Bản án số 128/2025/DS-PT ngày 19/10/2025 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 128/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 128/2025/DS-PT ngày 19/10/2025 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 128/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/10/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: UBND xã khởi kiện bà Tân đòi quyền sử dụng đất cho mượn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 128/2025/DS-PT
Ngày 19-9-2025
V/v Tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tân
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Giang và bà Quách Thị Phương Thuý
- Thư phiên t: Ông Phạm Quang Bảo - Thư Toà án nhân dân
thành phố Hải Phòng.
- Đi diện Vin Kiểm sát nhân dân thành ph Hi Phòng tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải
Phòng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 111/2025/TLPT-DS ngày 10
tháng 7 năm 2025 về việc “Tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu”.
Do Bản án n s sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2025
của a án nhân dân huyện Th, tỉnh Hải Dương (nay Toà án nhân dân khu
vực 13 - Hải Phòng) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 136/2025/QĐXXPT-
DS ngày 12 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 144/2025/QĐPT-
DS ngày 04/9/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: UBND B, thành phố Hải Phòng (trước đây UBND
H, huyện T, tỉnh Hải Dương); địa chỉ trụ sở: Xã B, thành phố Hải Phòng; đại
diện theo pháp luật: Ông Khổng Quốc T - Chủ tịch UBND xã; đại diện theo uỷ
quyền: Ông Nguyễn Văn Th - Phó Chủ tịch UBND xã; đều vắng mặt đơn
đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; nơi trú: Thôn A, Bắc
Th, thành phố Hải Phòng (trước đây là xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương); có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm
1987; nơi cư trú: Thôn 4, xã T, Thành phố Hà Nội (tớc đây là xã C, huyện Th,
thành phố Hà Nội); có mặt.
Người bảo vệ quyền li ích hợp pháp của bị đơn: Đỗ Thị H ông
Đình V - Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH M; địa chỉ: Tầng 4, số 102 T,
2
phường Đ, Thành phố Nội (trước đây phường Tr, quận Đ, Thành phố
Nội); đều có mặt.
3. Người kháng cáo: Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; nơi trú: Thôn
A, Bắc Th, thành phố Hải Phòng (trước đây H, huyện T, tỉnh Hải
Dương); có mặt.
NỘI DNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai, quá trình giải quyết tại Tòa án tại
phiên tòa người khởi kiện UBND H, đại diện theo pháp luật- Chủ tịch UBND
trình bày: Ngày 05/11/1989, bà Nguyễn Thị T Đơn xin mượn đất bán quán
được UBND xã H đồng ý cho mượn phần diện tích đất tại cổng Trạm y tế
H. Tđã dựng nhà tạm diện tích khoảng 15m
2
để bán hàng để (cùng với
mẹ đẻ) từ đó cho đến nay. Vì phần diện tích đất này nằm trong hành lang an toàn
giao thông đường Tỉnh lộ 393, nên trong các năm 1991, 1992, Đảng y, UBND
H đã họp ra Nghị quyết giải tỏa khu vực quán bán hàng của Tnhưng
chưa thực hiện được.
Năm 2011, Txây dựng công trình nhà kiên cố, UBND xã Hđã ra Thông
báo số 05/TB-UBND ngày 16/6/2011, yêu cầu Tdừng việc xây dựng ng
trình, tự giải tỏa vật liệu ra khỏi diện tích đất này. Tđã khởi kiện UBND
Hđến a án nhân dân huyện Th. Tòa án nhân n huyện Th đã t xử xác
định Bà Tkhông quyền xây dựng trên diện tích đất bán hàng đó xác định
UBND xã Hra văn bản không cho Bà Ttiến hành xây dựng là đúng quy định pháp
luật. Ngày 09/10/2018, gia đình Bà Ttiếp tục thi công y dựng nhà trên diệnch
đất đã mưn trước cổng Trạm y tế H. UBND đã đến yêu cầu dừng việc thi
ng, khc phục hậu qu tr lại phn đất đã xây dựng phía trước Trm y tế H.
Ttiếp tục khi kin nh vi nh chính của UBND Hvà a án nhân n
huyện Th t xử thm, a án nhân dân tỉnh Hải Dương xét x phúc thẩm cũng
c định Tkng có quyền xây dựng trên phn diện tích đt này.
UBND Hkhởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Th giải quyết:
Tuyên bố giao dịch mượn đất giữa Nguyễn Thị T và UBND Htheo “Đơn
xin ợn đất bán quánhiệu giải quyết hậu quả của việc tuyên bố giao
dịch vô hiệu theo quy định pháp luật.
Tại bản trình bày ý kiến, các lời khai trong quá tnh giải quyết vụ án và tại
phiên tòa, bị đơn, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn, người đại
diện theo ủy quyền ca bị đơn trình bày: Bà Tkhông đồng ý với yêu cầu khởi kiện
của UBND Hbởi lý do sau: Đơn Sin mượn đất bán quán” ngày 05.11.1989
không thật, không phải của T, chữ ký, chữ viết của trong đơn đã bị cán
bộ, lãnh đạo Hgiả mạo. Từ trước đến nay bà chưa từng ký vào văn bản này.
đề ngha án nhân dân huyện Th yêu cầu UBND Hcung cấp bản gốc “Đơn
Sin ợn đất bán quán” ngày 05.11.1989 thực hiện thủ tục trưng cầu giám
định chữ ký, chữ viết, tuổi mc, theo đúng quy định của pháp luật. Bà Tkhông
được UBND Htiến hành việc giao đất tại vị trí thửa đất số 87, tờ bản đồ số
04 gần cửa hàng mậu dịch theo bản phô Quyết định 119/QĐ ngày
3
15/11/1990 của UBND huyện N trong hồ vụ án. Căn cứ Công văn số
25/KTHT-GTVT ngày 13/5/2024 của Phòng kinh tế hạ tầng cho thấy Thời điểm
năm 1990 khi Ts dụng đất thì chưa quy hoạch hành lang bảo vệ đường
393. Đến năm 1995, UBND huyện Nmới ban hành văn bản hướng dẫn xác định
hành lang bảo vệ đưng 393”. Thời điểm trước năm 1990, vị trí thửa đất số 7, tờ
bản đồ số 24 đất Ao do UBND Hquản lý. Sau khi được bàn giao đất theo
Quyết định 153/QĐ-UB ngày 23/02/1990 của UBND tỉnh Hải Hưng thì gia đình
Tmới tiến hành san lấp, xây nhà sử dụng vào mục đích để ở. Thửa đất gia
đình bà đang ở là thửa số 7, tờ bản đồ số 24, diện tích 122,4 m
2
, tại địa chỉ: Thôn
A, H, huyện Th nguồn gốc do bà được giao đất theo Quyết định số
153/QĐ-UB ngày 23/02/1990 của UBND tỉnh Hải Hưng (nay là tỉnh Hảiơng).
Do không có chỗn ngày 08/5/1988, đã làm đơn xin cấp đất kinh doanh với
nội Dng: “Đề nghị UBND xã H, Ban quản lý đất đai cấp cho bà một số đất ở cạnh
đường giao thông để làm quán nước nhỏ, sinh sống”. Ngày 10/5/1989, đơn xin
cấp đất nêu trên của đã được ông Nguyễn Tiến A Phó chủ tịch UBND
Hxét Dyệt, chuyển cho Ban quản ruộng đất ban tài chính xem xét. Ngày
23/02/1990, UBND tỉnh Hải Hưng ban hành Quyết định số 153/- UB về việc:
Cho phép UBND xã Hồng Q, huyện N (nay là huyện Th) được sử dụng
10.000m
2
ruộng đất: Ao, thổ cư cũ,u không để cấp cho 50 hnhân dân trong xã
làm nhà danh ch kèm theo, bình quân mỗi hộ 200m
2
. UBND huyện N ra
Quyết định cụ thể về vị trí, diện tích cho từng hộ. UBND Hphải sử dụng đúng
mục đích, đúng diện tích, đúng vị trí đúng loại ruộng đất được giao, đồng thời
chấp hành đầy đủ các quy định khác về công tác quản ruộng đất do nhà nước
đã ban hành”.
Theo Quyết định 153/QĐ- UB thì mt trong 50 hộ n đđiu kin
được giao đt năm 1990. Nên bà đã nộp tiền cho UBND Htheo Phiếu thu ny
05/8/1990. Sau đó được đại diện Ban quản ruộng đất xuống cắm mốc, bàn
giao đất đgia đình san lấp ao, làm nkinh doanh. Vị trí đất bà được
bàn giao chính thửa đất hiện tại gia đình bà sinh sống từ năm 1990 đến
nay. Tại thời điểm năm 1990, thì đường tỉnh lộ 393 còn rất hẹp, cách xa vị trí đất
của gia đình . UBND Hcho rằng, bà được giao thửa đất theo Quyết định
119/QĐ ngày 15/11/1990 của UBND huyện (thửa đất số 67, tờ bản đ04, diện
tích 140m
2
), tại vị trí Cửa hàng Hợp tác xã mua bán A cũ và sau đó bà đã chuyển
nhượng lại cho gia đình anh Nguyễn T, chị Nguyễn Thị Th không căn
cứ, không biên bản n giao đất, không giấy tờ chuyển nhượng đất đối với
gia đình anh T, chTh. Ngoài ra, theo Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất lần đầu đối với thửa đất số 67, tờ bản đồ 04 thì anh T đã khai xác nhận
nguồn gốc đất do ông cha để lại chứ không phải do nhận chuyển nhượng
quyn sdụng đất ca T.
Quyết định 119/QĐ ngày 15/11/1990 của UBND huyện Ncó dấu hiệu bị
tẩy, xóa UBND Hkhông cung cấp được bản gốc để đối chiếu. Ngi ra,
m 2003 khi Trm y tế Hthc hin thủ tục cấp giấy chng nhn quyền sử dụng
đất thì trong Bn bản giáp ranh th hin việc sử dụng đất giáp ranh gia
đình bà. Như vậy thửa số 7, tờ bản đồ s 24, din tích 122,4m
2
; địa chỉ: Thôn A,
4
H, huyn Th nguồn gốc do đưc giao đất theo Quyết định số 153/QĐ-
UB ngày 23/02/1990 của UBND tỉnh Hải ng chứ không phi ợn đt của
UBND Hnhưu cầu khi kin của nguyên đơn. Đối chiếu diện tích đất thc tế
gia đình đang sử dụng với nội Dng Quyết định 153 của UBND tỉnh Hải ng
thì còn thiếu phn diện ch đất được giao là: 200m
2
-122,4m
2
= 77,6 m
2
đất ở.
Ny 18/3/2024 Tyêu cầu phản tố, đề nghTòa án nhân n huyện Th
xem xét, giải quyết: Công nhận tha số 7, tờ bản đồ s 24, din ch 122,4m
2
, tại
địa chỉ: Thôn A, xã Hcó nguồn gốc là do bà đưc giao theo Quyết đnh số 153/-
UB ngày 23/02/1990 của UBND tỉnh Hải Hưng. Buộc Ủy ban nhânn xã Hphi
n giao phn din ch 77,6 m
2
đất ở n thiếu theo đúng Quyết định số 153/QĐ-
UB ngày 23/02/1990 của UBND tỉnh Hải Hưng.
Người có quyn lợi nga vụ liên quan UBND huyện Th, ngưi đại din theo
ủy quyn ông Nguyễn Thanh Tịnh trình y: Hin tại, Ủy ban nhân n huyện Th
không u gi đưc hồ cấp đất cho bà Nguyễn Th T theo Quyết định số
153/QĐ-UB ngày 23/02/1990 của UBND tnh Hải Hưng n không căn cứ để
khng định Tđưc giao đất theo Quyết định 153/QĐ-UB hay được UBND
Hcho mượn đất. Vtrí đất của Nguyễn ThT theo quy định hiện nay thuộc
nh lang đưng tỉnh 393; Vị trí cấp đất cho Tnăm 1990 nếu thì phải đối
chiếu với quy định nh giao thông tại thời đim đó để c định đất của Tcó
nằm trong nh lang giao thông hay không. Đnghị Tòa án nhân dân huyện Th
xem xét giải quyết vụ việc theo quy đnh của pháp luật.
Lời khai của ông Nguyễn Bá Toàn Nguyễn Thị Thuận xác định: Vợ
chồng ông, đi làm kinh tế trong Nam về biết Tkhông nhu cầu sử
dụng thửa đất được cấp tại cửa hàng hợp tác mua bán A, vợ chồng ông hỏi
mua được T(mẹ Tlà D) nhượng bán lại vào khoảng tháng 02/1990,
diện tích 120m
2
, với số tiền thỏa thuận 400.000 đồng, ông đã đưa cho bà D số
tiền 280.000 đồng, còn 120.000 đồng ông nộp về với do thời điểm đó việc
mua bán đất trái quy định của pháp luật. Năm 1996 thì ông, bà được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 67, tờ bản đồ số 4, khu cửa hàng
mua bán A, H. m 2000 gia đình ông, đã chuyển nhượng lại cho anh
Ca, chị Minh ở cùng thôn. Việc mua bán đất giữa Tvà gia đình ông, bà có làm
biên bản viết tay với nội Dng mua bán thỏa thuận giao nhận tiền nhưng đến
nay do thời gian đã nên không còn lưu giữ được.
Lời khai của ông Nguyễn Ngọc Nghìn, nguyên Chủ tịch UBND Htừ
tháng 02 năm 1989 đến hết năm 1989 thể hiện: Trong khoảng thời gian ông làm
chủ tịch UBND xã, Nguyễn Thị T đơn xin mượn diện tích đất trước cổng
trạm y tế xã Hđể bánng, ông đã c nhận vào đơn của bà T. Sau đó, bà Nguyễn
Thị T mẹ đẻ (bà D) đã ra đó bán quán cho đến nay. Ông xác định năm
1989 UBND chỉ cho ợn đất bán hàng không quyền chuyển nhượng,
diện tích đất này thuộcnh lang giao thông trưc trạm y tế xã.
Li khai ca ông Nguyễn Tiến Chinh, ông Nguyễn Tiến Ân nguyên Chủ tch,
P Chủ tịch UBND xã Htừ năm 1990 đếnm 1992 trình bày: Trong khong thời
gian c ông m Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã Hthì UBND Hđã thc hin
5
Quyết định số 153 m 1989 của UBND tỉnh Hải ng và Quyết định 119 của
UBND huyện Nv vic cấp đất, giãn n. Ông Nguyễn Hồng Ngát địa chính xã
đã trực tiếp giao đất cho các hộ dân theo quyết định, trong đó có h Nguyễn Th
T tại tha số 67, tờ bản đồ số 4, diện ch 140m
2
thuộc khu ch a cũ thôn A.
Việc Tkhai UBND xã Hchuyển đổi đất cho từ vị tríy sang trước trạm y
tế Hlà không đúng. Din ch đất Tđang bán quán trước trạm y tế
Hkhông phi đất do UBNDgiao mà do bà mưn làm quán bán hàng nằm trong
đất nh lang giao thông và đất do UBND qun lý. Vào các ngày 15/8/1992
28/8/1992 UBND đã nhiều ln thực hiện việc giải tỏa để trả lại đt hành lang
giao thông nhưng hộ Bà Tcố tình kng thc hiện nên không giải ta đưc.
Ông Nguyễn Văn Doan nguyên Chủ tịch UBND xã Htừ năm 1993 đến năm
2000 Nguyn Thị Lan chủ tịch UBND Htừ năm 2000 đến tháng 06 năm
2011 trình bày: Đều xác định chưa bao giờ giao quyền sử dụng đất cho Ttại
cổng trạm y tế H. L xác định về biên bản xác định ranh giới, mốc giới sử
dụng đất ngày 05/7/2003 do thời điểm đó cấp giấy chứng nhận quyn sử dụng
đất cho trạm y tế xã Hnên UBND xã kết hợp với phòng địa cnh huyện tiếnnh
đo đạc hiện trạng sử dụng để các hộ đang sử dụng đất giáp ranh làm căn cứ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho trạm y tế H. Trong biên bản xác định
ranh giới, mốc giới thể hiện diện tích đất Tđang chiều dài 6,1m
chiều rộng 9,6m. Việc thể hiện này không phải căn cứ cấp đất cho Tmà
chỉ thể hiện hiện trạng thực tế chđất Tđang ở. Trong thời gian L làm
Chủ tịch UBND xã, Chủ tịch Hội phụ nữ xã đã nhiều lần ng ban vận động đến
nhà Tđể vận động giải tỏa quán nước nhưng do Tkhông hợp tác n việc
giải tỏa vẫn chưa được thực hiện.
Lời khai của ông Nguyễn Hồng Ngát, nguyên cán bộ địa chính
Htrình bày tại biên bản làm việc ngày 14/9/2011 tại UBND xã H: Năm 1989 ông
cán bđịa chính khi đó thực hiện quyết định số 153 của UBND huyện
Nông trực tiếp giao đất thổ cư cho Nguyễn Thị T cửa hàng Hợp tác mua
bán A, H cụ thể thửa đất số 67, diện tích 140m
2
Tngười trực tiếp nhận
đất.
Lời khai của ông Nhữ Đức Yên, nguyên cán bộ địa chính Htrình
bày: Tháng 3/1993 ông tiếp nhận hồ sơ địa chính của ông Ngát bàn giao trong
đó có 02 đơn xin cấp giấy CNQSD đất của bà D, Tngày 07/12/1990, ông xác
định D, Txin tách đất tại thửa đất mang tên Nguyễn Văn D thửa 162,
diện tích 342m
2
trong làng A đất không tranh chấp nên Hội đồng xét Dyệt
UBND xã đã cấp cho các hộ trong toàn trong đó có hộ bà D, T. Ông D
chết năm 1996 nên D, Tđược cấp GCNQSD đất, việc trong giấy CNQSD
đất của Tsố thửa 392 diện tích 100m
2
, bản đồ cấp giấy 342/100m
2
sự nhầm lẫn về đánh số thửa, việc Tnói ông biết việc đổi đất hoặc biết về
việc Tcó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại trước cổng Trạm y tế Hlà
không đúng.
Lời khai của ông Hoàng Văn Mật, nguyên cán bộ kế toán ngân sách
trình bày: Ông chưa bao giờ tham gia giao đất tại Khu trạm xã Hcho
6
Thoặc D. Năm 1997 UBND quy hoạch đất khu trạm xã trụ sở
UBND xã làm đất trồng cây lâu năm. Ông đã làm cán bộ UBND xã từ năm 1989
đến nay chưa bao giờ UBND xã H chủ trương cấp đất tại khu vực Hội
trường và Trạmxã H.
Lời khai của ông Triệu Đức Dũng, nguyên cán bđịa chính H: Tại bản
đồ số 14, trích lục khu đất Trạm y tế theo hồ sơ cấp Giấy CNQSD đất
Tđang làm quán nước thửa s 178, diện tích 3860m
2
, không thể hiện thửa số
392 diện tích 100m
2
như Bà Ttrình bày. Việc trong bản đồ cấp Giấy CNQSD đất
tờ 14 thôn A 02 thửa 342 trùng nhau do sai sót chuyên môn. Thực tế, một
thửa 342 là của ông Nhữ Văn Ngọt (đúng với Giấy CN QSD đất của ông Ngọt là
thửa 342, diện tích 165m
2
), còn một thửa 342, diện tích 100m
2
là của bà Nguyễn
Thị T. Về diện tích theo bản đồ 299 của ông D 342m
2
này gộp thửa của D
Tlà 370m
2
(tăng 28m
2
do tăng tự nhiên sự biến động). Việc
Ttrình bày đất đang sử dụng cạnh Trạm y tế là đất của giấy
CNQSD đất là không đúng, không phù hợp với sổ sách địa chính lưu tại xã H.
Lời khai của Phạm Thị Nhật (tên gọi khác: Nguyễn Thị D): D xác
định khoảng năm 1989 chị Tân được UBND huyện Ngiao quyết định cấp đất
140m
2
đất Khu bách hóa A cũ. Sau khi quyết định ông Nguyễn Hồng Ngát
cán bộ địa chính đã giao đất cho T, mảnh đất được cấp nằm liền với đất
anh Khoa con trai đang ở. Sau đó một tháng thì UBND mời Tlên để
trao đổi việc đổi đất từ khu bách hóa A về cổng trạm xã, việc thỏa thuận đổi
chỉ bằng lời nói và lúc đó có ông Ch là Chủ tịch.
Quyết định của Tòa án cấp thẩm: Tại Bản án dân sự thẩm số
05/2025/DS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Th, tỉnh
Hải Dương (nay là Toà án nhân dân khu vực 13 - Hải Phòng) đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khon 1 Điều 39,
Điều 147, 161, 165, khon 4 Điều 187 Bluật Tố tụng Dân snăm 2015; khoản 4
Điều 42 Ngh định số 11/2010/-CP ngày 24/02/2010 của Chính phủ; Điều
130, 131, 136, 137, khoản 2 Điều 145, Điều 146 Bộ luật n sự 1995; Điều 121,
122, 127, 128, 136 Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 116, 117, 118,
119, 122, 123, khoản 3 Điu 132 Bộ luật n sự năm 2015; đim a khon 4 Điều
13, khoản 7 Điều 14 Luật đất đai năm 1987; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lphí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Uỷ ban nhân dân H,
huyện T, tỉnh Hải Dương.
+ Tuyên bố hợp đồng mượn đất giữa y ban nhân dân Hvà bà Nguyễn
Thị T theo văn bản có tiêu đề Đơn xin mượn đất bán quán” ngày 05/11/1989 là
vô hiệu.
+ Buộc bà Nguyễn Thị T trả lại cho UBND H, huyện T, tỉnh Hải
Dương toàn bộ diện tích đất 176,2m
2
tại thửa đất số 07, tờ bản đồ số 24; địa chỉ:
7
Thôn A, H, huyện T, tỉnh Hải Dương buộc Nguyễn Thị T tháo dỡ toàn
bộ các công trình trên đất gồm: 01 nhà cấp 4 mái tôn, diện tích 21,8m
2
, 01 nhà
tạm phía trước nhà mái tôn 1 diện ch 16,7m
2
, 01 nhà tạm phía sau nhà mái tôn
2 diện tích 4,5m
2
, 01 nhà tạm mái tôn 3 diện tích 12,8m
2
và 01 cây nhãn đường
kính gốc khoảng 70cm, 01 khóm chuối, tổng 20 cây lớn nhỏ, 10 cây lớn 15cm,
01 cây mít đường kính khoảng 20cm để trả lại mặt bằng cho UBND xã H, huyện
T, tỉnh Hải Dương (có sơ đồ kèm theo).
2. Không chấp nhận các yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị T về
việc công nhận thửa đất số 7, tbản đồ số 24, diện tích 122,4m
2
, tại địa chỉ:
Thôn A, H, huyện T, tỉnh Hải Dương thuộc quyền s dụng đất của
Nguyễn Thị T cũng như yêu cầu phản tố về việc giao đất thiếu cho Bà Tdiện tích
77,6 m
2
đất ở theo đúng Quyết định s 153/QĐ-UB ngày 23/02/1990 của UBND
tỉnh Hải Hưng.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Tv việc đề nghị Tòa án đưa ông
Nguyn T Nguyễn Thị Th tham gia tố tụng trong vụ án người
quyn lợi nghĩa vụ liên quan.
Ngoài ra bản án sơ thm còn tuyên vchi phí ttng, án phí, quyn kháng cáo
ca đương sự.
Ngày 13/6/2025 Tkháng cáo toàn bộ bản án thẩm số 05/2025/DS-
ST ngày 10/6/2025 của Toà án nhân dân huyện Th, tỉnh Hải Dương. Đề nghị
Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn chấp nhận toàn bộ các yêu cầu của bị đơn: Công nhận
thửa đất số 07, tờ bản đồ số 24, diện tích 122,4m
2
thuộc quyền sử dụng hợp
pháp của T, nguồn gốc do Tđược giao theo Quyết định số 153/QĐ-
UB ngày 23/02/1990 của UBND tỉnh Hải Hưng. Buộc UBND xã Hphải bàn giao
cho Bà Tphần diện tích 77,6m
2
đất ở còn thiếu theo đúng Quyết định số
153/QĐ-UB ngày 23/02/1990 của UBND tỉnh Hải Hưng. Trường hợp không
bàn giao được bằng đất thì phải bồi thường bằng tiền theo giá trị quyền sử dụng
đất ở.
Tại phiên tòa phúc thẩm, T Người đại diện theo ủy quyền, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Bà Txác nhận vẫn giữ nguyên toàn bộ yêu
cầu kháng cáo. Đồng thời nộp 01 Đơn tố cáo đề ngày 19/9/2025, 01 Giấy biên
nhận (bản phô tô) của quan điều tra Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao nhận
đơn tố cáo Thẩm phán TAND huyện Th, tỉnh Hải Dương của ông Nguyễn Văn
Di.
Người đại diện hợp pháp của UBND B - Thành phố Hải Phòng vắng
mặt và đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng
các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng
quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội
Dng: Đề nghị HĐXX không chấp nhận toàn bộ nội Dng kháng cáo của bị đơn.
8
Giữ nguyên nội Dng Bản án thẩm. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bị đơn
người cao tuổi nên miễn án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ trong hồ đã được xem xét tại
phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; yêu cầu kháng cáo của bị đơn; ý kiến
của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về ttụng: Ngày 13/6/2025 Tnộp đơn kháng o trong thời hạn
pháp luật quy định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa,
người đại diện theo pháp luật người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
vắng mặt đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 296 của Bộ
luật Tố tụng n sự, Hội đồng t xử (HĐXX) tiến nh xét xử v án theo quy
định.
[2] Về nội Dng kháng cáo: t về hình thức nội Dng giao dịch n sự
giữa UBND Hvà Nguyễn Thị T: Ngày 05/11/1989, Nguyễn Thị T
Đơn xin mượn đất bán quán” và được UBND xã Hđồng ý cho mượn phần diện
tích đất tại cổng Trạm y tế H. Tđã dựng tạm nhà tạm với tổng diện tích
khoảng 15m
2
để bán hàng để (cùng với mẹ đẻ) tđó cho đến nay. UBND
xã Hvà bà Nguyễn Thị T là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có đủ năng lực hành vi
dân sự, Bà Ttự nguyện làm Đơn xin mượn đất bán quán đã được UBND xã đồng
ý cho mượn việc giao dịch giữa hai bên hoàn toàn tự nguyện. Tuy nhiên vì
phần diện tích đất này nằm trong hành lang an toàn giao thông đường Tỉnh lộ
393, nên năm 1991, 1992, Đảng Ủy, UBND Hđã họp ra Nghị quyết giải
tỏa khu vực quán bán hàng của Tnhưng chưa thực hiện được (có ghi sổ nghị
quyết). Toàn bộ tài liệu, bản đồ lưu trữ tại địa phương đều thể hiện thửa đất đang
tranh chấp thuộc quyền quản của UBND H(nay Bắc Thanh Miện-TP
Hải Phòng). Tcho rằng bà không tiến hành giao dịch với UBND xã và không
vào Đơn xin mượn đất nhưng thực tế hiện trạng sử dụng đất của Ttừ năm
1989 đến nay đều thể hiện được nội Dng này. Txác định diện tích quyền sử
dụng đất này được địa phương bàn giao cho theo Quyết định số 153/QĐ-UB
ngày 23/02/1990 của UBND tỉnh Hải Hưng Quyết định 119/QĐ ngày
15/11/1990 của UBND huyện Ninh Thanh, đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đề nghị Tòa án công nhận diện ch quyền sử dụng đất trên là của
. Tuy nhiên Tkhông cung cấp được biên bản n giao quyền sử dụng đất
giữa các bên. Mặt khác trên thực tế Giấy CNQSD đất được cấp mang tên
Nguyễn Thị T thửa đất trong làng A, tách ra từ thửa đất của bTcụ
Nguyễn Văn D chứ không phải thửa đất hiện các đương sự đang tranh chấp.
Như vậy, cấpthẩm nhận định, đánh giá giao dịch trên là vô hiệu là có căn cứ.
HĐXX phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận nội Dng kháng cáo này của bà T.
[3] Trong ván này, cấp thẩm xác định yêu cầu của Nguyễn Thị T
về việc công nhận thửa đất số 7, tờ bản đồ s24, diện tích 122,4m
2
, tại địa chỉ:
Thôn A, H, huyện T, tỉnh Hải Dương thuộc quyền s dụng đất của
Nguyễn Thị T yêu cầu phản tố của bị đơn không đúng quy định tại Điều
9
200 của Bộ luật tố tụng dân sự đây chỉ quan điểm của bđơn đối với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn đã được xem xét giải quyết trong vụ án. Cấp
sơ thẩm cần phải rút kinh nghiệm. Ngoài ra phần Quyết định của bản án sơ thẩm
ghi “Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Tv việc đề nghị Tòa án đưa
ông Nguyễn Bá Toàn và bà Nguyễn Thị Th tham gia tố tụng trong vụ án là người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan.”, HĐXX xét thấy đây chỉ là quyền của đương
sự theo quy định tại khoản 17 Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng cấp
thẩm xác định đây yêu cầu phản tố không đúng, HĐXX cần sửa lại cách
tuyên đối với bản án.
[4] Đối vi ni Dng kháng cáo: Buộc UBND Hphải bàn giao cho
Tphần diện tích 77,6m
2
đất còn thiếu theo đúng Quyết định số 153/QĐ-UB
ngày 23/02/1990 của UBND tỉnh Hải Hưng. Trường hợp không bàn giao được
bằng quyền sử dụng đất thì phải bồi thường bằng tiền theo giá trị quyền sử dụng
đất ở. HĐXX xét thấy: Cấp sơ thẩm xác định đây là yêu cầu phản tố của Tvà
tiến hành thụ giải quyết trong vụ án không đúng các yêu cầu này của
Tđược điều chỉnh bởi các quyết định hành chính số 153/QĐ-UB ngày
23/02/1990 của UBND tỉnh Hải Hưng Quyết định 119/QĐ ngày 15/11/1990
của UBND huyện Ninh Thanh, không liên quan đến yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn về việc đề nghị tuyên bố giao dịch hiệu. Yêu cầu của Tphải
được xem xét, giải quyết trong vụ án hành chính nhưng cấp thẩm thụ lý, giải
quyết yêu cầu này trong vụ ánn s vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, cấp
phúc thẩm không thể khắc phục được. Căn cứ Điều 311 của Bộ luật tố tụng dân
sự, hủy một phần bản án dân sự thẩm đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu
cầu của Tvề việc: Buộc Ủy ban nhân dân Hphải n giao phần diện tích
77,6 m
2
đất ở còn thiếu theo đúng Quyết định số 153/QĐ-UB ngày 23/02/1990 của
UBND tỉnh Hải Hưng”. Đương scó quyền khởi kin lại yêu cu này và được xem
t gii quyết trong vụ án khác theo quy định của pháp lut. Do hủy một phần bản
ánn HĐXX pc thẩm không xemt giải quyết vnội Dng kháng o này.
[5] Ti phiêna phúc thm, Nời đi din theoy quyền của Tnộp cho
HĐXX 01 Đơn tố cáo đề ngày 19/9/2025 (bản chính), 01 Giy biên nhn (bản phô
tô) nội Dng giao nhn i liệu giữa ông Di và Cơ quan điu tra - Viện kiểm sát nhân
n tối cao. Qua xem t các i liu trên, XX t thấy nội Dng đơn tố o
Giấy biên nhận không liên quan đến nội Dng kháng cáo của Ttrong vụ án y,
do vy HĐXX không xem xét gii quyết.
[6] Ván phí phúc thẩm: Do bản án thẩm bị hủy một phần nên người
kháng o không phải chịu án pdân sự phúc thẩm.
[7] c nội Dng khác của bản án thẩm không kháng o, kháng ngh
hiệu lực thi nh ktừ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 308, Điều 311, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân
sự;
10
Căn cứ khoản 3 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Không chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo bản án sơ thẩm của bà
Nguyễn Thị T. Giữ nguyên một phần Bản án dân sự thẩm s05/2025/DS-ST
ngày 10 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Th, tỉnh Hải Dương (nay
Toà án nhân dân khu vực 13 - Hải Phòng) vviệc Tuyên bố giao dịch dân sự
vô hiệu.
Áp dụng các Điều 130, 131, 136, 137, khoản 2 Điều 145, Điều 146 Bộ luật
n sự 1995; Điều 121, 122, 127, 128, 136 Điều 137 Bluật Dân sự năm
2005; Điều 116, 117, 118, 119, 122, 123, khoản 3 Điều 132 Bộ luật Dân sự năm
2015; đim a khon 4 Điều 13, khoản 7 Điều 14 Luật đất đai năm 1987.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Uỷ ban nhân dân H,
huyện T, tỉnh Hải Dương (nay là UBND xã B, thành phố Hải Phòng)
+ Tuyên bố hợp đồng mượn đất giữa Ủy ban nhân dân xã H(nay Ủy
ban nhân dân Bắc Thanh Miện) Nguyễn Thị T theo văn bản tiêu đề
Đơn xin mượn đất bán quán” ngày 05/11/1989 là vô hiệu.
Về hậu quả của giao dịch hiệu: Buộc Nguyễn Thị T trả lại cho
UBND H, huyện T, tỉnh Hải Dương (nay UBND B, thành phố Hải
Phòng) toàn bộ diện tích đất 176,2m
2
tại thửa đất số 07, tờ bản đồ số 24; địa chỉ:
Thôn A, H, huyện T, tỉnh Hải Dương (nay là Bắc Thanh Miện, thành phố
Hải Phòng) buộc Nguyễn Thị T tháo dỡ toàn bộ các ng trình trên đất
gồm: 01 nhà cấp 4 mái tôn, diện tích 21,8m
2
, 01 nhà tạm phía trước nhà mái tôn
1 diện tích 16,7m
2
, 01 nhà tạm phía sau nhà mái tôn 2 diện tích 4,5m
2
, 01 nhà
tạm mái tôn 3 diện tích 12,8m
2
và 01 cây nhãn đường kính gốc khoảng 70cm, 01
khóm chuối, tổng 20 cây lớn nhỏ, 10 cây lớn 15cm, 01 cây mít đường kính
khoảng 20cm để trả lại mặt bằng cho UBND H, huyện T, tỉnh Hải Dương
(nay là xã Bắc Thanh Miện, thành phố Hải Phòng).
2. Về chi phí tố tụng: Yêu cầu của nguyên được chấp nhận. Bà Nguyễn Thị
T phải chịu toàn bộ số tiền 18.500.000 đồng tiền xem xét thẩm định, định giá tài
sản, tiền chi phí giám định. UBND H(nay xã Bắc Thanh Miện) tự nguyện
chịu số tiền 11.000.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định bổ sung và định giá
tài sản (ông Thái đã nộp đủ); Nguyễn Thị T phải chịu 3.000.000 đồng tiền
xem xét thẩm định phải chịu số tiền chi phí giám định chữ 4.500.000
đồng, cộng là 7.500.000đ (Bà Tđã nộp đủ).
3. Hủy một phần bản án thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 10 tháng 5 năm
2025 của Tòa án nhân dân huyện Th, tỉnh Hải Dương (nay Toà án nhân dân
khu vực 13 - Hải Phòng) đình chgiải quyết vụ án đối với yêu cầu của
Nguyễn Thị T về việc: Buộc Ủy ban nhân n Hphải n giao phần din tích
77,6 m
2
đất ở còn thiếu theo đúng Quyết định số 153/QĐ-UB ngày 23/02/1990 của
UBND tỉnh Hi ng.
Đương sự có quyền khởi kiện li u cu trên theo quy định của pháp luật.
11
4. V án phí phúc thm: Bà Nguyễn Thị T không phải chịu án phí dân s
phúc thẩm.
5. Các nội Dng khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng ngh
hiệu lực thi nh ktừ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- Phòng GĐ,KT,TT&THA
TAND TP Hải Phòng;
- TAND khu vực 13 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 13 - Hải Phòng;
- Các đương sự (để thi hành);
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Minh Tân
12
Nguyễn Thị T cho rằng thửa đất đang bán quán trước cổng trạm y
tế H được cấp đất theo Quyết định 153/QĐ-ĐĐ ngày 23/02/1990 của
UBND tỉnh Hải Hưng. UBND xã Hxác định: theo Quyết định 153/QĐ-ĐĐ ngày
23/02/1990 của UBND tỉnh Hải Hưng, thì Nguyễn Thị T nằm trong danh
sách 50 hộ được cấp đất tại Hđúng. Theo Quyết định số 119 QĐ/ĐĐ ngày
15/11/1990 của UBND huyện Nthể hiện giao cho Nguyễn Thị T diện tích
140m
2
để làm nhà tại thửa đất số 67 thuộc tờ bản đồ số 04 cùng nhiều hộ gia
đình khác (thuộc khu Cửa hàng hợp tác mua bán A).Tđã nhượng lại thửa
đất này cho vợ chồng anh Toàn.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Quách Thị Phương Thuý Nguyễn Hồng Giang
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Minh Tân
13
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- Chi cục THADS Quận Ngô Quyền;
- TAND Quận Ngô Quyền ;
- Đương sự (để thi hành);
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
14
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trần Thị Vân Thúy Nguyễn Thị Tuyết Hồng
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Mạnh Hà
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- Chi cục THADS huyện An Lão;
- TAND huyện An Lão;
- Đương sự (để thi hành);
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Mạnh Hà
15
16
Kèm theo Bản án Dân sự phúc thẩm số 04/2024/DS-PT
ngày 11-01-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Vũ Quang Trung Vũ Thị Bích Diệp
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Thu Hằng
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Thu Hằng
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- Chi cục THADS huyện An Dương;
- TAND huyện An Dương;
- Đương sự (để thi hành);
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Thu Hằng
Tải về
Bản án số 128/2025/DS-PT Bản án số 128/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 128/2025/DS-PT Bản án số 128/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất