Bản án số 125/2023/HS-PT ngày 28-06-2023 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 125/2023/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 125/2023/HS-PT ngày 28-06-2023 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tội danh: 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 125/2023/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/06/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Giang Quốc Q và đồng bọn tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 125/2023/HS-PT
Ngày: 28-6-2023.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LK
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Tuấn.
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Huờn
2. Bà Đinh Thị Tuyết
Thư ký phn a: Bà Trn Th Hà - Thư ký Tòa án nhân n tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần
Quyết Chiến - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai ván hình sự thụ số: 138/2023/TLPT-HS ngày 23 tháng 5
năm 2023, do có kháng cáo của các bị cáo Giang Quốc Q đồng bọn đối với bản
án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân
dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
* Các bị cáo có kháng cáo:
1. Giang Quốc Q, sinh năm 1995 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi trú: Thôn X, xã E,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh;
giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Giang Quốc Q1 (đã
chết) bà Thị Q2, sinh năm 1961; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm
giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2022 đến ngày 15/7/2022. Hiện đang bị áp dụng biện
pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2. Nguyễn Đình T, sinh năm 1988 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn PT, xã E,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh;
giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T1,
sinh năm 1958 và bà Trần Thị Kim T2, sinh năm 1964; Tiền án, tiền sự: không; Bị
cáo có vợ: Lê Thị Khánh T3, sinh năm 1988 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2008,
con nhỏ nhất sinh năm 2015. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2022 đến
ngày 15/7/2022. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
3. Trương Văn S, sinh năm 1997, tại tỉnh Đắk Lắk. Nơi ĐKTT: PC, phường
7, quận PN, thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: Thôn X, E, huyện K, tỉnh
Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới
2
tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn S1 (đã chết)
Nguyễn Thị S2, sinh năm 1976; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm
giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2022 đến ngày 15/7/2022. Hiện đang bị áp dụng biện
pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
4. Lê Hoàng D, sinh năm 2000 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi trú: Thôn PH, xã EK,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc:
Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn D1,
sinh năm 1964 Hoàng Thị D2, sinh năm 1968; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo
bị bắt tạm giữ từ ngày 08/5/2022 đến ngày 17/5/2022. Hiện đang bị áp dụng biện
pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Trong vụ án còn người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không
kháng cáo, không có kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 07/5/2022, Giang Quốc Q, Trương Văn S, Nguyễn Đình T,
Hoàng D cùng Lâm Đại Q, Đào Xuân Z1, Nguyễn Hồng Z2, Đỗ Đình Z3, Nguyễn
Thành Z4 cùng uống rượu tại quán Khè thuộc thôn X, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Trong lúc nhậu, tất cả nảy sinh ý định mua ma tuý loại thuốc lắc khay (Ketamine)
về sử dụng và nghe nhạc. Sau đó, Q sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA
màn hình trắng đen (không nhớ số sim), gọi điện thoại cho người đàn ông (không rõ
lịch) thành phố Buôn Ma Thuột hỏi mua 02 (hai) chấm khay ma tuý với giá
1.250.000đ/khay 05 (năm) viên thuốc lắc với giá 200.000 đồng/1 viên, thành tổng
số tiền là 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng). Đến khoảng 19 giờ 52 phút,
người đàn ông bán ma túy gọi điện thoại bảo Q ra bến xe buýt sân bóng Km38
(cách quán Khè khoảng 150m) để lấy ma túy. Q đi bộ ra gặp và đưa cho người bán
ma túy stiền 3.500.000
đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng), người đàn ông này
đưa cho Q 01 (một) gói thuốc lá Jet bên trong có: 01 (một) túi zip chỉ đỏ bên trong
đựng 05 (năm) viên thuốc lắc 01 (một) túi zip chỉ đỏ bên trong đựng ma túy
Ketamine hay còn gọi là ma túy khay. Lấy ma túy xong Q cất vào túi quần rồi quay
lại quán Khè. Sau đó Giang Quốc Q cùng S, T, D, Lâm Đại Q, Z1, Z2, Z3 Z4
thống nhất đi đến thị trấn EK, huyện EK thphòng hát karaoke, sử dụng ma túy và
nghe nhạc. Khi đi, Giang Quốc Q mượn xe ô tô biển số 47A 229.59 nhãn hiệu
Daewoo của anh Nguyễn Quốc Z5, chủ quán Khè chở Z3 Z4; Z6 (chưa rõ nhân
thân, lai lịch) điều khiển xe ô loại bán tải, không biển số) chở Lâm Đại Q, T,
S, Z2, D Z1 đi đến quán Mộc Lan Đ, huyện EK nhưng do quán đóng cửa
nên Lê Hoàng D lấy số điện thoại 0868607607 gọi điện thoại cho một người thanh
niên tên Ngọ (chưa nhân thân, lai lịch) đặt phòng hát tại quán Karaoke 79 thuộc
số 19 Trần Thánh Tông, TDP 2B, thị trấn EK, huyện EK. Đến khoảng 21 giờ 00
phút cùng ngày, khi tất cả đến quán Karaoke 79 thì Z6 điều khiển xe đi về, những
người còn lại vào phòng Vip 11 nghe nhạc yêu cầu nhân viên quán karaoke79 gọi
nữ tiếp viên vào phòng để rót bia. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn
Thị Tâm W, Trần Thị Diệu W1 Nguyễn Thị H’ W Mlô vào phòng Vip 11 để phục
3
vụ. Lúc này, Giang Quốc Q lấy 05 viên thuốc lắc 01 gói ma túy Ketamine ra để
lên bàn kính cho mọi người cùng sử dụng, trong đó: Giang Quốc Q, S, T, D, Z4, Z3,
Z2, Lâm Đại Q, Z1, mỗi người chia nhau ½ viên thuốc lắc uống với nước lọc. Số ma
túy Ketamine (ma túy khay), T đổ ra trên mặt 01 đĩa sứ của quán karaoke 79 rồi
dùng giấy phép lái xe của Nguyễn Hồng Z2 để xào ma túy “xào ke”; S lấy ra 01
(một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) cuốn thành ống hút để cho
tất cả sdụng ma túy khay. Khi Giang Quốc Q, T S chuẩn bị dụng cụ sử dụng
ma túy khay xong thì Trần Đại Q, D, Tâm W H’ W Mlô hút mỗi người 01 lần,
còn T và S mỗi người hút 02 lần ma túy khay, những người còn lại gồm Z1, Z4, Z2
Quốc Q chỉ ngồi chơi và nghe nhạc không sử dụng ma túy khay, Diệu W1
không sử dụng ma tuý. Đến khoảng 22 giờ 00 cùng ngày Giang Quốc Q, Z4, Z3, Z2,
Lâm Đại Q, Z1, S, T, D, Tâm W và H’ W Mlô đang ở trong phòng Vip 11 thì bị cơ
quan Công an kiểm tra, phát hiện đưa về Công an thị trấn EK để làm việc lập biên
bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại bản án hình sự thẩm số: 10/2023/HS-ST ngày 27/3/2023 của Tòa án
nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk quyết định:
1. Về tội danh: Tuyên bốc b cáo Giang Quốc Q, Trươngn S, Nguyễn Đình
T Lê Hoàng D vtộiTổ chức sdụng trái phép chất ma t”.
2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
- n cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Giang Quốc Q 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm
giam từ ngày 08/5/2022 đến ngày 15/7/2022.
+ Xử phạt bcáo Trương Văn S 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày
08/5/2022 đến ngày 15/7/2022.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ
ngày 08/5/2022 đến ngày 15/7/2022.
+ Xử phạt bị cáo Hoàng D 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/5/2022
đến ngày 17/5/2022.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên xử về các biện pháp pháp, án phí
quyền kháng cáo của bị cáo, các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/3/2023 bị cáo Lê Hoàng D có đơn kháng cáo,
ngày 03/4/2023 bị cáo Giang Quốc Q có đơn kháng cáo, ngày 05/4/2023 các bị cáo
Nguyễn Đình T và Trương Văn S đơn kháng cáo về phần hình phạt đối với các
bị cáo. Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
4
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo D, Q, T, S vẫn giữ nguyên nội dung đơn
kháng cáo khai nhận toàn bộ hành vi các bị cáo đã thực hiện đúng như nội
dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, Đại điện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đắk Lắk xác định: Tòa án cấp thẩm đã xét xử các bị o Giang Quốc Q,
Trương Văn S, Nguyễn Đình T Hoàng D về tội “Tổ chức sdụng trái phép
chất ma tuý”, theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình slà có căn
cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và mức nh phạt đối với các bị cáo thỏa
đáng nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị
cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt của các bị cáo Giang Quốc Q, Trương
Văn S, Nguyễn Đình T Hoàng D cũng như các Quyết định khác của Bản án
sơ thẩm.
Các bị cáo không tranh luận, bào chữa chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ
hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án, đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phợp với lời khai tại
quan điều tra tại phiên tòa thẩm, phù hợp với các chng cứ, tài liệu khác
đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận:
Sau khi thống nhất việc mua ma túy để sử dụng thì bị cáo Giang Quốc Q người
trực tiếp mua ma tuý, đưa ma tuý tới quán Karaoke đây quá trình liên tục, việc
mua và vận chuyển ma tuý tiền đề cho việc các bị cáo Giang Quốc Q, Trương Văn
S, Nguyễn Đình T và Lê Hoàng D thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất
ma tuý cho các đối tượng m Đại Q, Đỗ Đình Z3, Nguyễn Hồng Z2, Nguyễn Thành
Z4, Nguyễn Thị Tâm W, Nguyễn Thị H’ W Mlô, Đào Xuân Z1 vào khoảng 21 giờ
00 phút ngày 07/5/2022, tại quán Karaoke 79 thuộc tổ dân phố 2B, thị trấn EK, huyện
EK, tnh Đắk Lắk. Trong đó, Nguyễn Thị Tâm W, sinh ngày 14/4/2007 mới 15 tuổi
23 ngày. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng
trái phép chất ma tuýthuộc trường hợp “Đối với 02 người trở lên” “Đối với
người từ đ13 tuổi đến dưới 18 tuổi”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm
b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo Giang Quốc Q, Trương Văn S, Nguyễn Đình T và Lê Hoàng D đu
nảy sinh ý định mua ma y về sử dụng, Q người trực tiếp mua ma tuý, đưa ma
tuý tới quán Karaoke để tổ chức việc sử dụng trái phép chất ma túy, các bcáo
Trương Văn S, Nguyễn Đình T Hoàng D những người tích cực trong việc
chuẩn bị công cụ, phương tiện cho các bị cáo cùng 07 đối tượng khác sử dụng ma tuý,
nên vai trò của các bcáo là ngang nhau.
Xét thấy trong quá tnh điều tra tại phn tòac bịo đều thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bịo có nhân thân tốt, không
5
có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, các bị o tuổi đời n trẻ, hành vi phạm tội là
bộc phát tức thời. Sau khi xét xử thẩm, bị cáo Q, T, S đã chấp hành xong án phí
theo quyết định của Bản án thẩm đã tuyên, điều này thể hiện sự tôn trọng pháp luật,
ăn năn hối cải của các bị cáo; đối với bị o Hoàng D đã cung cấp thêm tài liệu,
chứng cứ mới thư cảm ơn, văn bản ghi nhận tấm lòng vàng trong phong trào
phòng, chống dịch bệnh Covid-19 của Ban chấp hành đoàn và UBMTTQ phường 6,
Quận 4, Tp. Hồ Chí Minh, đây là tình tiết mới quy định tại khon 2 Điều 51 Bộ luật
hình sự, HĐXX phúc thẩm cần áp dụng choc bị cáo để giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự cho các bị cáo, thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
Từ các nhận định trên xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Giang
Quốc Q, Trương Văn S, Nguyễn Đình T và Lê Hoàng D, sửa một phần Bản án Hình
sự thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 27/3/2023 của T án nn dân huyện Ea Kar về
phn nh phạt
.
[3] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo
không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng
hình sự:
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Giang Quốc Q, Trương Văn S, Nguyễn
Đình T, Hoàng D. Sửa Bản án thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 27/3/2023 của
Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.
Áp dụng điểm b, c khon 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1
Điều 54 Blut nh sự:
Tuyên bố c bo Giang Quốc Q, Trươngn S, Nguyễn Đình T Lê Hoàng
D về tộiTchức sử dụng trái phép cht ma t”.
+ Xử phạt bị cáo Giang Quốc Q 06 (sáu) năm . Thời hạn chấp hành hình
tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam tngày
08/5/2022 đến ngày 15/7/2022.
+ Xử phạt bị cáo Trương Văn S 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày
08/5/2022 đến ngày 15/7/2022.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 06 (sáu) năm. Thời hạn chấp hành hình tù
tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam tngày
08/5/2022 đến ngày 15/7/2022.
+ Xử phạt bị cáo Hoàng D 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình tính
từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm gitừ ngày 08/5/2022 đến ngày
17/5/2022.
6
[2] Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bcáo Giang Quốc Q, Trương Văn S,
Nguyễn Đình T và Lê Hoàng D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- TAND Cấp cao;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản);
- Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk;
- Phòng CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk;
- Sở Tư pháp;
- Cục T.H.A DS tỉnh Đắk Lắk;
- Cơ quan T.H.A HS CA tỉnh Đắk Lắk;
- TAND huyện Ea Kar;
- VKSND huyện Ea Kar;
- Công an huyện EK;
- Chi cục T.H.A DS huyện E;
-Cơ quan T.H.AHS CA huyện E;
- Bị cáo;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Đã ký
Trần Duy Tuấn
Tải về
Bản án 125/2023/HS-PT Đắk Lắk Bản án 125/2023/HS-PT Đắk Lắk

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 125/2023/HS-PT Đắk Lắk Bản án 125/2023/HS-PT Đắk Lắk

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất