Bản án số 116/2024/DS-PT ngày 28/06/2024 của TAND tỉnh Bình Định về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 116/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 116/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 116/2024/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 116/2024/DS-PT ngày 28/06/2024 của TAND tỉnh Bình Định về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bình Định |
| Số hiệu: | 116/2024/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/06/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Nguyên đơn Thái Khai Quang - Công ty CP tập đoàn FLC |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BÌNH ĐỊNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 116/2024/DS-PT
Ngày: 28/6/2024
V/v tranh chấp hợp đồng Mua
bán căn hộ, cho thuê căn hộ
và hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Phương.
- Các Thẩm phán: Ông Thái Văn Hà.
Ông Nguyễn Thanh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường là Thư ký Tòa án nhân
dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Tú Oanh- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 40/2024/TLPT-DS ngày 19
tháng 03 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ, cho thuê căn hộ và
hợp đồng tín dụng.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 313/2024/DS-ST ngày 29 tháng 09 năm
2023 của Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 65/2024/QĐ-PT ngày
01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1 Ông Thái Khai Q; cư trú tại: Số D đường L, phường I, Quận F, Thành
Phố Hồ Chí Minh; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
1.2 Bà Trương Mỹ N; cư trú tại: Số A đường M, phường I, Quận C,
Thành Phố Hồ Chí Minh; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn:
2.1 Công ty cổ phần T2; địa chỉ trụ sở: Tầng B, Tòa nhà B, số B đường C,
phường D, quận C, Thành Phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của Công ty cổ phần T2: Ông Trần Văn H; cư
trú tại: Tầng C, Tòa nhà F, ngõ E L, phường M, Quận N, TP . là đại diện theo ủy
2
quyền (Theo Văn bản ủy quyền ngày 08/4/2023); có đơn yêu cầu xét xử vắng
mặt.
2.2 Công ty cổ phần T2 và Resort
Địa chỉ: Khu S, Khu D - C, xã N, TP ., tỉnh Bình Định.
Người đại diện hợp pháp của Công ty cổ phần T2: Ông Nguyễn Minh Đ;
cư trú tại: Tầng C, Tòa nhà F, ngõ E L, phường M, Quận N, TP . là đại diện theo
ủy quyền (Theo Văn bản ủy lại quyền ngày 08/4/2023); có đơn yêu cầu xét xử
vắng mặt.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành Phố H (H2); trụ sở:
Số nhà B B, đường N, phường B, Quận A, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của H2: Ông Phan Đạt T-Chuyên viên xử lý nợ
là đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 26/10/2023); vắng mặt.
3.2 Ngân hàng TMCP Đ1 (B); Địa chỉ: T, số A T, phường L, quận H,
thành phố Hà nội; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của B: Ông Nguyễn Đức H1 - Phó trưởng
phòng quản lý rủi ro - Ngân hàng TMCP Đ1 - Chi nhánh Q1; địa chỉ trụ sở: Số
G đường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định là đại diện theo ủy quyền (theo văn bản
ủy quyền số: 1322/QĐ-BIDV ngày 15/8/2023); vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Công ty cổ phần T2 là bị đơn, Công ty cổ phần T2
và R và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành Phố H là người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn  trình bày:
Ngày 03/10/2017 giữa nguyên đơn và Công ty cổ phần T2 (viết tắt là T2) có
thống nhất thỏa thuận và ký hợp đồng mua bán căn hộ số 01 tầng 6 theo hợp
đồng số: 601/2017/HĐMBCH-FLCQN-BĐ thuộc dự án tại Khu đô thị S, xã N,
thành phố Q, tỉnh Bình Định. Theo hợp đồng đã thỏa thuận, nguyên đơn đã hoàn
thành nghĩa vụ thanh toán 95% giá trị căn hộ số 01 với tổng số tiền là
2.720.447.084 đồng đúng theo quy định hợp đồng. Sau khi thanh toán bên
nguyên đơn đã nhận bàn giao căn hộ từ FLC vào tháng 6/2017 nhưng đến nay đã
hơn 06 năm T2 vẫn không thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho bên nguyễn đơn theo đúng quy định tại Điều 5.2.6 của Hợp đồng
mua bán căn hộ là vi phạm nghĩa vụ theo Hợp đồng của Bên bán, gây ảnh hưởng
rất lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của Bên mua. Hơn nữa, căn cứ theo quy
định tại Điều 126 Luật đất đai năm 2013 thì thời hạn sử dụng đối với loại đất
“Thương mại dịch vụ” là không quá 50 năm, đối với dự án đầu tư vào địa bàn có
điều kiện kinh tế khó khăn là không quá 70 năm. Đồng thời, ngày 14/02/2020,
Bộ T3 cũng đã có Công văn số 703/BTNMT-TCQLĐĐ hướng dẫn về chế độ sử
dụng đất, theo đó khẳng định: Căn hộ du lịch là cơ sở lưu trú du lịch, việc sử
3
dụng đất vào mục đích kinh doanh dịch vụ thuộc loại đất thương mại dịch vụ và
thời hạn sử dụng đất là không quá 50 năm. Điều này là hoàn toàn trái với cam
kết và thỏa thuận ban đầu của chủ đầu tư với Nguyên đơn (Điều 1.1.3 và 1.1.4
Phụ lục 1 – Hợp đồng mua bán căn hộ ghi rõ mục đích sử dụng căn hộ để ở; thời
hạn sử dụng: lâu dài), gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của nguyên đơn. Bên cạnh đó, theo văn bản số 1804/STNMT-VPĐK ngày
08/6/2023 của Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B và các tài liệu kèm theo thì:
Ngày 20/12/2016, FLC đã thế chấp quyền sử dụng dụng đất và tài sản hình
thành trong tương lai của dự án cho Ngân hàng TMCP Đ1 (viết tắt là B)- Chi
nhánh T4. Ngày 28/9/2017, T2 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp
Giấy chứng nhận số CT05287 đối với căn hộ số 01 tầng 6, Khách sạn T2 (mã
khách sạn 1601). Ngày 20/12/2016, T2 tiếp tục thế chấp căn hộ trên cho B - Chi
nhánh Q1. Việc T2 đã thế chấp dự án cho Ngân hàng nhưng vẫn cố tình bán căn
hộ cho nguyên đơn mà không thông báo cho nguyên đơn về việc thế chấp là vi
phạm pháp luật nghiêm trọng. Sau khi căn hộ được cấp Giấy chứng nhận Tập
đoàn T2 lại tiếp tục thế chấp cho B, đến nay vẫn chưa thực hiện giải quyết. Điều
này có thể khiến căn hộ bị phát mãi nếu FLC mất khả năng thanh toán khoản
vay, dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng cho nguyên đơn.
Ngày 30/10/2017 nguyên đơn và Công ty cổ phần T2 (viết tắt là T2) có
thống nhất thỏa thuận và ký hợp đồng cho thuê và quản lý căn hộ số 01 tầng 6
theo hợp đồng số: 601/2017/HĐTCH-FLCQN-BĐ thuộc dự án tại Khu đô thị S,
xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Theo hợp đồng đã thỏa thuận, giá cho thuê,
thời hạn cho thuê, thanh toán, bàn giao được quy định theo hợp đồng cho thuê.
Nhưng sau khi ký hợp đồng T2 chỉ thanh toán tiền thuê đến kỳ 1/2019, từ kỳ
2/2019 cho đến nay chưa thanh toán. Ngày 16/5/2022 nguyên đơn đã gửi thông
báo về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng trên đến Công ty T2 nhưng sau đó
Nguyên đơn không nhận được bất cứ phản hồi nào của Công ty T2. Như vậy
Công ty T2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê theo hợp đồng cho thuê
căn hộ nói trên.
Trong quá trình ký Hợp đồng mua bán căn hộ với Tập đoàn T2, nguyên đơn có
ký Hợp đồng tín dụng số: 10932/17/HĐTDTDH-CN/172 ngày 23/10/2017 với
Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H (viết tắt là H2) để bổ sung nguồn vốn
nhận chuyển nhượng căn hộ. Cùng ngày 23/10/2017, ông Q bà N và H2 có ký
Hợp đồng thế chấp quyền tài sản, theo đó ông Q bà N thế chấp Hợp đồng mua
bán căn hộ trên để đảm bảo cho khoản vay trên. Tuy nhiên, từ đầu năm 2020 đến
nay Công ty T2 không thanh toán cho ông Q bà N tiền thuê căn hộ dẫn đến việc
Nguyên đơn gặp nhiều khó khăn về tài chính khi sắp xếp để trả tiền gốc, lãi vay
cho H2 theo đúng quy định. Điều này có khả năng gây ảnh hưởng nghiêm trọng
đến điểm tín dụng cá nhân, khiến cho ông Q bà N không thể tiếp tục vay ngân
hàng, dẫn đến tình trạng suy kiệt về tài chính, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống
cá nhân của ông Q bà N.
Trước đây nguyên đơn yêu cầu Tòa buộc Công ty cổ phần T2 phải bàn giao
Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất đối với căn hộ số 01, tầng 6, theo hợp đồng số:
601/2017/HĐMBCH-FLCQN-BĐ thuộc khách sạn FLC LUXURY RESORT tại
4
dự án Khu đô thị D ở Khu K thuộc xã N thành phố Q tỉnh Bình Định; Phải tổ
chức Hội nghị tòa nhà để thành lập Ban quản trị theo quy định và yêu cầu T2
phải bồi thường thiệt hại cho ông S, bà L số tiền lãi quá hạn mà Ngân hàng
Thương mại cổ phần phát triển thành phố H (viết tắt là H2) buộc ông S, bà L
phải thanh toán tạm tính đến ngày 17/6/2022 là 50.000.000 đồng. Nay nguyên
đơn rút yêu cầu nói trên.
Đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành
phố H, Nguyên đơn thống thất và đề nghị ĐHXX xem xét giải quyết theo quy
của pháp luật về hợp đồng tín dụng.
Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa giải quyết cụ thể như sau:
- Yêu cầu chấm dứt hợp đồng mua bán căn hộ số 601/2017/HĐMBCH FLCQN-
BĐ và các Phụ lục hợp đồng kèm theo ký ngày 03/10/2017 giữa T2 và ông Thái
Khai Q, bà Trương Mỹ N.
- Buộc T2 phải hoàn trả cho ông Q bà N số tiền 2.928.710.975 đồng (Trong đó
số tiền chuyển nhượng căn hộ là 2.720.447.084 đồng và số tiền phạt vi phạm
hợp đồng theo quy định tại Điều 12.4.3 của Hợp đồng mua bán căn hộ là
208.263.891 đồng).
- Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng thuê và quản lý căn hộ số 601/2017/HĐTCH-
FLCQN-BĐ và các Phụ lục hợp đồng kèm theo ký ngày 30/10/2017 giữa T2 và
ông Thái Khai Q, bà Trương Mỹ N.
- Buộc T2 phải trả cho ông Q bà N tiền thuê căn hộ chưa thanh toán và lãi suất
chậm thanh toán theo quy định đã cam kết trong hợp đồng tạm tính đến ngày
29/9/2023 là 1.237.529.895 đồng (Trong đó 993.759.345 đồng là tiền chưa
thanh toán tiền thuê căn hộ và 243.770.550 đồng là tiền lãi suất chậm thanh
toán tiền thuê căn hộ quy định theo hợp đồng mà hai bên đã ký kết) và kể từ
ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong số tiền thuê,
T2 phải chịu lãi chậm thanh toán với mức lãi suất là 9,5%/năm x 150% = 14,25
%/ năm theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP.
Bị đơn FLC do bà Trần Thị Hồng N1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bị đơn thống nhất toàn bộ lời trình bày của đại diện bên nguyên đơn về các hợp
đồng trên về thời gian và nội dung ký kết hợp đồng.
Ngày 03/10/2017 T2 và Nguyên đơn có ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ
số 601/2017/HĐMBCH-FLCQN-BĐ cùng các Phụ lục để thực hiện việc mua
bán căn hộ số 01 tầng 6 của Tòa nhà thuộc Dự án Khu đô thị D – không gian
phát triển du lịch cao cấp phía Nam, khu D - C, có địa chỉ tại Khu K, xã N,
thành phố Q, tỉnh Bình Định. Theo đó, hai bên đã thỏa thuận về những trường
hợp Bên mua được đơn phương chấm dứt theo Hợp đồng mua bán trên. Sau khi
ký Hợp đồng mua bán trên, Nguyên đơn với T2 đã ký Hợp đồng cho thuê và
quản lý tài sản số 601/2017/HĐTCH-FLCQN-BĐ ngày 30/10/2017. Nguyên
đơn đã đồng ý cho T2 thuê lại căn hộ nêu trên và giao toàn bộ quyền quản lý, sử
dụng, khai thác kinh doanh đối với căn hộ, quyền sử dụng đất và các tài sản kèm
theo là đúng.
Nay đối với yêu cầu chấm dứt Hợp đồng mua bán: FLC đồng ý với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn về chấm dứt hợp đồng mua bán căn hộ số
5
601/2017/HĐMBCH-FLCQN-BĐ và các Phụ lục hợp đồng kèm theo ký ngày
03/10/2017. Đồng ý hoàn trả cho ông Q bà N số tiền 95 % mà T2 đã nhận từ ông
Q bà N là 2.720.447.084 đồng trong thời hạn 06 tháng. Nhưng không đồng ý trả
số tiền là 208.263.891 đồng, phạt vi phạm 8% của hợp đồng mua bán trên vì
FLC không có lỗi trong việc chấm dứt hợp đồng mua bán mà do khách quan
đem lại. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm quyền, và việc
thay đổi mục đích sử dụng đất là kinh doanh dịch vụ, thời hạn là 50 năm, sự thay
đổi này là do chuyển đổi theo chủ trương, chính sách của cơ quan có thẩm quyền
nên không phải lỗi của T2.
Bị đơn T2 do bà Nguyễn Thị Hồng N2 là người đại diện theo ủy quyền trình
bày:
Bị đơn thống nhất toàn bộ lời trình bày của đại diện bên nguyên đơn về các hợp
đồng trên về thời gian và nội dung ký kết hợp đồng.
Ngày 30/10/2017, T2 và Nguyên đơn có ký kết Hợp đồng thuê và quản lý căn
hộ số 601/2017/HĐTCH-FLCQN-BĐ và các phụ lục kèm theo. Theo đó,
Nguyên đơn đã đồng ý cho T2 thuê lại căn hộ trên và giao toàn bộ quyền quản
lý, sử dụng, khai thác kinh doanh đối với căn hộ, quyền sử dụng đất và các tài
sản kèm theo là đúng. Nhưng trong quá trình thực hiện Hợp đồng thuê và quản
lý tài sản, T2 đã phải chịu ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề bởi sự kiện bất khả
kháng là dịch Covid-19 kéo dài từ cuối năm 2019 đến hiện tại. Trong khi thực
tế, thời điểm ký Hợp đồng thuê và quản lý tài sản được ký kết ngày thời điểm
giữa năm 2017, là thời điểm được đánh giá là thời kỳ phát triển rực rỡ của du
lịch Việt Nam. Vì vậy, trên cơ sở bối cảnh phát triển du lịch tiềm năng, T2 đã
cam kết lợi nhuận 10%/năm. Theo đó, sau khi khai trương và hoạt động, T2
cũng đã chi trả lợi nhuận/giá thuê theo đúng cam kết bằng tiền mặt tới Nguyên
đơn. Nhưng bởi sự bùng phát liên tục của dịch C cùng với hàng loạt lệnh kiểm
soát/cấm vận/hạn chế di chuyển tại các khu vực trong nước và quốc tế là sự kiện
khách quan đã khiến hoàn cảnh thực hiện Hợp đồng thuê và quản lý tài sản cuối
năm 2019, 2020, 2021 có sự thay đổi cơ bản so với thời điểm Hợp đồng thuê và
quản lý tài sản được giao kết (năm 2017). Do đó, T2 đã đề nghị sửa đổi Hợp
đồng thuê liên quan đến hình thức thanh toán, thời hạn thanh toán và mức thanh
toán căn cứ theo Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015. Bởi tại thời điểm giao kết Hợp
đồng các bên không thể lường trước sự kiện này, và nếu sự kiện này nằm trong
khả năng kiểm soát, biết trước được thì T2 sẽ đề xuất mức cam kết lợi nhuận/giá
thuê thấp hơn và hình thức thanh toán Giá thuê/lợi nhuận theo cả hai hình thức
tiền mặt và sản phẩm tương ứng.
Nay T2 đồng ý yêu cầu của nguyên đơn về chấm dứt hợp đồng thuê căn
hộ và quản lý tài sản với nguyên đơn và thống nhất với bảng tính chưa thanh
toán mà nguyên đơn yêu cầu nhưng chỉ đồng ý thanh toán tiền thuê căn hộ cho
nguyên đơn tính đến ngày 16/5/2022 khi T2 nhận được thông báo chấm dứt hợp
đồng thuê căn hộ của nguyên đơn, không đồng ý tính lãi suất cho đến nay.
Về yêu cầu của nguyên đơn bàn giao Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, tổ
chức Hội nghị tòa nhà để thành lập Ban quản trị theo quy định và buộc T2 phải
bồi thường thiệt hại cho ông Q, bà N số tiền lãi quá hạn mà H2 buộc ông Q bà N
6
phải thanh toán tạm tính đến ngày 17/6/2022 là 50.000.000 đồng: Nay nguyên
đơn rút các yêu cầu này nên bị đơn không có ý kiến gì.
Đối với yêu cầu độc lập Ngân hàng TMCP P bị đơn đề nghị giải quyết
theo qui định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập H2 do ông Phan Đạt
T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 23/10/2017 H2 đã cho ông T1 Khai Quang bà Trương Mỹ N vay vốn theo
Hợp đồng tín dụng số 10932/17/HĐTDTDH-CN/172, giải ngân theo các Khế
ước nhận nợ số 10932/17/HĐTDTDH-CN/172/ĐNGN-KUNN/01 ngày
30/10/2017, cụ thể số tiền vay: 1.718.177.000 đồng, thời hạn vay 240 tháng, từ
ngày 30/10/2017 đến ngày 30/10/2037. Mục đích sử dụng vốn mua bất động sản
dự án, căn hộ số 01 tại tầng F, tòa nhà thuộc dự án Khu đô thị D, xã N, khu K,
TP ., T. B.
Để đảm bảo cho khoản vay, ông Q, bà N đã thế chấp cho H2 toàn bộ quyền tài
sản và quyền lợi khác của bên thế chấp phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ
số 601/2017/HĐMBCH-FLCQN-BĐ ngày 03/10/2017 giữa bên bán là Công ty
Cổ phần T2 với bên mua là ông T1 Khai Quang bà Trương Mỹ N. Hợp đồng thế
chấp quyền tài sản số 9621/17/HĐBĐ-172 ngày 23/10/2017 được xác lập giữa
H2 với ông Q bà N đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp
luật.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng này, ông Q bà N đã vi phạm nghĩa vụ thanh
toán gốc và lãi cho H2, vi phạm Điều 6 của Hợp đồng tín dụng, liên quan đến vụ
kiện có ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Tính đến ngày 29/9/2023, ông
Q bà N còn nợ H2 tổng cộng: là 2.279.084.566 đồng (trong đó nợ
gốc:1.594.336.965 đồng, nợ lãi trong hạn 523.068.238 đồng và lãi quá hạn là
161.679.363 đồng).
Nay H2 yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án buộc ông T1 Khai Quang bà Trương Mỹ
N phải thanh toán cho H2 tổng số tiền tạm tính đến ngày 29/9/2023 là
2.279.084.566 đồng (trong đó nợ gốc:1.594.336.965 đồng, nợ lãi trong hạn
523.068.238 đồng và lãi quá hạn là 161.679.363 đồng), tiếp tục thanh toán phần
nợ lãi phát sinh theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận
nợ từ sau ngày 29/9/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ; Trường hợp
ông Thái Khai Q bà Trương Mỹ N không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ nêu
trên và lãi phát sinh thì H2 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền, phát mại
tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ; toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài
sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Q và bà N đối với
H2, nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết
khoản nợ thì ông Q bà N vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho H2 bằng
nguồn thu và các tài sản hợp pháp khác.
H2 chỉ đồng ý chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hộ nếu các khoản tiền mà Tập
đoàn T2 có nghĩa vụ hoàn trả/thanh toán cho nguyên đơn được chuyển trả trực
tiếp vào tài khoản của nguyên đơn mở tại H2, để thanh toán các khoản nợ của
nguyên đơn tại H2, trường hợp còn dư sẽ trả lại cho nguyên đơn nhưng nếu
thiếu thì xử lý các tài sản hợp pháp khác của nguyên đơn để thu hồi hết nợ.
7
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan B do ông Nguyễn Đức H1 là người đại
diện theo ủy quyền trình bày:
B và T2 và T2 bắt đầu quan hệ tín dụng từ năm 2015 cho đến nay để thực hiện
dự án quần thể sân Golf, biệt thự nghỉ dưỡng tại N. Để đảm bảo nghĩa vụ của T2
và T2, T2 đã thế chấp toàn bộ tài sản của dự án, trong đó có tài sản căn hộ số 01
tầng 6, Khách sạn T2 (mã khách sạn 1601) cụ thể: Hợp đồng thế chấp tài sản
gắn liền với đất hình thành trong tương lai số 01/2015/3239064/HĐTC ngày
11/11/2015; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
hình thành trong tương lai số 01/2016/3239064/HĐTC ngày 29/11/2016 và Hợp
đồng thế chấp bổ sung ngày 20/12/2016; Hợp đồng thế chấp bất động sản số
01/2017/3239064/HĐTC ngày 30/11/2017 và Văn bản sửa đổi bổ sung Hợp
đồng thế chấp tài sản số 01/2017/3239064/SĐBS ngày 31/01/2018. Các Hợp
đồng thế chấp nêu trên được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy
định. Nay về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, B không có ý kiến gì và đề nghị
Tòa giải quyết theo quy định pháp luật. B không có yêu cầu độc lập trong vụ án
này. Trường hợp có phát sinh tranh chấp thì B và các bên liên quan sẽ cùng nhau
thương lượng, thỏa thuận và giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định pháp
luật.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 251/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023
của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Thái Khai Q bà Trương
Mỹ N.
1.1. Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hộ số 01 tầng 6 theo hợp đồng
số: 601/2017/HĐMBCH-FLCQN-BĐ và các Phụ lục hợp đồng kèm theo ký
ngày 03/10/2017 giữa Công ty cổ phần T2 với ông Thái Khai Q, bà Trương Mỹ
N.
1.2. Buộc Công ty Cổ phần T2 phải trả cho ông T1 Khai Quang bà Trương Mỹ
N số tiền tổng cộng là 2.928.710.975 đồng (Trong đó tiền mua căn hộ số 01 là
2.720.447.084 đồng và tiền phạt vi phạm hợp đồng là 208.263.891 đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Q bà N đối với các khoản tiền đã
tuyên cho đến khi thi hành án xong, Công ty Cổ phần T2 còn phải chịu khoản
tiền lãi chậm trả của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định là
10%/ năm.
1.3. Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng thuê và quản lý căn hộ số 601/2017/HĐTCH-
FLCQN-BĐ và các Phụ lục hợp đồng kèm theo ký ngày 30/10/2017 giữa Công
ty cổ phần T2 với ông T1 Khai Quang bà Trương Mỹ N.
1.4. Buộc Công ty cổ phần T2 nghĩa vụ thanh toán cho ông T1 Khai Quang bà
Trương Mỹ N: Tiền thuê căn hộ số 01 chưa thanh toán và lãi suất chậm thanh
toán theo quy định đã cam kết trong hợp đồng tạm tính đến ngày 29/9/2023 là
1.237.529.895 đồng (Trong đó 993.759.345 đồng là tiền thuê căn hộ và
243.770.550 đồng là tiền lãi suất).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong số
tiền trên, Công ty cổ phần T2 phải chịu lãi chậm thanh toán án theo mức lãi suất
các bên thỏa thuận tại Hợp đồng thuê và quản lý tài sản số 601/2017/HĐTCH-
FLCQN-BĐ ngày 30/10/2017 là 14,25 %/năm (9,5%/năm x 150%).
8
2. Đình chỉ xét xử yêu cầu của nguyên đơn buộc Công ty Cổ phần T2 bàn giao
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Tổ chức hội nghị tòa nhà theo quy định của
pháp luật và bồi thường thiệt hại lãi quá hạn ngân hàng do nguyên đơn đã tự
nguyện rút phần yêu cầu khởi kiện này.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại cổ phần
phát triển thành phố H.
3.1. Buộc ông T1 Khai Quang bà Trương Mỹ N phải thanh toán cho Ngân hàng
Thương mại cổ phần phát triển thành phố H tổng số tiền tạm tính đến 29/9/2023
là 2.279.084.566 đồng (trong đó nợ gốc:1.594.336.965 đồng, nợ lãi trong hạn
523.068.238 đồng và lãi quá hạn là 161.679.363 đồng) và tiếp tục thanh toán
phần nợ lãi phát sinh theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng và Khế ước
nhận nợ từ sau ngày 29/9/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
3.2. Buộc Công ty cổ phần T2 có nghĩa vụ chuyển khoản hoặc thanh toán trực
tiếp các khoản tiền phải trả cho ông T1 Khai Quang bà Trương Mỹ N3 đã tuyên
vào tài khoản của ông T1 Khai Quang bà Trương Mỹ N4 ở tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần phát triển thành phố H. Ngân hàng Thương mại cổ phần
phát triển thành phố H được toàn quyền xử lý thu hồi nợ bằng các khoản tiền
này, nếu không đủ thì bằng các nguồn thu cũng như tài sản hợp pháp khác của
ông Q bà N mà pháp luật cho phép cho đến khi thu hồi hết nợ,
3.3. Không chấp nhận một phần yêu cầu độc lập về được quyền xử lý tài sản bảo
đảm để thu hồi nợ của Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H.
4. Không chấp nhận yêu cầu của Công ty Cổ phần T2 không đồng ý phạt vi
phạm hợp đồng.
5. Không chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần T2 không đồng ý thanh
toán tiền thuê và lãi suất tính đến ngày xét xử.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm và
quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 11 tháng 10 năm 2023, Công ty Cổ phần T2 kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo đúng quy định về
khoản tiền phạt vi phạm.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, Công ty cổ phần T2 kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp
nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của Công ty cổ phần T2.
Ngày 05 tháng 10 năm 2023, Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển
thành phố H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm: Buộc
ông Thái Khai Q và bà Trương Mỹ N phải thanh toán ngay cho H2
2.279.084.566 đồng, nếu ông Q và bà N không thanh toán hoặc thanh toán
không đầy đủ thì đề nghị cho cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp
để đảm bảo cho việc thu hồi nợ; buộc ông Q, bà N phải tiếp tục thanh toán cho
H2 tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong
các hợp đồng tín dụng từ sau ngày 29/9/2023 cho đến khi thanh toán xong nợ;
H2 chỉ đồng ý cho các bên chấm dứt hợp đồng mua bán căn hộ nêu trên sau khi
các bên đã thanh toán đầy đủ nợ vay cho H2; Nếu ông Q, bà N và các bên (T2)
không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cũng không đồng ý cho H2 phát mãi tài
sản thế chấp để thu hồi nợ mà vẫn yêu cầu chấm dứt hợp đồng mua bán căn hộ
9
thì đề nghị chuyển sang cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra truy tố FLC
về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về Tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm, người tiến hành tố tụng và
người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) không chấp
nhận kháng cáo của T2, T2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của
H2. giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã triệu tập hợp lệ, nhưng
đại diện theo ủy quyền của của H2 là ông Phan Đạt T vẫn vắng mặt tại phiên tòa
lần thứ hai, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên coi
như của H2 từ bỏ kháng cáo của mình. HĐXX phúc thẩm căn cứ vào khoản 3
Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu
kháng cáo của của H2.
[2] Xét kháng cáo của T2, HĐXX thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm chấp
nhận yêu cầu về tiền phạt vi phạm của ông Thái Khai Q và bà Trương Mỹ N là
có căn cứ, bởi lẽ: Bên mua ông Thái Khai Q và bà Trương Mỹ N đã thanh toán
95% giá bán căn hộ cho T2 và đã nhận bàn giao căn hộ từ tháng 7/2017 nhưng
đến tại thời điểm xét xử sơ thẩm vẫn chưa được nhận Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo quy định tại Điều 5.2.6 Hợp đồng mua bán căn hộ số:
601/2017/HĐMBCH-FLCQN-BĐ. FLC không thông báo cho người ông Q, bà
N nộp 5% tiền mua căn hộ còn lại và giao giấy chứng nhận đứng tên họ, mà
ngày 20/12/2016 T2 lại đem giấy chứng nhận này bổ sung thế chấp quyền sử
dụng đất và tài sản hình thành trong tương lai của cả Dự án cho B - Chi nhánh
T4. Như vậy, T2 đã vi phạm các quy định tại hợp đồng mua bán căn hộ nêu trên
nên phải chịu tiền phạt vi phạm hợp đồng, theo quy định tại khoản 12.4.3 Điều
12 của Hợp đồng mua bán căn hộ số: 601/2017/HĐMBCH-FLCQN-BĐ và các
Phụ lục hợp đồng kèm theo ký ngày 03/10/2017 giữa Công ty cổ phần T2 với
ông Thái Khai Q, bà Trương Mỹ N. Do đó kháng cáo của T2 là không có cơ sở.
[3] Xét kháng cáo của T2, HĐXX thấy rằng: T2 kháng cáo toàn bộ bản án
sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp
nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của T2. Tuy nhiên, T2 không nêu rõ nội dung là
kháng cáo như thế nào, căn cứ, lý do của việc kháng cáo ra sao. Hơn nữa, T2 là
bị đơn trong vụ án nên không thể có yêu cầu độc lập và cũng không có yêu cầu
phản tố nên kháng cáo của T2 là không có căn cứ.
[4] Từ những phân tích trên, xét thấy kháng cáo của T2, T2 và H2 là
không có căn cứ nên không được HĐXX chấp nhận. Giữ nguyên bản án sơ
thẩm.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Theo quy định tại khoản 1 Điều 148 của
Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số:
10
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội thì FLC, T2 và H2 mỗi bên phải chịu 300.000 đồng.
[6] Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của những người
tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm cũng như về việc giải
quyết vụ án là phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 148, Điều 157, khoản 3 Điều
296, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ các điều 3, 108, 117, 295, 298, 299, 317, 319, 323, 398, 430, 431,
483, 484, 488 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 91, 95, 98 của Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần T2 và kháng cáo của
Công ty cổ phần T2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của
Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H. Giữ nguyên Bản án dân
sự sơ thẩm số: 251/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân
thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Thái Khai Q bà Trương
Mỹ N.
1.1. Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hộ số 01 tầng 6 theo hợp đồng
số: 601/2017/HĐMBCH-FLCQN-BĐ và các Phụ lục hợp đồng kèm theo ký
ngày 03/10/2017 giữa Công ty cổ phần T2 với ông Thái Khai Q, bà Trương Mỹ
N.
1.2. Buộc Công ty Cổ phần T2 phải trả cho ông T1 Khai Quang bà Trương Mỹ
N số tiền tổng cộng là 2.928.710.975 đồng (Trong đó tiền mua căn hộ số 01 là
2.720.447.084 đồng và tiền phạt vi phạm hợp đồng là 208.263.891 đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Q bà N đối với các khoản tiền đã
tuyên cho đến khi thi hành án xong, Công ty Cổ phần T2 còn phải chịu khoản
tiền lãi chậm trả của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định là
10%/ năm.
1.3. Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng thuê và quản lý căn hộ số 601/2017/HĐTCH-
FLCQN-BĐ và các Phụ lục hợp đồng kèm theo ký ngày 30/10/2017 giữa Công
ty cổ phần T2 với ông T1 Khai Quang bà Trương Mỹ N.
1.4. Buộc Công ty cổ phần T2 nghĩa vụ thanh toán cho ông T1 Khai Quang bà
Trương Mỹ N: Tiền thuê căn hộ số 01 chưa thanh toán và lãi suất chậm thanh
11
toán theo quy định đã cam kết trong hợp đồng tạm tính đến ngày 29/9/2023 là
1.237.529.895 đồng (Trong đó 993.759.345 đồng là tiền thuê căn hộ và
243.770.550 đồng là tiền lãi suất).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong số
tiền trên, Công ty cổ phần T2 phải chịu lãi chậm thanh toán án theo mức lãi suất
các bên thỏa thuận tại Hợp đồng thuê và quản lý tài sản số 601/2017/HĐTCH-
FLCQN-BĐ ngày 30/10/2017 là 14,25 %/năm (9,5%/năm x 150%).
2. Đình chỉ xét xử yêu cầu của nguyên đơn buộc Công ty Cổ phần T2 bàn giao
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Tổ chức hội nghị tòa nhà theo quy định của
pháp luật và bồi thường thiệt hại lãi quá hạn ngân hàng do nguyên đơn đã tự
nguyện rút phần yêu cầu khởi kiện này.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại cổ phần
phát triển thành phố H.
3.1. Buộc ông T1 Khai Quang bà Trương Mỹ N phải thanh toán cho Ngân hàng
Thương mại cổ phần phát triển thành phố H tổng số tiền tạm tính đến 29/9/2023
là 2.279.084.566 đồng (trong đó nợ gốc:1.594.336.965 đồng, nợ lãi trong hạn
523.068.238 đồng và lãi quá hạn là 161.679.363 đồng) và tiếp tục thanh toán
phần nợ lãi phát sinh theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng và Khế ước
nhận nợ từ sau ngày 29/9/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
3.2. Buộc Công ty cổ phần T2 có nghĩa vụ chuyển khoản hoặc thanh toán trực
tiếp các khoản tiền phải trả cho ông T1 Khai Quang bà Trương Mỹ N3 đã tuyên
vào tài khoản của ông T1 Khai Quang bà Trương Mỹ N4 ở tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần phát triển thành phố H. Ngân hàng Thương mại cổ phần
phát triển thành phố H được toàn quyền xử lý thu hồi nợ bằng các khoản tiền
này, nếu không đủ thì bằng các nguồn thu cũng như tài sản hợp pháp khác của
ông Q bà N mà pháp luật cho phép cho đến khi thu hồi hết nợ,
3.3. Không chấp nhận một phần yêu cầu độc lập về được quyền xử lý tài sản bảo
đảm để thu hồi nợ của Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H.
4. Không chấp nhận yêu cầu của Công ty Cổ phần T2 không đồng ý phạt vi
phạm hợp đồng.
5. Không chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần T2 không đồng ý thanh
toán tiền thuê và lãi suất tính đến ngày xét xử.
6. Về án phí, chi phí tố tụng khác:
6.1 Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Công ty cổ phần T2 phải chịu án phí chấm dứt hợp đồng mua bán căn hộ
là 300.000 đồng và án phí về nghĩa vụ thanh toán khi chấm dứt hợp đồng mua
bán căn hộ là 90.574.000 đồng.
- Công ty cổ phần T2 phải chịu án phí chấm dứt hợp đồng thuê và quản lý
tài sản là 300.000 đồng và án phí về nghĩa vụ thanh toán khi chấm dứt hợp đồng
thuê và quản lý tài sản là 49.126.000 đồng.
12
- Ông Thái Khai Q, bà Trương Mỹ N phải chịu án phí về nghĩa vụ thanh
toán hợp đồng tín dụng là 77.582.000 đồng. Nhưng được trừ vào khoản tiền tạm
ứng án phí đã nộp theo theo biên lai số 0003584 ngày 25 tháng 3 năm 2021 số
tiền 7.117.000 đồng và biên lai số 0004457 ngày 13 tháng 9 năm 2022 số tiền
46.256.000 đồng. Nên ông Q, bà N còn phải nộp số tiền là 24.209.000 đồng.
- Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H
37.025.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai số 0003022 ngày 08
tháng 12 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.
6.2 Án phí dân sự phúc thẩm: Công ty cổ phần T2, Công ty cổ phần T2 và
Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H mỗi bên phải chịu
300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã
nộp, theo các Biên lai thu số: 0000100 ngày 10/11/2023; 0000145 ngày
23/11/2023; 0000156 ngày 13/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố
Quy Nhơn, tỉnh Bình định.
6.3 Chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000
đồng ông Q, bà N đã nộp chi xong. Công ty cổ phần T2 và Công ty cổ phần T2
phải chịu chi phí này nên mỗi Công ty phải thanh toán cho ông Q bà N
1.500.000 đồng.
7. Quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo
quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự,
người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu
thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định
tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Bình Định; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND TP. Quy Nhơn;
- CCTHADS TP. Quy Nhơn;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ; Tòa dân sự.
Võ Công Phƣơng
13
THÀNH VIÊN HĐXX THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

14
Nguyễn Thanh Tuấn Thái Văn Hà Võ Công Phƣơng
NHẬN ĐỊNH CỦA CẤP SƠ THẨM
[3] Xét kháng cáo của HDBank, HĐXX thấy rằng:
[3.1] Về yêu cầu buộc ông Thái Khai Quang và bà Trương Mỹ Nhu phải
thanh toán ngay cho HDBank 2.279.084.566 đồng và buộc ông Quang, bà Nhu
phải tiếp tục thanh toán cho HDBank tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá
hạn do các bên thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng từ sau ngày 29/9/2023
cho đến khi thanh toán xong nợ, thì yêu cầu thanh toán và thanh toán lãi phát
sinh đã được tuyên tại mục 3.1 trong phần quyết định của Bản án sơ thẩm, còn
thời hạn thanh toán thì pháp luật không có quy định về việc bên có nghĩa vụ
“phải thanh toán ngay” cho bên có quyền lợi nên yêu cầu này của HDBank là
không có căn cứ.
[3.2] Về yêu cầu nếu ông Quang và bà Nhu không thanh toán hoặc thanh
toán không đầy đủ thì đề nghị cho cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế
chấp để đảm bảo cho việc thu hồi nợ, thì số tiền mà ông Quang, bà Nhu phải có
nghĩa vụ thanh toán cho HDBank ít hơn số tiền mà FLC phải có nghĩa vụ thanh
toán cho ông Quang, bà Nhu và HDBank cũng đã được đảm bảo thu hồi nợ bằng
việc FLC phải có nghĩa vụ chuyển khoản hoặc thanh toán trực tiếp các khoản
tiền phải trả cho ông Quang, bà Nhu vào tài khoản ông Quang, bà Nhu mở tại
HDBank và HDBank được toàn quyền xử lý thu hồi nợ bằng các khoản tiền này,
nếu không đủ thì bằng các nguồn thu cũng như tài sản hợp pháp khác của bà ông
Quang, bà Nhu mà pháp luật cho phép cho đến khi thu hồi hết nợ. Hơn nữa, khi
đã chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hộ thì quyền về tài sản này không còn là
của ông Quang, bà Nhu nữa và trong quá trình thi hành án nếu FLC không thanh
toán hoặc thanh toán không đầy đủ cho vợ chồng bà Hải, ông Sơn thì vợ chồng
ông Quang, bà Nhu vẫn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thu hồi nợ
từ các nguồn, tài sản khác của FLC để đảm bảo cho việc thu hồi nợ của
HDBank. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận cho HDBank yêu cầu cơ quan có
thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ của HDBank là có cơ sở.
[3.3] Đối với yêu cầu nếu ông Quang, bà Nhu và các bên (FLC) không
thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cũng không đồng ý cho HDBank phát mãi tài
sản thế chấp để thu hồi nợ mà vẫn yêu cầu chấm dứt hợp đồng mua bán căn hộ
thì đề nghị chuyển sang cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra truy tố FLC
về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thì trong quá trình giải quyết vụ án, HDBank
không có yêu cầu và cấp xét xử cũng không xem xét giải quyết về vấn đề này
15
này nên trong phạm vi xét xử của mình, cấp phúc thẩm không có căn cứ để xem
xét giải quyết. Do đó, yêu cầu này của HDBank là không có căn cứ.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết vụ án, vụ án có quan hệ là “Tranh
chấp hợp đồng mua bán và cho thuê căn hộ và hợp đồng tín dụng”. Đối tượng
mua bán của hợp đồng là căn hộ số 01 tại tầng 6, thuộc dự án Khách sạn FLC
Luxury Hotel tọa lạc tại Khu Kinh Tế Nhơn Hội, xã Nhơn Lý, thành phố Quy
Nhơn, tỉnh Bình Định, như vậy nơi thực hiện hợp đồng là thành phố Quy Nhơn,
nên Tòa án nhân dân thành phố Quy nhơn thụ lý vụ án, giải quyết theo thẩm
quyền quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm g khoản 1
Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Về yêu cầu của nguyên đơn HĐXX thấy rằng:
Vào ngày 03/10/2017 giữa Công ty cổ phần tập đoàn FLC và ông Thái Khai
Quang bà Trương Mỹ Nhu có ký hợp đồng mua bán căn hộ số
601/2017/HĐMBCH-FLCQN-BĐ cùng các Phụ lục hợp đồng kèm theo. Ngày
30/10/2017 giữa Công ty cổ phần FLC Quy Nhơn Golf & Resort và ông Thái
Khai Quang bà Trương Mỹ Nhu ký Hợp đồng thuê và quản lý căn hộ số 01 tầng
6 theo hợp đồng số: 601/2017/HĐTCH-FLCQN-BĐ cùng các Phụ lục hợp đồng
kèm theo. Các hợp đồng trên được các bên tham gia ký kết đảm bảo về chủ thể,
nội dung, các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, không trái pháp luật
phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117, 398, 430, 431, 483, 484 Bộ luật dân
sự năm 2015; các Điều 118, 119, 121 Luật nhà ở năm 2014 và các Điều 5, 11,
17, 18, 19, 25, 54, 55, 57 của Luật Kinh doanh bất động sản nên có hiệu lực
pháp luật.
[2.1] Xét yêu cầu chấm dứt hợp đồng mua bán căn hộ số 601/2017/HĐMBCH-
FLCQN-BĐ và các Phụ lục hợp đồng kèm theo ký ngày 03/10/2017 giữa Công
ty cổ phần tập đoàn FLC với ông Thái Khai Quang bà Trương Mỹ Nhu và hoàn
trả tiền mua bán căn hộ nói trên cho nguyên đơn. Tại phiên Tòa các bên đương
sự thống nhất chấm dứt hợp đồng mua bán căn hộ nói trên, bị đơn đồng ý hoàn
trả số tiền chuyển nhượng căn hộ đã nhận là 2.720.447.084 đồng cho nguyên
đơn nên được HĐXX chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng mua bán của nguyên đơn là
208.263.891 đồng nhưng không được bị đơn đồng ý, HĐXX nhận định: Theo
nội dung hợp đồng mua bán được ký kết giữa hai bên quy định tại Điều 1.1.3 và
1.1.4 Phụ lục 1 Hợp đồng mua bán căn hộ ghi rõ mục đích sử dụng căn hộ để ở;
thời hạn sử dụng lâu dài hiện nay có sự thay đổi việc mục đích sử dụng đất là
kinh doanh dịch vụ, thời hạn sử dụng là 50 năm. Sự thay đổi này do chuyển đổi
từ hình thức Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất sang hình thức cho thuê
đất trả tiền thuê đất một lần theo chủ trương, chính sách của cơ quan có thẩm
16
quyền. Hình thức căn hộ khách sạn thuộc đất thương mại dịch vụ không thuộc
đối tượng sử dụng để ở, lâu dài như ý chí ban đầu của hai bên đương sự. Bên
mua đã thanh toán 95% giá bán căn hộ cho Tập đoàn FLC, đã nhận bàn giao căn
hộ từ Tập đoàn FLC từ tháng 7/2017 nhưng đến nay chưa được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 5.2.6 Hợp đồng mua bán căn hộ.
Trên thực tế, ngày 21/9/2017 Tập đoàn FLC đã được Sở tài nguyên và môi
trường cấp 326 Giấy chứng nhận cho khu khách sạn Luxury Hotel, trong có có
mã khách sạn 1601 nhưng đều đứng tên Tập đoàn FLC mà không đứng tên ông
Thái Khai Quang bà Trương Mỹ Nhu là người mua như đã thỏa thuận. Tập đoàn
FLC không thông báo cho người mua nộp số tiền 5% còn lại và giao giấy chứng
nhận đứng tên họ, mà ngày 20/12/2016 Tập đoàn FLC đem giấy chứng nhận này
bổ sung thế chấp quyền sử dụng dụng đất và tài sản hình thành trong tương lai
của Dự án cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh
Tây Sơn. Xét thấy, việc Tập đoàn FLC đã thế chấp dự án cho Ngân hàng từ năm
2015 nhưng vẫn bán căn hộ cho nguyên đơn mà không thông báo cho nguyên
đơn về việc thế chấp là vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Căn
cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật kinh doanh bất động sản thì bên bán
nhà, công trình xây dựng có nghĩa vụ: “Thông báo cho bên mua các hạn chế về
quyền sở hữu nhà, công trình xây dựng (nếu có)”. Đồng thời, theo quy định tại
Điều 6.1.3 Hợp đồng mua bán căn hộ thì: “Bên mua được toàn quyền sở hữu, sử
dụng, và thực hiện các giao dịch đối với căn hộ đã mua theo quy định của pháp
luật…”. Như vậy việc làm này của Tập đoàn FLC là vi phạm nghĩa vụ bên bán
theo hợp đồng mua bán căn hộ, vi phạm Điều 26 của luật Nhà ở và các Điều 13,
22 của Luật kinh doanh bất động sản làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của ông Quang bà Nhu. Ngày 16/5/2022 ông Quang, bà Nhu đã gửi Thông
báo về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng mua bán căn hộ nói trên đến Tập
đoàn FLC. Do đó, yêu cầu của ông Quang bà Nhu tuyên bố chấm dứt Hợp đồng
mua bán là có căn cứ, phù hợp với với Điều 15.1.5 của Hợp đồng mua bán căn
hộ và các Điều 422, 428 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Mặc dù bị đơn thống
nhất chấm dứt hợp đồng mua bán căn hộ, đồng ý hoàn trả số tiền chuyển nhượng
căn hộ đã nhận, nhưng nguyên nhân dẫn đến nguyên đơn đơn phương chấm dứt
Hợp đồng mua bán căn hộ là do Công ty cổ phần tập đoàn FLC đã vi phạm
nghĩa vụ khi thực hiện hợp đồng mua bán căn hộ như đã phân tích trên, nay
nguyên đơn yêu cầu khoản tiền phạt tương đương 8% giá bán căn hộ sau khi trừ
thuế VAT 10% tương ứng số tiền 208.263.891 đồng là có cơ sở. Nên yêu cầu
của nguyên đơn về tiền phạt vi phạm là có căn cứ theo quy định tại Điều 12.4.3
Hợp đồng mua bán căn hộ đã ký kết giữa hai bên nên được Hội đồng xét xử
chấp nhận.
Như vậy Công ty cổ phần tập đoàn FLC phải hoàn trả cho ông Quang bà Nhu
tổng số tiền là 2.928.710.975 đồng (Trong đó số tiền chuyển nhượng căn hộ là
2.720.447.084 đồng và số tiền phạt vi phạm hợp đồng theo quy định của Hợp
đồng mua bán căn hộ là 208.263.891 đồng).
[2.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn chấm dứt Hợp đồng thuê và quản lý căn hộ số
01 tầng 6 theo hợp đồng số: 601/2017/HĐTCH-FLCQN-BĐ và các phụ lục hợp
17
đồng kèm theo ký ngày 30/10/2017 giữa Công ty cổ phần FLC Quy Nhơn Golf
& Resort và ông Thái Khai Quang bà Trương Mỹ Nhu và yêu cầu Công ty Cổ
phần FLC Quy Nhơn Golf & Resort phải thanh toán cho ông Quang bà Nhu tiền
thuê và tiền lãi chậm thanh toán tính đến thời điểm xét xử vụ án ngày 29/9/2023
theo Hợp đồng thuê căn hộ: Tại phiên Tòa các bên đương sự thống nhất chấm
đứt hợp đồng cho thuê và quản lý tài sản hai căn hộ nói trên nên được HĐXX
chấp nhận. Bị đơn thống nhất bảng tính tiền thuê và lãi của nguyên đơn nhưng
chỉ đồng ý thanh toán tiền thuê đến ngày 16/5/2022 là ngày nhận thông báo
chấm dứt hợp đồng cho thuê và không đồng ý tính lãi như nguyên đơn yêu cầu,
HĐXX nhận định:
Quá trình thực hiện hợp đồng thuê và quản lý căn hộ số 01 tầng 6, Công ty cổ
phần FLC Quy Nhơn Golf & Resort đã vi phạm nghĩa vụ không thanh toán tiền
thuê từ kỳ 02/2019 đến nay, theo căn cứ Điều 481 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy
định:“1. Bên thuê phải trả đủ tiền thuê đúng thời hạn đã thỏa thuận...”; khoản 2
Điều 29 Luật kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: “Nghĩa vụ của bên
thuê là phải thanh toán đủ tiền thuê nhà .... theo thời hạn và phương thức thoả
thuận trong hợp đồng. Bên cạnh đó đối tượng cho thuê của Hợp đồng thuê và
quản lý căn hộ và các phụ lục hợp đồng kèm theo ký ngày 30/10/2017 là căn hộ
số 01 tầng 6 thuộc dự án tại Khu đô thị sinh thái FLC Quy Nhơn, xã Nhơn Lý,
thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, căn hộ này là tài sản của bên cho thuê là
ông Quang bà Nhu theo Hợp đồng mua bán căn hộ số 601/2017/HĐMBCH-
FLCQN-BĐ và các Phụ lục hợp đồng kèm theo ký ngày 03/10/2017 giữa
nguyên đơn và Công ty Cổ phần Tập đoàn FLC nhưng tại thời điểm này, các bên
đã thống nhất chấm dứt hợp đồng mua bán nói trên, do Công ty Cổ phần Tập
đoàn FLC vi phạm nghĩa vụ và các bên thống nhất chấm dứt hợp đồng thuê và
quản lý căn hộ vì đối tượng cho thuê cũng không còn. Việc Công ty FLC Quy
Nhơn chỉ đồng ý thanh toán cho nguyên đơn tiền thuê và không tính lãi suất tính
đến ngày 16/5/2022 là ngày nhận thông báo chấm dứt hợp đồng cho thuê nhưng
hai bên không làm thủ tục theo quy định về việc chấm dứt và thanh toán tiền
thuê theo các hợp đồng cho thuê nói trên, và Công ty FLC Quy Nhơn cho rằng
do dịch bệnh phát sinh và kéo dài ảnh hưởng trực tiếp đến ngành nghề du lịch,
nghỉ dưỡng, nhưng giữa hai bên đương sự không có thỏa thuận hay có thay đổi
thỏa thuận tại hợp đồng về việc ghi nhận dịch bệnh Covid 19 là sự kiện bất khả
kháng và Công ty FLC Quy Nhơn đã áp dụng các biện pháp cần thiết và trong
khả năng cho phép nào để khắc phục nhưng vẫn không thể vượt qua cho nên
việc Công ty FLC Quy Nhơn cho rằng phát sinh sự kiện bất khả kháng để không
thanh toán tiền thuê và lãi cho nguyên đơn đến ngày xét xử là không có căn cứ
nên không được HĐXX chấp nhận.
Như vậy quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty cổ phần FLC Quy Nhơn Golf &
Resort đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê tại các Điều 3,4 của Hợp đồng
thuê và quản lý tài sản; Điều 29, 30 của Luật kinh doanh bất động sản; Điều
428, 481 Bộ luật Dân sự năm 2015. Bên cạnh đó Hợp đồng mua bán căn hộ
ngày 03/10/2017 giữa ông Quang bà Nhu và Công ty cổ phần tập đoàn FLC
chấm dứt do lỗi của Tập đoàn FLC. Công ty FLC Quy Nhơn chậm trả tiền thuê
18
cho đến nay là đúng thực tế gây thiệt hại về thu nhập cho nguyên đơn. Vì vậy,
ông Quang bà Nhu yêu cầu tính tiền thuê còn thiếu từ kỳ 02 năm 2019 đến ngày
xét xử sơ thẩm và tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê theo Điều 10.1 là đúng theo
thoả thuận tại hợp đồng. Do Điều 10.1 chỉ nêu chung áp dụng lãi suất vay vốn cá
nhân kỳ hạn 12 tháng mà không nêu rõ lãi suất thấp nhất hay cao nhất nên căn
cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 405 Bộ Luật dân sự nguyên đơn yêu cầu
Công ty FLC Quy Nhơn phải thanh toán tiền lãi đối với khoản tiền thuê chậm
thanh toán sau khi khấu trừ thuế với mức lãi suất 14,25%/năm (9,5 %/năm x
150%) với thời gian chậm trả từ kỳ 2/2019 đến ngày 29/9/2023, tổng cộng tiền
thuê và tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê căn hộ số 01 tầng 6 là 1.237.529.895
đồng (Trong đó 993.759.345 đồng là tiền chưa thanh toán tiền thuê căn hộ và
243.770.550 đồng là tiền lãi suất chậm thanh toán tiền thuê căn hộ quy định theo
hợp đồng mà hai bên đã ký kết)như nguyên đơn yêu cầu là có căn cứ theo các
Điều 351 353, 357, 364 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn bản xác minh lãi
suất của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Bình Định
được Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Nên Công ty cổ phần FLC Quy Nhơn Golf & Resort có nghĩa vụ thanh toán cho
ông Thái Khai Quang bà Tương Mỹ Nhutiền thuê đối với căn hộ số 01 tính đến
ngày 29/9/2023 là 1.237.529.895 đồng (Trong đó 993.759.345 đồng là tiền chưa
thanh toán tiền thuê căn hộ và 243.770.550 đồng là tiền lãi suất chậm thanh
toán).Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong
số tiền trên, Công ty cổ phần FLC Quy Nhơn Golf & Resort phải chịu lãi chậm
thanh toán án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng thuê và quản lý
tài sản số 601/2017/HĐTCH-FLCQN-BĐ ngày 30/10/2017 là 14,25 %/năm
(9,5%/năm x 150%).
[3] Về yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng
TMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh:
[3.1] Về yêu cầu nguyên đơn phải thanh khoản nợ gốc còn lại và lãi: Xét thấy,
căn cứ vào các quy định về nghĩa vụ thanh toán và trả nợ tại Hợp đồng tín dụng
mà Ngân hàng và nguyên đơn đã ký kết thì việc nguyên đơn vi phạm nghĩa vụ
trả nợ cho Ngân hàng và vi phạm Điều 6 của hợp đồng tín dụng, Tại phiên Tòa
các bên thống nhất về hợp đồng tín dụng số tiền gốc và lãi chưa thanh toán, theo
quy định tại Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng thì việc Ngân hàng yêu
cầu chấm dứt cho vay và thu hồi trước hạn là có căn cứ. Do đó, Ngân hàng có
yêu cầu độc lập buộc nguyên đơn phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền
tạm tính đến 29/9/2023 là 2.279.084.566 đồng (trong đó nợ gốc:1.594.336.965
đồng, nợ lãi trong hạn 523.068.238 đồng và lãi quá hạn là 161.679.363 đồng) và
tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín
dụng và Khế ước nhận nợ từ sau ngày 29/9/2023 cho đến khi thanh toán xong
khoản nợ là có căn cứ được HĐXX chấp nhận.
[3.2] Về xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ: Khoản vay theo Hợp đồng tín dụng
số:10932/17/HĐTDTDH-CN/172 ngày 23/10/2017được đảm bảo bằng toàn bộ
các quyền tài sản của nguyên đơn phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ số:
19
601/2017/HĐMBCH-FLCQN-BĐ ngày 03/10/2017 giữa bên bán là Công ty Cổ
phần Tập đoàn FLC với bên mua là ông Thái Khai Quang bà Trương Mỹ Nhu,
theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số: 9621/17/HĐBĐ- 172 ngày 23/10/2017
để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ, đã đăng ký giao dịch đảm bảo theo đúng quy
định. Như vậy Hợp đồng thế chấp quyền tài sản này có hiệu lực pháp luật theo
quy định tại Điều 319 BLDS 2015. Tuy nhiên, xét thấy tài sản thế chấp là quyền
tài sản của nguyên đơn phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ như đã biết, hiện
tại, nguyên đơn đã yêu cầu chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hộ này, do vậy tài
sản và quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ sẽ không còn thuộc
quyền sở hữu của nguyên đơn. Mặc khác Tập đoàn FCL đã thế chấp toàn bộ dự
án trong đó các căn hộ đang tranh cấp cho BIDV Chi nhánh Quy Nhơn có đăng
ký giao dịch bảo đảm nên đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ
thời điểm đăng ký, nhưng Tập đoàn FCL chưa thực hiện việc giải chấp từng
phần để giao hồ sơ pháp lý căn hộ cho HDBank theo thỏa thuận tại Hợp đồng
liên kết giữa các bên nên đại diện của BIDV không chấp nhận yêu cầu phát mãi
tài sản của HDBank là có cơ sở. Việc xử lý tài sản thế chấp khi tài sản không
còn thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp là không đảm bảo theo các quy định
của Luật THADS do đó không cơ sở để chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm
để thu hồi nợ của HDBank.
[3.3] Về yêu cầu các khoản tiền mà Tập đoàn FLC có nghĩa vụ hoàn trả/thanh
toán cho nguyên đơn được chuyển trả trực tiếp vào tài khoản của nguyên đơn
mở tại HDBank, để thanh toán các khoản nợ của nguyên đơn tại HDBank,
trường hợp còn dư sẽ trả lại cho nguyên đơn nhưng nếu thiếu thì xử lý các tài
sản hợp pháp khác của nguyên đơn để thu hồi hết nợ. Yêu cầu này của HDBank
là phù hợp phương thức xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận các bên nên được
HĐXX chấp nhận.
[4] Nguyên đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện buộc Công ty Cổ phần
Tập đoàn FLC bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Tổ chức hội nghị
tòa nhà theo quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố
tụng Dân sự, HĐXX chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này do
nguyên đơn đã tự nguyện rút.
[5] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng, ông Quang bà Nhu đã
nộp tạm ứng, Công ty Cổ phần Tập đoàn FLC và Công ty cổ phần FLC Quy
Nhơn Golf & Resort phải chịu và có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Quang bà Nhu
số tiền 3.000.000 đồng theo Điều 157 Bộ luật tố tụng Dân sự.
[6] Án phí Dân sự sơ thẩm theo Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức
thu, miễn, giảm nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án các đương sự
phải chịu án phí như sau:
[6.1] Công ty cổ phần tập đoàn FLC phải chịu án phí chấm dứt hợp đồng mua
bán căn hộ là 300.000 đồng và án phí về nghĩa vụ thanh toán khi chấm dứt hợp
đồng mua bán căn hộ.
20
[6.2] Công ty cổ phần FLC Quy Nhơn phải chịu án phí chấm dứt hợp đồng thuê
và quản lý tài sản là 300.000 đồng và án phí về nghĩa vụ thanh toán khi chấm
dứt hợp đồng thuê và quản lý tài sản.
[6.3] Ông Thái Khai Quang bà Trương Mỹ Nhu phải chịu án phí về nghĩa vụ
thanh toán theo Hợp đồng tín dụng cho Ngân hàng.
[6.4] Hoàn trả các khoản tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP Phát triển thành
phố Hồ Chí Minh.
- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có luận cứ về việc
giải quyết vụ án hoàn toàn phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên
được chấp nhận.
- Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu quan điểm giải quyết vụ án phù hợp
với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng