Bản án số 117/2026/HS-PT ngày 16/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 117/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 117/2026/HS-PT ngày 16/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 117/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: vào khoảng 07 giờ ngày 08/8/2025, M đi bán trứng vịt ngang bờ kênh thuộc ấp L, xã L, tỉnh Tây Ninh, phát hiện đàn vịt đẻ trứng của ông Nguyễn Minh S1 đang thả đồng, không có ai trông coi nên nảy sinh ý định bắt trộm đàn vịt để bán lấy tiền tiêu xài. M điện thoại cho P nói phát hiện một đàn vịt không có ai trông coi, M sẽ trộm đàn vịt và kêu P liên hệ thuê xe tải chở vịt mang đi bán thì P đồng ý, sau đó M tiếp tục đi bán trứng vịt. Phết điện thoại cho ông Phạm Văn M2 thuê xe ô tô tải biển số 62H-019.88 đến bến H thuộc ấp L, xã L, tỉnh Tây Ninh để chở vịt đi bán với số tiền 1.200.000 đồng, ông M2 đồng ý. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, sau khi đi bán trứng vịt xong, M quay lại vị trí đàn vịt và bắt trộm 1.000 con vịt, lùa đàn đi khoảng 500m rồi chờ P thuê xe tải đến. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, ông M2 điều khiển xe ô tô tải biển số 62H-019.88 đến bến H thì M và P cùng lùa 1.000 con vịt lên xe. Sau đó, M đi về nhà còn P đi cùng ông M2 chở 1.000 con vịt đến khu vực xã P, tỉnh Tây Ninh bán cho ông Biện Văn N1 với số tiền 65.000.000 đồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 117/2026/HS-PT Bản án số 117/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 117/2026/HS-PT Bản án số 117/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 117/2026/HS-PT
Ngày: 16-6-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Ngầu.
Các Thẩm phán: 1. Bà Phạm Thị Hồng Vân;
2. Ông Trần Thanh Tòng.
- Thư phiên tòa: Ông Đinh Trần Khánh Duy - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông
Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số 85/2026/TLPT-HS ngày 11 tháng 5
năm 2026, do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Ngọc MLê Hồng P đối với
Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2026/HS-ST ngày 01 tháng 4 năm 2026 của Toà án
nhân dân khu vực 12 – Tây Ninh.
Bị cáo bị kháng cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1982, tại tỉnh Tây Ninh; căn cước
công dân số: ************, cấp ngày 11/8/2021; nơi đăng nhân khẩu thường
trú nơi trú hiện nay: ấp C, T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: chăn nuôi vịt;
trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Cao Đài;
quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M1 (đã chết) Mai Thị N; chồng
Hồng S (đã ly hôn), con: 03 người (lớn nhất sinh năm 1999, nhnhất
sinh năm 2004); tiền án, tiền sự: không có; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Hồng P, sinh năm 1999, tại tỉnh Tây Ninh; căn cước công
dân số: ************, cấp ngày 05/6/2022; nơi đăng nhân khẩu thường trú:
ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh; nơi trú: khu phố B, phường G, tỉnh Tây Ninh; nghề
nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn
giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồng S và bà Nguyễn Ngọc M;
vợ Huỳnh Thị Thúy H (chưa đăng kết hôn), con: 01 người sinh năm
2018; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, còn b hai người quyn li, nghĩa vụ liên quan không có
kháng cáo, kháng ngh phúc thm, Toà án không triu tp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu trong hồ ván diễn biến tại phiên tòa thẩm,
nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ ngày 08/8/2025, Nguyễn Ngọc M là người chăn nuôi
vịt đẻ trứng, đi n trứng vịt ngang bờ kênh thuộc ấp L, xã L, tỉnh Tây Ninh, phát
hiện đàn vịt của ông Nguyễn Minh S1 đang thả đồng, không ai trông coi n
nảy sinh ý định bắt trộm đàn vịt để bán lấy tiền tiêu xài. Khi đó, M điện thoại cho
Hồng P (là con ruột của Mỹ) nói phát hiện một đàn vịt không ai trông coi,
M sẽ trộm vịt và kêu P liên hệ thuê xe tải chở vịt mang đi bán thì P đồng ý, sau đó
M tiếp tục đi n trứng vịt. Phết điện thoại cho ông Phạm Văn M2 thuê xe ô tô tải
biển số 62H-019.88 đến bến H thuộc ấp L, xã L, tỉnh Tây Ninh để chở vịt đi n
với số tiền 1.200.000 đồng, ông M2 đồng ý.
Khoảng 09 giờ cùng ngày, sau khi đi n trứng vịt xong, M quay lại vị trí
đàn vịt và bắt trộm 1.000 con vịt, lùa đàn đi khoảng 500m rồi chP thuê xe tải
đến. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, ông M2 điều khiển xe ô tải biển số 62H-
019.88 đến bến H thì M P cùng a 1.000 con vịt lên xe. Sau đó, M đi về nhà
n P đi cùng ông M2 chở 1.000 con vịt đến khu vực xã P, tỉnh Tây Ninh bán cho
Biện Văn N1 với số tiền 65.000.000 đồng. Phết cho ông M2ông N1 mỗi người
500.000 đồng, P đem số tiền 64.000.000 đồng về đưa cho M, P được M chia số
tiền 10.000.000 đồng nhưng P không nhận. Đến ngày 15/8/2025, ông S1 phát
hiện đàn vịt bị mất trộm nên đến Công L trình báo sự việc. Qua xác minh,
Công an L mời Mỹ và P lên m việc, Mỹ và P thừa nhận hành vi phạm tội
như trên. Vụ việc được chuyển tới quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T m
, xử lý theo quy định của pháp luật.
* Kết luận định giá i sản số 5987 ngày 29/10/2025 của Hội đồng định giá
i sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Tây Ninh, kết luận: 1.000 con vịt, loại vịt đ
trứng, lông u trắng bông đen, vịt 06 tháng tuổi, trọng lượng mỗi con từ 1,1kg
đến 1,2kg tại thời điểm ngày 08/8/2025 có trị giá 83.333.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Ngọc M Hồng P đã bồi thường cho
ông Nguyễn Minh S1 số tiền 45.000.000 đồng, bồi thường cho ông Biện Văn N1
số tiền 66.200.000 đồng. Ghi nhận ông S1 ông N1 không yêu cầu bồi thường
gì thêm.
Tại Bản án hình sự thẩm số 81/2026/HS-ST ngày 01 tháng 4 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 12 – Tây Ninh, đã quyết định (tóm tắt):
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc MLê Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài
sản”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38, Điều 54, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn
3
Ngọc M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được
tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38, Điều 54, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hồng P
01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi
chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử vật chứng, tiền án phí
quyền kháng cáo của các bị cáo người tham gia tố tụng theo quy định của
pháp luật.
Cùng ngày 01/4/2026, các bị cáo Nguyễn Ngọc M và Hồng P đơn
kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Ngọc M trình bày ý kiến: giữ nguyên nội dung kháng cáo,
đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
- Bị bị cáo Hồng P trình bày ý kiến: giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề
nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh trình bày ý kiến: Tán
cấp thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Ngọc M Hồng P vtội “Trộm cắp
tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là căn
cứ, đúng quy định của pháp luật. Mức hình phạt cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo M 01
năm 06 tháng tù, xử phạt bị cáo P 01 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ
hành vi phạm tội các bị o gây ra, không nặng. Các bị cáo kháng cáo, không
cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, nên không căn cứ
chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm
a khoản 1 Điều 355 Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận
kháng cáo của các bị cáo M và P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các bcáo Nguyễn Ngọc M Hồng P không ý kiến trình bày tranh
luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: các bị cáo Nguyễn Ngọc M và Lê Hồng P kính
mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án
treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ o các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Ngọc MLê Hồng P lập cùng
ngày 01/4/2026 np ti Toà án cấp sơ thẩm còn trong thời hạn luật định; nội dung
đơn kháng cáo hợp lệ phù hợp với quy định tại Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật
Tố tụng hình sự, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Hành vi của bị cáo thực hiện:
4
Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Ngọc M Hồng P đã khai nhận toàn
bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị o phợp với lời
khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cư đã được
cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: vào khoảng
07 giờ ngày 08/8/2025, M đi bán trứng vịt ngang bờ kênh thuộc ấp L, L, tỉnh
Tây Ninh, phát hiện đàn vịt đẻ trứng của ông Nguyễn Minh S1 đang thả đồng,
không có ai trông coi nên nảy sinh ý định bắt trộm đàn vịt để bán lấy tiền tiêu xài.
M điện thoại cho P nói phát hiện một đàn vịt không ai trông coi, M sẽ trộm
đàn vịt kêu P liên hệ thuê xe tải chở vịt mang đi bán thì P đồng ý, sau đó M
tiếp tục đi bán trứng vịt. Phết điện thoại cho ông Phạm Văn M2 thuê xe ô tải
biển số 62H-019.88 đến bến H thuộc ấp L, L, tỉnh Tây Ninh để chở vịt đi n
với số tiền 1.200.000 đồng, ông M2 đồng ý. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, sau
khi đi n trứng vịt xong, M quay lại vị trí đàn vịt và bắt trộm 1.000 con vịt, lùa
đàn đi khoảng 500m rồi chờ P thuê xe tải đến. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, ông
M2 điều khiển xe ô tải biển số 62H-019.88 đến bến H thì M P cùng a
1.000 con vịt lên xe. Sau đó, M đi về nhà còn P đi cùng ông M2 chở 1.000 con vịt
đến khu vực xã P, tỉnh Tây Ninh bán cho ông Biện Văn N1 với số tiền 65.000.000
đồng. Kết luận định giá i sản số 5987 ngày 29/10/2025 của Hội đồng định giá
i sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Tây Ninh, kết luận: 1.000 con vịt, loại vịt đ
trứng, lông u trắng bông đen, vịt 06 tháng tuổi, trọng lượng mỗi con t1,1kg
đến 1,2kg tại thời điểm ngày 08/8/2025 có trị giá 83.333.000 đồng.
Do đó, Toà án cấp thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Ngọc M Hồng
P về tội Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ
luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Ngọc M vai trò chính, người nảy sinh
ý định chiếm đoạt tài sản của bị hại, điện thoại kêu Lê Hồng P (là con ruột của
Mỹ) thuê xe tải chở vịt, là người trực tiếp lùa đàn vịt đến nơi đưa lên xe tải; bị cáo
P thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực cho bị cáo
M, người trực tiếp thuê xe tải của ông M2 để vận chuyển số vịt trộm cắp được
khi được bcáo M nhờ thuê xe; trực tiếp cùng với bị cáo M lùa đàn vịt lên xe tải,
cùng đi với xe tải trực tiếp liên hvới ông Biện Văn N1 bán đàn vịt trực
tiếp nhận số tiền bán vịt từ ông N1 giao lại cho bị cáo M; các bị cáo có nhân thân
tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; mới
lần đầu phạm tội; quá trình điều tra tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho bhại người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan; bị hại đơn bãi nại những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bluật Hình
sự, Toà án cấp thẩm xét xử, xử phạt bị cáo M 01 năm 06 tháng tù, xử phạt bị
cáo P 01 năm tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt các bcáo bị truy tố,
5
xét xử, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội các bị cáo gây ra,
không nặng. Các bị cáo kháng cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
[4] Từ những phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo
Nguyễn Ngọc M Hồng P; chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Tây Ninh; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố
tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Ngọc M Hồng P
phải chịu 200.000 (hai trăn nghìn) đồng.
[6] Các quyết định của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Điều 356 của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Ngọc M Hồng
P.
Giữ nguyên Bản án hình sự thẩm số 81/2026/HS-ST ngày 01 tháng 4
năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 12 – Tây Ninh.
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc M Lê Hồng P phm tội “Trộm cp
tài sản”.
1.1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 17; Điều 54; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn
chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
1.2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 17; Điều 54; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hồng P 01 (một) năm . Thời hạn chấp hành hình phạt
tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố
tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí
Toà án: các bị cáo Nguyễn Ngọc M Hồng P1 mỗi bị cáo phải chịu
200.000 (hai răm nghìn) đồng.
4. Các quyết định của Bản án thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
phúc thẩm hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc
thẩm.
6
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Vụ GĐKT1. TANDTC (Vụ 1);
- Phòng GĐ,KT,TT&THA TAND tỉnh;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 12- Tây Ninh;
- VKSND khu vực 12 – Tây Ninh;
- Cơ quan Thi hành án hình sự;
- Phân trại tạm giam Tân Châu;
- Phòng THADS khu vực 12 – Tây Ninh;
- Phòng PC06, PC01 Công an tỉnh TN;
- Bị cáo;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ; tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN T
Võ Văn Ngầu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 117/2026/HS-PT Bản án số 117/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 117/2026/HS-PT Bản án số 117/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất