với anh Hoàng Xuân Nam H1
anh Hoàng Xuân C1 thỏa thuận về việc cùng nhau hợp tác xây dựng trại chăn nuôi
gà tại gia đình ông T. Theo nội dung thỏa thuận: Ông T sẽ là người trực tiếp dùng
diện tích đất của gia đình để làm trang trại chăn nuôi gà, con rể ông T anh
Ngọc T1 bỏ vốn làm chung cùng anh H1, anh C1, cùng đầu tư vốn để xây chuồng
trại trực tiếp bỏ thời gian, công sức của mình để chăn nuôi từ khi còn nhỏ
đến khi đạt tiêu chuẩn để xuất bán. Anh H1 ng anh C1 thuê ông T chăm sóc
hàng tháng, sau khi quyết toán lứa tiền lãi chia làm 3 phần của 3 lứa đầu. Về
lứa thứ 4, anh H1 không nuôi nữa nhưng anh H1 đứng ra bán giữ toàn bộ
số tiền thu được. Ngoài ra anh H1 còn giữ tiền công ty trả phí gia công chăn nuôi
gà 4 lứa.
Sau khi tất toán với công ty bốn lứa gà trên, gia đình ông T đã nhiều lần
nhắc anh H1 trả tiền công cho gia đình ông, anh H1 đã không trả xin khất nhận
9
nợ. Đến ngày 08/5/2023, vợ chồng anh H1, chị D đã viết giấy nhận nợ với gia
đình ông T số tiền 370.000.000đ hẹn đến ngày 20/6/2023 vợ chồng anh H1, chị
D sẽ thanh toán đầy đủ. Do không thanh toán đủ tiền theo thỏa thuận nên ông T
khởi kiện anh N, chị D yêu cầu thanh toán số tiền 370.000.000đ trên; còn phía
anh N, chị D là bị đơn có quan điểm không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông
T với do: Anh đã cùng anh C1, anh T1 bỏ vốn làm trang trại trên đất của ông
T, chỉ thỏa thuận thuê ông T chăm sóc mỗi lứa 10.000.000đ nên ông T
không liên quan đến tiền phí Công ty trả cho việc nuôi của trang trại cũng
như tiền bán gà; còn việc anh N, chD ký vào giấy nhận nợ ngày 08/5/2023 là do
bị gia đình ông T ép buộc vì hoảng sợ nên ký vào giấy tờ này.
Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông T
về việc trả tiền ng chăm sóc gà; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T
về tiền bán gà và tiền pgia công của ba lứa gà. Do không đồng ý với quyết định
của Tòa án cấp thẩm, ông Khổng Kim T kháng cáo nội dung đề nghị Tòa án
cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
[5]. Xét về yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của ông Khổng Kim T;
Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[5.1]. Về Hợp đồng thỏa thuận hợp tác chăn nuôi giữa anh H1, anh C1
và anh T1: Các tài liệu thu thập trong quá trình giải quyết vụ án và lời thừa nhận
của các đương sự đủ sở xác định: Vào khoảng tháng 5/2020, anh H1, anh
C1, anh T1 có thỏa thuận miệng với nhau về việc hợp tác xây dựng trại chăn nuôi
màu cho Công ty G công ty J1 mượn đất nhà ông T thôn X, T,
huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc nay thôn X, xã T, tỉnh Phú Thọ để xây dựng trang trại,
ông T nhất trí. Cả ba người thống nhất thuê ông T chăn nuôi trông nom, mỗi
lứa trả 10.000.000đ. Tiền xây dựng trại gà hết bao nhiêu thì chia đều cho anh H1,
anh C1 anh T1; Ngoài ra, ba người còn thống nhất, anh H1 người đứng ra
hợp đồng với công ty từ việc nhận con giống, thức ăn, thuốc phòng bệnh đến
khi công ty cân thanh toán tiền cho anh H1. Mặc dù việc nuôi gia công
màu cho công ty được thỏa thuận bằng miệng nhưng đã được các đương sự thừa
nhận do đó Hợp đồng thỏa thuận hợp tác chăn nuôi u cho công ty của anh
H1, anh C1 và anh T1 hiệu lực pháp luật.
Đối với việc anh T1 trình bày rằng ban đầu thỏa thuận cùng anh H1, anh
C1 nuôi gà màu cho công ty, anh T1 chỉ tham gia nuôi lứa gà thứ nhất cùng anh
C1, anh H1, sau đó anh T1 không tham gia nuôi nữa để ông T đứng ra nuôi cùng
anh C1, anh H1; phía ông T tngay từ đơn khởi kiện đã khẳng định việc thỏa
thuận nuôi cho công ty “Tôi sẽ người trực tiếp dùng diện tích đất của gia
đình mình để làm trang trại chăn nuôi gà, con tôi bỏ vốn m chung cùng anh H1,
anh C1...cùng đầu vốn để xây chuồng trại trực tiếp bỏ thời gian, công sức
10
của mình để chăn nuôi gà từ khi còn nhỏ đến khi đạt tiêu chuẩn để xuất bán. Anh
H1 cùng anh C1 thuê tôi chăm hàng tháng”. Bị đơn anh H1 người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan anh C1 trình bày thống nhất về việc anh H1, anh C1, anh
T1 (con rể ông T) cùng góp tiền xây chung trại gà trên đất nhà ông T (ông T cho
mượn đất không phải trả tiền thuê) và trình bày thống nhất với ông T việc các anh
thuê ông T chăn nuôi gà mỗi lứa trả công là 10.000.000 đồng. Như vậy bản thân
ông T cũng thừa nhận anh T1 bỏ vốn làm chung cùng anh H1, anh C1, ông T được
anh T1, anh H1anh C1 thuê nuôi gà. Anh T1 trình bày anh chỉ tham gia nuôi
cùng anh H1, anh C1 lứa thứ nhất, từ lứa thứ hai đến lứa thứ 4 anh để cho ông T
nuôi cùng anh H1, anh C1 nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh và anh
H1, anh C1 không thừa nhận, nên việc anh T1 trình bày lứa thứ 2, 3, 4 anh không
tham gia nuôi cùng anh H1, anh C1 nữa và việc ông T trình bày “ông cùng thống
nhất với anh H1, anh C1 thỏa thuận miệng về việc cùng nhau hợp tác xây dựng
trại chăn nuôi trên đất của gia đình ông, theo đó ông sẽ người trực tiếp dùng
diện tích đất của gia đình mình để làm trang trại chăn nuôi gà…” là không có cơ
sở chấp nhận.
[5.2]. Về yêu cầu thanh toán tiền công chăn nuôi 3 lứa đầu với số tiền
30.000.000đ của ông T, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Các tài liệu, chứng
cứ có trong hồ sơ ván được các đương sự là ông T, anh H1, anh C1, anh T1 đều
thừa nhận việc thông T nuôi cho anh H1, anh C1, anh T1 anh H1
người đứng ra trả tiền công nuôi gà cho ông T mỗi tháng 10.000.000 đồng.
Lứa gà thứ nhất: Ông T trình bày trước khi nuôi chung 4 lứa gà tại trại
trên đất nhà ông, thì anh H1 còn nuôi 01 trại bên cạnh đất nhà ông T, anh H1
cũng thuê ông Tăng N1 trả công 7.000.000đ/1 lứa gà, trong thời gian ông T
nuôi thuê lứa gà này cho anh H1 thì ông T cưới con đã lấy 200kg gà ở trại gà
của anh H1 bên cạnh đất nhà ông, chứ không phải lấy 200kg gà ở trại gà trên đất
nhà ông và anh H1 đã trừ vào tiền công anh H1 thuê ông T chăn nuôi gà của trại
bên cạnh nhà ông T. Tại phiên tòa ngày 16/9/2025, ông T người bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của ông Tăng L trình bày khoảng năm 2019 (trước khi
làm trại nuôi trên đất của ông T) thì ông T nuôi gà thuê cho anh H1 trại
tại thôn R, xã X, anh H1 còn nợ tiền công nuôi thuê là 18.000.000đ nên ông đã
lấy 200kg để trừ vào tiền công nuôi trên trại Rừng C. Như vậy lời trình
bày của ông T không thống nhất (lúc thì trình bày trừ vào tiền công nuôi thuê
ở trại gà bên cạnh trại gà của gia đình ông tại thôn X, lúc thì trình bày là trừ vào
tiền công nuôi thuê ở trại gà thôn R trong khi đó tiền công nuôi gà thuê ở hai trại
khác nhau, trại trên thôn X giáp trại trên đất nhà ông T thì tiền công
nuôi thuê 7.000.000đ, còn tiền công nuôi thuê trại thôn R
18.000.000đ); phía anh C1 cũng thừa nhận ông T lấy hơn 200kg cưới con
lấy ở lứa gà thứ nhất nuôi ở trại gà trên đất của gia đình ông T. Anh H1 cho rằng
11
việc ông T lấy 240kg gà đcưới con lấy trại anh H1, anh C1, anh
T1 nuôi chung trên đất nhà ông T (lứa thứ nhất), việc ông T cho rằng anh H1
nợ tiền công nuôi thuê của ông T ở trại gà trên thôn R là không đúng vì trong thời
gian ông T nuôi gà thuê cho anh H1 ở trại gà thôn R, vợ chồng ông T có vay của
vợ chồng anh H1 số tiền 70.000.000đ, sau đó vợ chồng ông T đã trả được
50.000.000đ, còn nợ lại 20.000.00n anh H1 đã đối trừ luôn vào tiền công
thuê ông T chăn nuôi. Do đó anh H1 không còn nợ tiền công chăn nuôi của ông
T trại tại thôn R. Chị D (vợ anh H1) trình bày vợ chồng ông T vay số tiền
70.000.000đ, ông T đã trả được 50.000.000đ, còn nợ lại 20.000.000đ anh H1 đã
đối trừ vào tiền công thuê ông T nuôi gà trên trại gà thôn R. Phía ông T và bà T2
cũng thừa nhận trong thời gian ông T nuôi gà thuê cho anh H1 ở trại gà trên thôn
R thì vợ chồng ông T có vay của vợ chồng anh H1 70.000.000đ và đã trả số tiền
trên cho anh H1, trả làm hai lần, lần 1 trả 50.000.000đ, lần 2 trả 20.000.000đ. Như
vậy việc anh H1 trình bày trong thời gian ông T nuôi gà thuê cho anh H1 trại gà
tại thôn R, vợ chồng ông T vay của vợ chồng anh H1 số tiền 70.000.000đ
vợ chồng ông T đã trả được số tiền 50.000.000đ đúng, ông T T2 trình bày
đã trả được cho vợ chồng anh H1 số tiền 20.000.000đ còn lại nhưng không cung
cấp được tài liệu chứng cứ, phía anh H1 trình bày anh đã đối trừ số tiền ông T còn
nợ 20.000.000đ vào tiền công thuê ông T nuôi gà ở trại gà thôn R sở. Do
đó ông T trình bày ông lấy 200kg gà cưới con ở lứa gà thứ nhất tại trại gà của anh
H1, anh C1, anh T1 nuôi trên đất của gia đình ông T để trừ vào tiền công nuôi gà
của ông trên trại gà thôn R của anh H1 không chính xác; vậy việc anh H1
trình bày số 240kg ông T lấy cưới con đã được trừ vào tiền công nuôi
của ông T lứa thứ nhất sở, các bên đã thanh toán xong tiền công chăn
nuôi cho ông T xong lứa gà thứ nhất. Do đó ông T yêu cầu anh H1 trả tiền công
nuôi gà cho ông ở lứa gà thứ nhất không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Lứa gà thứ 2 và lứa thứ 3: Ông T và anh T1 trình bày lứa 2, 3 anh T1
không nuôi nữa mà để cho ông T nuôi cùng anh H1, anh C1; còn phía anh H1 và
anh C1 cho rằng không được ông T hay anh T1 nói về việc anh T1 không tham
gia nuôi cùng nữa để ông T nuôi; việc trình bày này của ông T, anh T1 mâu
thuẫn với việc tất cả các bên đều thống nhất trong Hợp đồng miệng là ông T chỉ
người nuôi thuê và được trả công mỗi lứa 10.000.000đ cũng như đã phân tích
trên mặc việc nuôi gia công gà màu cho công ty được thỏa thuận bằng miệng
nhưng đã được các đương sự thừa nhận do đó Hợp đồng thỏa thuận hợp tác chăn
nuôi gà màu cho công ty của anh H1, anh C1 và anh T1 hiệu lực pháp luật. Do
đó xác định lứa gà thứ hai và lứa gà thứ ba ông T vẫn nuôi thuê cho anh H1, anh
C1, anh T1; số tiền công nuôi thuê của hai lứa 20.000.000đ, anh H1, anh C1
thừa nhận chưa thanh toán tiền công nuôi gà cho ông T lứa thứ hai lứa thứ
12
ba. Do đó, yêu cầu của ông T về việc yêu cầu thanh toán tiền công nuôi gà ở lứa
2, 3 số tiền 20.000.000đ là có cơ sở.
Lứa gà thứ 4: Ông T trình bày lứa gà này chỉ có ông T và anh C1 tham gia
nuôi, anh H1 không tham gia nuôi nữa. Tuy nhiên do anh H1 vẫn đứng tên trên
Hợp đồng gia công với công ty nên ông T anh C1 vẫn nhờ anh H1 nhập con
giống, cám, thuốc phòng bệnh, cân cho công ty nhận tiền; phía anh C1 thì
cho rằng ngay từ đầu anh C1, anh H1, anh T1 đã thỏa thuận thống nhất với nhau
cả ba anh cùng chung nhau nuôi gia công gà màu cho công ty và thuê ông T nuôi
gà mỗi lứa trả 10.000.000đ, dù lỗ, hay lãi các anh đều phải thanh toán cho ông T
tiền công chăn nuôi, ngoài ra ông T không được nhận thêm bất cứ khoản tiền nào
khác và thực tế lứa gà thứ 4 ông T vẫn nuôi như các lứa gà trước. Phía anh H1 t
khẳng định ở lứa thứ 4 anh vẫn tham gia nuôi cùng anh C1, anh T1, vẫn làm
các công việc như các lứa gà trước. Lời trình bày của anh C1 anh H1 phù
hợp nhau. Căn cứ vào lời trình bày của các đương scũng như hóa đơn, chứng t
công ty thanh toán cho anh H1, hóa đơn, chứng từ thuốc phòng bệnh, cám mua
ngoài...mà anh H1 phải chi phí, xét thấy: Thực tế lứa thứ 4, anh H1 vẫn
người thực hiện tất cả các công việc như nhập con giống, cám, thuốc phòng bệnh,
thuê người tiêm gà, dọn vệ sinh, thuê người bốc vác giống, cám, gà thành phẩm,
cân gà cho công ty...ông T và anh C1 đều thừa nhận việc này; Như đã phân tích ở
trên, ông T chỉ người được thuê nuôi được trả công theo từng lứa, chứ
không tham gia nuôi gia công cùng anh H1, anh C1 và anh T1. Do đó việc ông T
cho rằng lứa thứ 4 chỉ có ông T, anh C1 đứng ra nuôi nên ông T yêu cầu anh H1
phải thanh toán tiền gia công anh H1 đã nhận thanh toán từ công ty cho ông T
không có cơ sở chấp nhận.
Mặc dù ông T chỉ yêu cầu anh H1 là người có trách nhiệm thanh toán tiền
công nuôi gà của 3 lứa gà đầu số tiền 30.000.000đ, không yêu cầu thanh toán tiền
công chăn nuôi của lứa gà thứ 4 (vì ông T cho rằng lứa thứ 4 ông người đứng
ra nuôi nên ông không yêu cầu thanh toán tiền công nuôi của lứa 4), nhưng n
đã phân tích trên, lứa 1 giữa ông T anh C1, anh T1, anh H1 đã thanh toán
tiền công nuôi gà cho nhau xong, chỉ còn lứa 2, 3, 4. Phía anh H1, anh C1 cũng
thừa nhận lứa thứ nhất đã thanh toán xong tiền công nuôi gà cho ông T, chỉ còn
nợ lại tiền ng nuôi của lứa 2, 3, 4. Hội đồng xét xử xác định trách nhiệm
thanh toán tiền công nuôi thuộc về cả ba người anh H1, anh C1, anh T1 cũng
như n cứ vào lời trình bày của các đương sự phù hợp với số tiền 30.000.000đ
anh H1 ghi trong giấy nhận nợ, nên xác định hiện anh H1, anh C1, anh T1 còn nợ
ông T tiền công thuê nuôi gà của lứa 2, 3, 4 là 30.000.000đ. Quá trình giải quyết
vụ án và tại phiên tòa, anh H1 tự nguyện đứng ra trả số tiền 30.000.000đ cho ông
T sau đó anh H1 sẽ giải quyết với anh C1, anh T1 sau, nếu không giải quyết được
anh H1 sẽ đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác. Do đó cần ghi
13
nhận sự tự nguyện này của anh H1 và buộc anh H1 phải thanh toán cho ông T số
tiền công chăn nuôi gà của lứa 2, 3, 4 là 30.000.000đ là phù hợp.
[5.3]. Đối với yêu cầu của ông T buộc vợ chồng anh H1, chị D phải trả ông
T stiền bán gà lứa thứ 4 số tiền là 140.000.000đ; thấy rằng: Qtrình giải quyết
vụ án anh H1 trình bày anh H1 ghi vợ chồng anh H1 có nợ ông T tiền bán gà của
lứa 4 là 140.000.000đ; tiền phí gia công của 3 lứa chưa có khoảng 200.000.000đ
là do trước đó giữa anh H1anh P mâu thuẫn, anh một trại gà (ngay cạnh
nhà ông T) cho anh P thuê lại để nuôi gà, anh P nhờ hoặc thuê ông T trông nom
và chăm sóc. Đến ngày 7/5/2023 anh H1 và anh P mâu thuẫn với nhau về vấn
đề thtrại, anh H1 đến trại cho anh P thuê mời anh P lên để giải quyết
nhưng đến ngày hôm sau anh P mới lên, khi đến nơi anh P gọi điện cho anh H1
báo là gà chết (số lượng gà chết anh H1 không nắm được), sau đó anh P yêu cầu
anh H1 phải bồi thường số chết nếu không sẽ báo công an, phía anh H1 chưa
biết nguyên nhân chết, đúng sai thế nào anh H1 đã mặt đó ngày hôm
trước. Trong lúc tinh thần anh H1 đang hoảng loạn thì ông T đã yêu cầu anh H1
viết giấy nhận nợ với số tiền cụ thể như nêu trên và ông Tăng giữ tờ giấy nhận nợ
đó. Khoảng 15 phút sau, ông T lợi dụng lúc tinh thần anh H1 đang hoảng loạn và
sự nhẹ dạ cả tin của anh H1 đã tiếp tục yêu cầu anh H1 viết nợ thêm 200.000.000đ
thì ông T sgiàn xếp với anh P đgiải quyết nội bộ, đồng thời sẽ cho anh H1 tiếp
tục sử dụng trại trên đất nhà ông T để nuôi gia công. Nhưng sau khi ông T nhận
được tờ giấy nhận nợ đó thì ông T đã không cho anh H1 lấy trại để tiếp tục nuôi
gia công ông T tự ý lấy trại của anh H1, anh T1, anh C1 cho người khác
thuê mà không được sự đồng ý ca ba anh (ước tính số tiền ông T đã thu được từ
việc cho thuê trại là 70.000.000đ). Vì vậy số tiền bán gà viết như trong giấy nhận
nợ theo yêu cầu của ông T hoàn toàn không có. Quá trình giải quyết vụ án cũng
như tại phiên toà có đủ căn cứ xác định anh H1 vẫnngười trực tiếp nuôi gà lứa
thứ 4 ông T vẫn chỉ là người được các anh thuê chăm sóc như các lứa gà 1,2,3.
Do đó ông T không quyền yêu cầu anh H1 phải trả số tiền thu nhập có được từ
lứa thứ là 140.000.000đ như đã viết trong giấy ông T cũng không
quyền yêu cầu anh H1 phải trả số tiền ghi trong giấy còn khoảng 200.000.000đ
tiền bán gà từ lứa 1,2,3.
Phía ông T trình bày việc anh H1 cho rằng khi anh viết giấy nhận nợ số tiền
140.000.000đ 200.000.000đ trong lúc tinh thần đang hoảng loạn không chính
xác giữa anh H1 anh P mâu thuẫn như thế nào ông T không biết, giữa
ông T và anh H1 không liên quan gì đến mâu thuẫn của anh H1 và anh P; việc
của anh P ở chuồng bên cạnh bị chết do hôm trước anh H1 có đến không cho
ông T bật điện làm mát chuồng dẫn đến gà bị chết. Việc anh H1 viết giấy nhận
nợ ngày 08/5/2024 là hoàn toàn tự nguyện không bị ép buộc. Qua lời khai của các
đương sự cũng như Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc mâu
14
thuẫn của anh H1 và anh P ở trại gà bên cạnh xác định ông T có được anh P thuê
nuôi gà ở trại gà của anh P cạnh nhà ông T có việc sau khi anh H1 lên trại gà
của anh P để giải quyết mâu thuẫn sau đó bị chết. Mặc dù anh H1 chị D thừa
nhận chữ viết, chữ ký, nội dung nhận nợ của mình trong giấy nhận nợ đúng, tuy
nhiên số tiền gia công chăn nuôi 340.000.000đ không có, bởi lẽ căn cứ vào trình
bày của anh H1 tài liệu, chứng cứ do Công ty TNHH J2 cung cấp thì phí gia
công chăn nuôi công ty thanh toán cho anh H1 ở lứa gà thứ 2 (lứa 1 nuôi gia công
cho công ty G, từ lứa thứ hai trở đi nuôi gia công cho công ty TNHH J2)
21.466.628đ; phí gia công chăn nuôi của lứa 3 công ty J2 trả cho anh H1
6.941.689đ và lứa thứ 4 công ty trả phí gia công chăn nuôi cho anh H1 là 0đ; lứa
gà thứ nhất nuôi gia công cho công ty G mc dù không có hóa đơn thanh toán của
công ty nhưng anh H1 thừa nhận phí gia công công ty thanh toán cho anh H1
15.000.000đ. Tổng cả 4 lứa 43.408.317đ. Ông T trình bày đối với lứa
thứ 4 sau khi trả đủ sản lượng cho công ty thì vẫn còn thừa 900kg anh H1
đã bán ra ngoài, tuy nhiên ông T không đưa ra được tài liệu, chứng cứ để chứng
minh. Như vậy cả 4 lứa công ty thanh toán phí gia công mới được 43.408.317đ,
nên việc anh H1 trình bày anh viết giấy nhận nợ trong lúc tinh thần hoảng loạn và
thực tế tiền gia công chăn nuôi của cả 4 lứa là cósở và ông T cho rằng anh H1
còn nợ ông tiền phí gia công 340.000.000đ của 4 lứa không căn cứ, không
được chấp nhận.
[6]. Về tài liệu, chứng cứ ông T xuất trình trong quá trình xét xử phúc thẩm
và tại phiên tòa phúc thẩm ông T, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông
T cho rằng sở để buộc anh H1, chị D phải trả ông T số tiền 140.000.000đ
căn cứ vào Đề nghị thanh toán của anh H1 lứa thứ 4 ngày vào 02/5/2022,
ngày bán gà 06/9/2022 ca trạiHoàng Xuân Nam H1 2 do anh H1 được thanh
toán của Công ty nhưng không trả tiền ông T số tiền 140.000.000đ. Cụ thể: Phí
nuôi gà lứa thứ 4 là 84.549.000đ và số gà dôi dư của lứa thứ 4 khoảng 900kg anh
H1 bán được 60.000.000đ nhưng không trả ông T (giá 65.000đ/01kg). Tại phần
xét hỏi và tranh luận trong phiên tòa phúc thẩm, ông T và người bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của ông T giải trình căn cứ vào đề nghị thanh toán của anh H1 đối
với công ty J thì tổng số gà con nhập về trại gà là 5530 con, quá trình nuôi bị hao
hụt do bị chết nên chỉ còn lại thực tế xuất bán 4.406 con; mỗi con trọng
lượng bình quân 2,4kg nên tổng s gà xuất bán cho công ty A; số còn lại dôi
do vượt sản lượng là 900kg. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào chính tài liệu do ông T,
người bảo vquyền lợi cho ông T giải trình lứa gà thứ 4 thì sẽ không còn gà dôi
vượt sản lượng 900 kg như ông T trình bày. Cụ thể thực tế xuất bán là
4.406 con x 2,4 kg/01 con = 10.574 kg đã xuất bán toàn bộ cho công ty rồi thì còn
đâu số vượt sản lượng. Do vậy, việc ông T cho rằng lứa thứ 4 vượt sản lượng
bán ra ngoài 900 kg không căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp
15
nhận; còn về gsố tiền 65.000đ/01 kg Hội đồng xét xử thấy rằng: Với giá
công ngiệp tại thời điểm xuất ngày 06/9/2022 không phù hợp thực tế mâu
thuẫn với chính lời trình bày của ông T tại phiên tòa và các tài liệu có trong hồ
vụ án. Cụ thể đó là: Căn cứ vào lứa gà thứ nhất ông T đã lấy hơn 200kg cưới
con phía anh H1, anh C1 đã đối trừ số tiền công 10.000.000đ tgiá chỉ
khoảng chưa đến 50.000đ/01kg; tại phiên a phúc thẩm chính ông T thừa nhận
có lấy gà cưới con tại trang trại gà của anh H1 khoảng hơn 200kg, tính ra số tiền
phải trả và đã trừ nợ là hơn 6.000.000đ nếu căn cứ vào lời khai này của ông T thì
giá khoảng 30.000đ/01 kg; ngoài ra thực tế giá công nghiệp bán trên thị
trường tự do không thể có giá 65.000đ/01 kg tại thời điểm tháng 9/2022 như giải
trình của ông T (lời khai của người làm chứng, bảng giá do công ty J3 cung
cấp có trong hồ sơ vụ án). Từ các căn cứ trên có đủ sxác định việc ông T giải
trình số tiền anh H1 nợ và anh H1 phải thanh toán, trả ông T số tiền 140.000.000đ
là không có căn cứ.
Mặc giấy nhận nngày 08/5/2023 do anh H1, chị D ông T yêu
cầu trả số tiền theo giấy nhận nợ nhưng căn cứ xác định việc này trong hoàn
cảnh không tự nguyện. do: Tại thời điểm trang trại gà của anh P bị chết do
nguyên nhân anh H1 đến yêu cầu anh P tăng giá tiền thuê trang trại, trang trại bị
mất điện dẫn đến gà chết, lúc này cơ quan công an đang điều tra lý do gà chết để
xem dấu hiệu của tội hủy hoại tài sản không, sau đó anh H1 đã phải bồi thường
cho anh P tiền, quan điều tra đã không khởi tố vụ án hình sự về chết tại trang
trại anh P; điều này được thhiện rõ tại các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ
án việc ông T không giải trình được số tiền 140.000.000đ. Ngoài ra việc anh
H1, chị D ký giấy nhận nợ không tự nguyện còn thể hiện việc stiền phí gia
công của 3 lứa gà không liên quan gì đến ông T nhưng ông T vẫn bắt anh H1
nhận nvới ông T để căn cứ đó ông T khởi kiện yêu cầu anh H1, chị D thanh
toán.
Từ những phân tích như trên Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Tòa án
cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập
khách quan, đúng pháp luật kết hợp với việc xét hỏi công khai tại phiên tòa đ
quyết định chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Khổng Kim T đối với
anh N căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Do vậy kháng cáo của ông
Khổng Kim T là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề ngh
Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Khổng Kim T;
giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 11- Phú Thọ là
có căn cứ, được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, ông Khổng Kim
16
T phải chịu. Tuy nhiên, vì ông T là người cao tuổi và đã có đơn xin miễn tiền án
phí nên được miễn án phí.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Khổng Kim T; giữ nguyên Bản án dân sự
thẩm số: 34/2025/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực
11 Phú Thọ.
1. Căn cứ vào các Điều 401; Điều 406; Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự
năm 2015; Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghquyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Toà án. Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Khổng Kim T về việc
yêu cầu thanh toán công chăn nuôi gà.
- Buộc anh Hoàng Xuân Nam H1 phải trả cho ông Khổng Kim T số tiền
30.000.000đ.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Khổng Kim T về việc buộc
anh Hoàng Xuân Nam H1 phải trả tiền bán gà 140.000.000đ .
Kể tngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông Khổng Kim T đơn yêu cầu
thi hành án, nếu anh Hoàng Xuân Nam H1 không thanh toán khoản tiền nêu trên
thì còn phải chịu lãi theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân
sự năm 2015, đối với số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
17
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 11 – Phú Thọ;
- Phòng THADS khu vực 11 – Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA; Tòa Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Duy Sơn
18
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 136/2026/DS-PT Bản án số 136/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 136/2026/DS-PT Bản án số 136/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất