Bản án số 122/2017/HSPT ngày 03/11/2017 của TAND tỉnh Tiền Giang

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 122/2017/HSPT

Tên Bản án: Bản án số 122/2017/HSPT ngày 03/11/2017 của TAND tỉnh Tiền Giang
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tiền Giang
Số hiệu: 122/2017/HSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/11/2017
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG
Bn án s: 122/2017/HSPT
Ngày: 03-11-2017
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Vân.
Các Thẩm phán:Hoàng Thị Thơ;
Trần Thị Thu Hằng. .
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa:Thị Thanh Vân- Cán bộ Tòa
án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông
Trần Văn Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét
xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ s106/2017/HSPT ngày 02-10-2017 đối với
bị cáo Nguyễn Văn N do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm
số 80/2017/HSST ngày 11 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh
Tiền Giang.
* Bị cáo kháng cáo:
NGUYỄN VĂN N, sinh năm 1989 (có mt).
- ĐKHKTT: Ấp T, xã T1, huyện C, tỉnh Tiền Giang;
- Nghề nghiệp: Làm thuê;
- Trình độ học vấn: 09/12;
- Cha là ông Nguyễn Văn T và mẹ là Nguyễn Thị D
- Vợ, con: Chưa;
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Bị cáo tại ngoại.
Ngoài ra, trong vụ án còn người bị hại chNguyễn Ngô Thị Kim Khoa
N1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị D nhưng không
kháng cáo, bản án không bị kháng nghị.
NHẬN THẤY:
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang
và bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang thì nội
dung vụ án được m tắt như sau:
Do quen biết từ trước nên vào khoảng 19 giờ ngày 02 tháng 02 năm
2017, Nguyễn Văn N điều khiển xe mô biển số 63B3-534.91 đến nhà của chị
Khoa N1 (quán cơm Cẩm Tuyết) ngụ ấp 5,T1, huyện C, tỉnh Tiền Giang chơi,
2
sau đó N xin ngủ lại thì được chị N1 đồng ý. Đến sáng ngày 03-02-2017, N đi ra
phía nhà sau thấy cửa phòng chị Khoa N1 mở không có ai trông coi nên đã lén
vào phòng chị N1. Bị cáo đến vị trí đặt tủ nhựa trong phòng chị N1 mở hộp tủ thì
phát hiện bên trong một cọc tiền polyme. Bị cáo lấy cọc tiền bỏ vào túi quần
rồi đi ra phía trước quán, sau đó điều khiển xe 63B3-534.91 rời khỏi nhà chị N1.
Trên đường đi, bị cáo dừng lại kiểm tra thì xác định đã lấy trộm được số tiền
10.000.000 đồng, gồm 20 tờ tiền Polyme, mỗi tờ mệnh giá 500.000 đồng. Sau đó
bị cáo tiếp tục điều khiển xe đi và sử dụng hết s tiền trộm được vào việc tiêu xài
cá nhân. Đến ngày 07-02-2017, khi chị N1 kiểm tra thì phát hiện bị mất tiền nên
đã trình báo với cơ quan công an.
Tại bản án hình sự thẩm số 80/2017/HSST ngày 11-8-2017 của Tòa án
nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điu 138; điểm b, h, p khoản 1 khoản 2 Điều 46; Điều 42,
Điều 51 Bộ lut nh sự.
Xphạt bị o Nguyễn Văn N 09 (chín) tháng . Tng hợp nh pht 06
tng tù của bn án số 24/2017/HSST ny 06-6-2017 của a án nhân dân tỉnh Bạc
Lu. Bcáo phải chấp nh nh phạt chung của hai bản án là 01 m 3 tng tù. Thời
hạn nh từ ngày 04-3-2017.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về phần xử vật chứng, án phí
và thông báo quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Ngày 17-8-2017, bị cáo Nguyễn Văn N có đơn kháng cáo với nội dung xin
Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và
bổ sung thêm yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý
kiến tranh luận của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa, bị cáo N đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như
bản án sơ thẩm đã nêu, lời thừa nhận của bị cáo là phù hợp với lời khai của người
bị hại, những người làm chứng phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong
hồ sơ vụ án đã thể hiện: vào khoảng 19 giờ ngày 02 tháng 02 năm 2017, Nguyễn
Văn N điều khiển xe đến nhà của chị Khoa N1 ngụ tại ấp 5T1, huyện C, tỉnh
Tiền Giang chơi xin ngủ lại. Đến sáng ngày 03-02-2017, lợi dụng lúc chị N1
vắng nhà bị cáo đã phòng chị lấy trộm số tiền 10.000.000 đồng tiêu xài
nhân. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội Trộm cắp tài sản” theo
qui định tại khoản 1 Điều 138 BLHS là có cơ sở, đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, chỉ động xấu tham lam,
muốn có tiền tiêu xài khỏi phải lao động, mà bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp
3
tài sản của người khác lấy tiền tiêu xài nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo,
chẳng những xâm phạm nghiêm trọng đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của
công dân được pháp luật bảo vệ; gây ra bức xúc bất bình của người bị hại và còn
gây mất trật tự an tòan xã hội trên địa bàn. Gây ra tâm lý hoang mang lo sợ trong
người dân. Hành vi này cần phải được xử nghiêm khắc nhằm răn đe phòng
chống chung cho toàn hội. Tuy nhiên, xét về tính chất thủ đoạn phương tiện
phạm tội đơn giản, chỉ lợi dụng chủ sở hữu vắng nhà lẽn vào lấy trộm nên khi
quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét đầy đủ toàn diện tính
chất và mức độ nguy hiểm đối với hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra,
cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân xử phạt bị
cáo với mức án nêu trên phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình từ khi
xét xử thẩm đến nay không phát sinh thêm tình tiết giảm nhẹ mới để xem
xét. Do đó, Hội đồng xét xử không căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin
giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Xét yêu cầu xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy, ngày
02-02-2017 bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tiền của chị Khoa N1 Tiền Giang,
đang bị điều tra xử thì không lâu sau ngày 03-3-2017 bị cáo lại tiếp tục thực
hiện hành vi trộm cắp tại huyện G, tỉnh Bạc Liêu bị xphạt 06 tháng tù, cho thấy
bản chất bị cáo là không có ý thức hướng thiện. Do hành vi phạm tội ở Bạc Liêu
thực hiện sau nhưng lại được đưa ra xét xử trước nên bản án Bạc Liêu không
được xem là tiền án của bị cáo, nhưng cho thấy nhân thân bị cáo là không tốt nên
không đđiều kiện cho hưởng án treo theo quy định. Do đó bác yêu cầu kháng
cáo này của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên.
Theo bản án số 24/2017/HSPT ngày 06-6-2017 của TAND tỉnh Bạc Liêu thì
bị cáo bị xử phạt 6 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 04-3-2017. Khi Tòa án huyện
C xét xử bị cáo vào ngày 11-8-2017 thì bị cáo vẫn chưa chấp hành xong hình phạt
của bản án s 24/2017/HSPT của TAND tỉnh Bạc Liêu, nên cấp sơ thẩm áp dụng
Điều 51 BLHS tổng hợp hình phạt cho bị cáo chính xác. Đến hôm nay xét xử
phúc thẩm ngày 03-11-2017, bị cáo đã chấp hành xong bản án số 24/2017/HSPT
ngày 06-6-2017 của TAND tỉnh Bạc Liêu và đã được trả tự do nên phần tổng hợp
hình phạt 06 tháng của bản án trên là không còn, nên cần điều chỉnh lại án thẩm
cho chính xác.
Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát căn cứ nên Hội đồng xét
xử chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N.
Giữ nguyên bản án hình sự thẩm số 80/2017/HSST ngày 11-8-2017 của
Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội Trộm cắp tài sản”;
- Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1 khoản 2 Điu 46; Điều 33,
Điều 45 Bộ lut nh sự.
4
Xpht bị cáo Nguyễn Văn N 09 (chín) tháng . Thời hạn tù tính từ ngày b
bắt o tri thhình.
2/ Án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3/ c phần khác của quyết định án thẩm kng kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pp luật k tngày hết thời hạn kháng o, kng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh;
- VKSND tỉnh TG;
- Sở tư pháp tỉnh TG;
- Phòng hồ sơ CA tỉnh TG;
- Trại tạm giam CATG;
- Phòng KTNV và THA (TAT);
- TAND huyện C;
- VKSND huyện C;
- Công an huyện C;
- THADS huyện C;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Lê Thanh Vân
2
Tải về
Bản án số 122/2017/HSPT Bản án số 122/2017/HSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất