Bản án số 17/2026/DS-ST ngày 27/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 17/2026/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 17/2026/DS-ST ngày 27/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 17/2026/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/02/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồngtặng cho quyền sử dụng đấtvà bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 9 –MAU Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 17/2026/DS-ST
Ngày: 27/02/2026
V/v tranh chấp hợp đồng thuê quyền
sử dụng đất, tranh chấp hợp đồngtặng
cho quyền sử dụng đấtvà bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Phan Tú Anh
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Văn Phƣớc ông Trần Thanh
Tuấn.
-Thư phiên tòa:Ông Đỗ Minh Hoàng - Thư Toà án nhân dân
khu vực 9 - Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Mautham gia phiên
tòa:Ông Dƣơng Minh Kha- Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 02 năm 2026 tại Tòa án nhân dân khu vực 9 -
Mau mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ số273/2024/TLST-DS ngày 08
tháng 10 năm 2024 về việc“Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số299/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn:Chị Nguyễn Kiều O, sinh năm 1984(Có mặt)
Địa chỉ: Số A L tỉnh 5, khu phố A, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1984
Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Thanh Đ: Chị Nguyễn
Kiều T, sinh năm 1978 (Theo văn bản ủy quyền ngày 21/8/2025)(Có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp X, xã N, tỉnh Cà Mau.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1952(Có mặt)
- Bà Trần Thị N, sinh năm 1956(Có mặt)
Cùng địa chỉ:Ấp X, xã N, tỉnh Cà Mau
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn D, bà Trần
Thị N là bà Trần Kim T1 Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp
lý nhà nước tỉnh C.(Có mặt)
- Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1987(Vắng mặt – đơn xin vắng mặt)
- Chị Nguyễn Kiều T, sinh năm 1978 (Có mặt)
Cùng địa chỉ:Ấp X, xã N, tỉnh Cà Mau.
2
- Anh Nguyễn Chí D1, sinh năm 1979(Vắng mặt Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số A L tỉnh 5, khu phố A, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn chị Nguyễn Kiều O trình bày:
Chị O khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng cho thuê quyền
sử dụng đất giữa chị với ông Nguyễn Thanh Đ đối với phần đất có tổng diện tích
theo giấy chứng nhận quyền sdụng đất chị được cấp 17.862,8m
2
thuộc
thửa đất số 572 thửa đất số 622 cùng tờ bản đồ số 8 tọa lạc tại ấp X, xã N,
tỉnh Mau đồng thời chị yêu cầu anh Đ phải thanh toán tổng tiền thuê đất còn
nợ 38.000.000 đồng(trong đó của năm 2023 10.000.000 đồng của năm
2024 là 28.000.000 đồng). Ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác.
Nguyên vào ngày 20/6/2023, chị O thỏa thuận cho anh Đ thuê lại phần
đất trồng lúa nuôi tôm tổng diện tích theo giấy chứng nhận 17.862,8m
2
thuộc thửa đất số 572 và thửa đất số 622 cùng tờ bản đồ số 8 đất tọa lạc tại ấp X,
N, tỉnh Mau (trên hợp đồng thì ghi diện tích 13 công tầm cấy) với tổng
số tiền 28.000.000 đồng/01 năm, thời hạn cho thuê 04 năm. Hai bên thỏa
thuận miệng tiền thuê đất sẽ được trả vào đầu năm. Tuy nhiên từ khi chị O bàn
giao phần đất trên cho anh Đ đến nay thì anh Đ chỉ thanh toán cho chị O được số
tiền 18.000.000 đồng, còn nợ lại tiền thuê đất của năm 2023 là 10.000.000
đồng hiện tại hợp đồng thuê giữa chị với anh Đ đã bước sang năm thứ hai
nhưng từ đầu năm đến nay anh Đ vẫn chưa thanh toán tiền thuê đất của năm thứ
hai cho chị là 28.000.000 đồng. Chị có liên hệ với anh Đ thì anh Đ nói là số tiền
thuê đất nêu trên anh Đ đã trả cho cha ruột của chị O ông Nguyễn Văn D nhận.
do trong hợp đồng cho thuê đất giữa chị O với anh Điền Đ ghi nội
dung “Bên A (Bên cho thuê đất)” gồm ông Nguyễn Văn D và chị O bởi
nguyên nhân như sau: Phần đất chị O đang cho anh Đ tổng diện tích
17.862,8m
2
gồm 02 thửa đất đó thửa 622 thửa 572 cùng tờ bản đồ số 8. Cả
hai thửa đất này trước đây đều của cha, mẹ chO ông Nguyễn Văn D,
Trần Thị N . Đối với thửa 622 thì trước đây cha, mẹ chị O cho lại em trai của chị
O là anh Nguyễn Văn H thửa đất số 572 thì cha, mẹ chị O cho lại em gái của chị
chị Nguyễn Thị N1 (việc cha mẹ chị O tặng cho đất anh H chị N1 chỉ nói
miệng chứ không có làm giấy tờ nhưng các anh, chị, em trong gia đình đều biết).
Đối với thửa đất số 622 có diện tích khoảng 08 công tầm cấy thì trước đây
anh H từng thời gian cho anh Đ thuê lại, khi anh Đ thuê lại phần đất này từ
anh H thì cha chị O thường xuyên làm khó anh Đ. Sau đó đến khoảng năm
2021- 2022 (chị O không nhớ cụ thể thời gian) thì vợ chồng chị nhận chuyển
nhượng lại thửa đất số 622 từ anh Nguyễn Văn H, việc chuyển nhượng đất với
anh H trước đây có làm giấy tay.
Còn đối với thửa đất số 572 diện tích khoảng 5,8 công tầm cấy thì
khoảng 01 năm sau khi vợ chồng chị O nhận chuyển nhượng đất từ anh H thì vợ
chồng chị nhận chuyển nhượng lại phần diện tích 05 công tầm cấy từ chị N1 với
giá 500.000.000 đồng(tương đương 01 công tầm cấy chị N1 chuyển nhượng cho
vợ chồng chị O với giá 100.000.000 đồng), khi chị N1 chuyển nhượng đất cho
3
vợ chồng chị O thì hai bên không có ra đo đạc phần đất chuyển nhượng, lý do là
bởi khi cha, mchị O nói cho đất chị N1 thì chỉ nói miệng, chị N1 cũng không
canh tác đối với phần đất 05 công tầm cấy được cha, mẹ cho lại này lúc
cho thì chị N1 đang nước ngoài. Đối với phần diện tích khoảng 0,8 công tầm
cấy còn lại của thửa 572 tcha, mchO chuyển nhượng lại cho vợ chồng chị
O với giá 55.000.000 đồng, khi chuyển nhượng cũng không đo đạc thực tế.
Vợ chồng chị O đã giao đtiền nhận chuyển nhượng đất cho chị N1 cha, mẹ
chị O nhận. Việc chuyển nhượng đất giao nhận tiền với chị N1 với cha,
mẹ chO nêu trên các bên không làm giấy tờ , chỉ thỏa thuận miệng
người thân trong gia đình. Khi vợ chồng chị O nhận chuyển nhượng đất từ anh
H và chị N1 thì cha, mẹ chị O biết rõvà cũng đồng ý với việc chuyển nhượng đất
này.
Mặc khác, tại thời điểm vợ chồng chị O nhận chuyển nhượng đất từ anh H
chị N1 thì các phần đất này vẫn do cha chị O là ông Nguyễn Văn D đứng tên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên sau khi nhận chuyển nhượng đất từ anh
H, chị N1 thì cha chị O là ông Nguyễn Văn D đã lập hợp đồng tặng cho lại chị O
các thửa đất nêu trên để hợp thức hóa việc chuyển nhượng đất giữa vợ chồng chị
O với anh H, chị N1 việc chuyển nhượng đất giữa cha, mẹ chị O với vợ
chồng chị O.Sau khi lập hợp đồng tặng cho thì chị O đã được nhà nước công
nhận quyền sử dụng đất tại thửa 622 vào ngày 17/6/2022 với diện tích là
10.383,0m
2
được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất tại thửa 572 vào
ngày 13/4/2023với diện tích là 7.479,8m
2
.
Sau khi được công nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất 572 622 thì vợ
chồngchị O cho anh Đ thuê lại toàn bộ hai thửa đất này. Khi cho anh Đ thuê đất
thì anh Đ nói với chị O trước đây anh Đ từng thuê lại phần đất anh H đã
chuyển nhượng lại cho vợ chồng chị O nhưng lúc đó cha chị O thường gây khó
khăn cho anh Đ khi anh Đ canh tác đối với phần đất này do đóanh Đ nói với
chị O là để tên của cha chị O là ông Nguyễn Văn D vào trong hợp đồng cho thuê
đất cùng với chị đsau này khi anh Đ canh tác đối với phần đất này thì cha chị
O sẽ không làm khó anh Đ nên trong hợp đồng cho thuê đất giữa chị O với anh
Đ ghi nội dung “Bên A (Bên cho thuê đất)” gồmcha chị O ông Nguyễn
Văn D và chị O, đồng thời ông D cũng có ký tên vào hợp đồng cho thuê đất giữa
chị O với anh Đ2 trên.
Việc cha, mẹ chị O trình bày chị O nói với cha, mẹ chị để cho chị đứng tên
dùm chị N1 phần đất 05 công tầm cấy cha, mẹ tặng cho chị N1 khi nào chị
N1 về nước thì chị O sẽ chuyển tên lại phần đất này cho chị N1 hoàn toàn
không đúng. Chị O cũng không đồng ý việc cha, mẹ chị O xác định đối với phần
diện tích khoảng 0,8 công tầm cấy còn lại thuộc thửa đất 572 thì trước đây cha,
mẹ chị tặng cho lại chị.
Chị O không đồng ý với yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Thanh Đ, do
là bởi anh Đ vi phạm hợp đồng thuê đất với chị O trước. Anh Đ thuê lại phần đất
05 công tầm cấy nguồn gốc do ch O nhận chuyển nhượng lại từ chị N1
nhưng khi trả tiền thuê phần đất 05 công tầm cấy này thì lại trả cho cha, mch
O ông D, bà N. Hơn nữa, từ khi phát sinh tranh chấp đến nay thì phần đất
4
chị O cho anh Đ thuê lại tổng diện tích khoảng 13 công tầm cấy chO cũng
không lấy lại sử dụng anh Đ không trả lại đất cho chị O. Do đó những
thiệt hại mà anh Đ yêu cầu chị O bồi thường là không có căn cứ.
Chị O không đồng ý với yêu cầu độc lập của cha, mẹ chị là ông Nguyễn
Văn D, Trần Thị Như . Mặc dù chỉ cha chị O tên vào hợp đồng tặng
cho quyền sdụng đất (mẹ chị O N không tên) nhưng việc chị N1
chuyển nhượng lại cho vợ chồng chị O phần đất 05 công tầm cấy mà cha, mẹ chị
O cho chị N1 thì cha, mẹ chị biết rõ và cũng đồng ý với việc chuyển nhượng này
nên khi cha chị O là ông Nguyễn Văn D ra UBND lập hợp đồng tặng cho đất
chị O để hợp thức hóa giao dịch chuyển nhượng đất giữa chị N1 với vợ chồng
chị O thì N hoàn toàn không ý kiến phản đối. Chị O không đồng ý với lời
trình bày của cha, mẹ chị cũng như lời trình bày của anh Đ phần đất 05 công tầm
cấy thuộc thửa đất 572 (qua đo đạc thực tế 6.544,9m
2
) anh Đ thuê lại từ cha,
mẹ chị O. Tại thời điểm lập hợp đồng cho thuê đất ngày 20/6/2023 thì phần đất
05 công tầm cấy nêu trên đã thuộc quyền sở hữu của vợ chồng chị O. Vào năm
2024, sau khi hợp đồng cho thuê đất được 01 năm, anh Đ không trả tiền thuê
đất cho chị O đầy đủ theo thỏa thuận thì chO yêu cầu chính quyền ấp,
giải quyết thì tại buổi hòa giải ấp ngày 08/8/2024 thì anh Đ thừa nhận thuê
lại toàn bộ phần đất 13 công tầm cấy từ chị O và đồng ý trả tiền thuê đất cho chị
O với điều kiện chị O phải đảm bảo không ai cản trở anh Đ canh tác đối với
phần đất này và hiện tại thì cha chị O đang cản trở đối với anh Đ.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng các thửa đất chị O cho anh Đ thuê
nêu trên, chị O không có thế chấp vay vốn tại tổ chức tín dụng nào. Chị O không
yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết đối với giao dịch chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa vợ chồng chị với chị N1 ng không yêu cầu Tòa án xem xét
giải quyết đối với giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng
chị với cha, mẹ chị tại thửa đất 572 nêu trên.Ngoài ra chị O không ý kiến
yêu cầu gì khác.
Ngày 12/5/2025,chị Nguyễn Kiều O có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi
kiện không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với phần diện tích đất qua đo đạc thực
tế cơ quan chuyên môn kết luận nằm tại các thửa các thửa 91, 92 cùng tờ bản đồ
số 7và nằm tại các thửa 116, 138, 159 cùng tờ bản đồ số 8 chính quy.Tại phiên
tòa, chị Nguyễn Kiều O tiếp tục xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện theo đó
chị O không yêu cầu anh Đ phải thanh toán số tiền thuê đất là 38.000.000 đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Nguyễn Thanh Đ chị
Nguyễn Kiều T trình bày:Anh Đ không không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện
của chị Nguyễn Kiều O. do bởi trong tổng diện tích đất 13 công tầm cấy
(trên thực tế khoảng 13,7 công tầm cấy) anh Đ thuê không phải toàn bộ diện
tích đất này là của chị O. Trong tổng diện tích đất anh Đ thuê lại thì phần đất của
chị O chỉ diện tích khoảng 8,7 công tầm cấy, phần diện tích còn lại khoảng
05 công tầm cấy anh Đ thuê lại từ cha, mẹ vợ của anh Đ ông Nguyễn Văn
D, bà Trần Thị N do đó khi trả tiền thuê đất của năm 2023 thì anh Đ trả tiền thuê
đất cho chị O tương đương với diện tích đất thuê của chị O 18.000.000 đồng,
số tiền thuê phần đất còn lại 10.000.000 đồng thì anh Đ trả cho vợ chồng ông
5
Nguyễn Văn D, Trần Thị N .Sang năm 2024, thì do phát sinh tranh chấp đối
với chị O liên quan đến hợp đồng thuê đất nêu trên chị O không đồng ý cho
anh Đ tiếp tục thuê đất nữa nên năm 2024 anh Đ không canh tác đối với toàn
bộ phần đất thuê khoảng 13,7 công tầm cấy này nên anh Đ không đồng ý trả tiền
thuê đất của năm 2024 cho chị O theo yêu cầu của chị O.
Trước đây vào ngày 20/6/2023, anh Đ thuê lại phần đất trồng lúa
nuôi tôm tổng diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chị
Nguyễn Kiều O được cấp là 17.862,8m
2
thuộc thửa đất số 572 và thửa đất số 622
cùng tờ bản đồ số 8 đất tọa lạc tại ấp X, N, tỉnh Mau (tn hợp đồng thuê
đất thì ghi diện tích đất thuê 13 công) với tổng số tiền 28.000.000 đồng/01
năm, thời hạn cho thuê 04 năm từ ông Nguyễn Văn D chị Nguyễn Kiều O
(ông Nguyễn Văn D cha vợ tôi cha ruột của chị O). Hai bên thỏa thuận
miệng tiền thuê đất sẽ được trả vào đầu năm. Sau khi thuê lại phần đất nêu trên
thì tôi đã trả tiền thuê toàn bộ phần đất nêu trên của năm 2023 trong đó trả cho
chị O số tiền thuê đất là 18.000.000 đồng, còn lại 10.000.000 đồng thì tôi trả cho
cha, mvợ tôi ông Nguyễn Văn D, Trần Thị N, do đó khi hai bên lập hợp
đồng thuê đất thì trong hợp đồng thuê có ghi “Bên A (Bên cho thuê đất)”gồm
ông Nguyễn Văn D và bà chị Nguyễn Kiều O.
Đối với phần đất 05 công tầm cấy mà anh Đ thuê lại từ vợ chồng ông
Nguyễn Văn D nêu trên thì tại thời điểm ký hợp đồng thuê đất thì anh Đ thuê lại
phần đất này tcha vợ anh ông Nguyễn Văn D trả tiền thuê phần đất 05
công tầm cấy này cho ông D. Còn việc phần đất 05 công tầm cấy này cha, mẹ vợ
anh Đ tặng cho lại chị N1 chị N1 chuyển nhượng lại phần đất này cho
chị O hay không thì anh Đ không biết. Tại thời điểm anh Đ kết hợp đồng
thuê đất với chị O và ông Nguyễn Văn D thì anh Đ hoàn toàn không biết là phần
đất 05 công tầm cấy anh Đ thuê lại tông Nguyễn Văn D nêu trên do chị
Nguyễn Kiều O đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Anh Đ không đồng ý với lời trình bày của chị O vviệc khi kết hợp
đồng thuê đất thì anh Đ đề nghị với chị O cho cha vợ anh Đ là ông Nguyễn Văn
D cùng ký tên với chị O vào mục bên cho thuê đất.Phần đất 05 công tầm cấy
anh Đ thuê lại từ cha vợ anh là ông Nguyễn Văn D2 trước đến nay ông D không
cản trở đối với anh Đ.Khi ra hòa giải ấp vụ việc tranh chấp hợp đồng thuê
đất với chị O, anh Đ chỉ nói nếu chị O muốn anh Đ trả tiền thuê đất đối với
toàn bộ phần đất 13 công tầm cấy thì chị O phải đảm bảo cho anh Đ được canh
tác đối với toàn bộ phần đất thuê này, tại trong tổng số 13 công tầm cấy đất
anh Đ thuê 05 công anh Đ thuê từ cha vợ ông Nguyễn Văn D, nếu anh
Đ trả tiền thuê đất cho chị O đối với phần đất 05 công tầm cấy này thì ông D sẽ
không cho anh Đ làm phần đất 05 công tầm cấy này thì ai chịu trách nhiệm. Chứ
anh Đ không có nói là ông D cản trở anh Điềncanh tác đối với phần đất 05 công
tầm cấy nêu trên.
Hiện tại hợp đồng thuê giữa anh Đ với ông D, chị O vẫn còn nhưng từ
ngày 20/06/2024 đến nay do phát sinh tranh chấp với chị O nên anh Đ không
canh tác được đối với toàn bộ phần đất thuê này.Đối với phần đất 05 công tầm
cấy anh Đ thlại từ ông Nguyễn Văn D thì ông D đã lấy lại trực tiếp canh
6
tác. Đối với phần đất hơn 08 công tầm cấy còn lại thì anh Đ không có quản lý sử
dụng chị O không cho anh Đ tiếp tục thuê đất, còn vợ chồng chị O hay ai
canh tác phần đất này thì anh Đ không biết.
Anh Đ phản tố yêu cầu chị Nguyễn Kiều O phải bồi thường thiệt hại cho
anh Đ do đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn với số tiền
84.000.000 đồng (T2 mươi bốn triệu đồng) phải bồi thường thiệt hại cho anh
Đ tiền đầu vào đất, tài sản trên đất với số tiền 28.000.000 đồng.Tổng số
tiền yêu cầu bồi thường là 112.000.000 đồng.Ngoài ra anh Đ không có ý kiến và
yêu cầu gì khác.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn D,
Trần Thị N thống nhất trình bày:
Nguồn gốc phần đất thửa đất 572, tờ bản đồ số 8theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất chị O được cấp tổng diện ch 7479,8m
2
của vợ
chồng ông D, bà N. Vào năm 2023, vợ chồng ông D, N thấy con gái của ông,
chị Nguyễn Thị N1 (chị N1 em ruột của chị O) ly hôn với chồng, một
mình phải nuôi con nhỏ ở xứ người (ở Singapore) nên vợ chồng ông, bà mới bàn
nhau tặng cho lại chị N1 phần đất diện tích 05 công tầm cấy thuộc thửa đất
572nêu trên(phần đất vợ chồng ông, tặng cho chị N1 diện tích 05 công
tầm cấy chính phần đất qua đo đạc thực tế diện tích 6.544,9m
2
thuộc thửa
đất số 572, tờ bản đồ số 8 được thể hiện tại Bản vẽ của Trung tâm K1 đo vẽ
tháng 3 năm 2025), lúc vợ chồng ông, bàcho đất chị N1 thì vợ chồng ông, bà
gọi điện thông báo cho chị N1 hay là vợ chồng ông, bà tặng cho lại chị N1 phần
đất 05 công tầm cấy này nhưng với điều kiện đất thì vẫn do vợ chồng ông,
trực tiếp canh tác, khi nào vợ chồng ông, bà qua đời thì chị N1 mới được lấy đất
sử dụng. Tuy nhiên, lúc đó chị N1 đang nước ngoài nên vợ chồng ông,
không thực hiện được việc lập hợp đồng tặng cho lại chị N1 phần đất này đồng
thời lúc đó chị Nguyễn Kiều O có nói với vợ chồng ông, bà là để chị O đứng tên
dùm cho chị N1 phần đất nêu trên, sau này chị N1 về nước thì chị O sẽ chuyển
tên lại phần đất này cho chị N1 được đứng tên. Vợ chồng ông, bà cứ nghĩ là con
cái trong nhà nên cũng đồng ý với đề xuất của chị O.
Sau đó ông Nguyễn Văn D cùng với chị Nguyễn Kiều O ra UBND
N lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đối với phần đất 05 công tầm nêu trên
còn Trần Thị N thì không ra UBND N ký tên vào hợp đồng tặng cho.
Vợ chồng ông D, N xác định thửa đất 572 tờ bản đồ số 8 tổng diện tích
7.479,8m
2
(tương đương khoảng 5,8 công tầm cấy) thì vợ chồng ông, bà tặng cho
lại chị N1 diện tích 05 công tầm cấy, còn lại diện tích khoảng 0,8 công tầm cấy
thì vợ chồng ông, tặng cho lại chị O do trước đó vợ chồng chị O cho vợ
chồng ông, một số tiền để sửa chữa lại căn nhà mà vợ chồng ông, đang
hiện nay. Sau khi ông Nguyễn Văn D lập hợp đồng tặng cho lại chị O toàn bộ
phần đất này thì chị O đã được cấp quyền sử dụng đất tại thửa 572 tờ bản đồ số
8 với tổng diện tích là 7.479,8m
2
vào ngày 13/4/2023.
Đối với thửa đất 622, tờ bản đồ số 8 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất chO được cấp tổng diện tích 10.383,0m
2
(tương đương 08 công
7
tầm cấy) t phần đất này trước đây v chồng ông D, N tặng cho lại anh
Nguyễn Văn H (anh H con trai út của vợ chồng ông D, bà N em út của chị
O)vào khoảng năm 2011-2012. Việc vợ chồng ông, bàtặng cho lại anh H phần
đất này trước đây chỉ nói miệng chứ không có làm giấy tờ gì, sau đó đến khoảng
năm 2021- 2022 thì anh H chuyển nhượng lại toàn bộ phần đất này cho vợ
chồng chị O. Tại thời điểm anh H chuyển nhượng lại phần đất này cho vợ chồng
chị O thì phần đất này vẫn còn do vợ chồng ông D, N đứng tên quyền sử
dụng đất trước đó vợ chồng ông, chưa chuyển tên đối với phần đất này
cho anh H. Sau khi anh H chuyển nhượng lại phần đất 08 công tầm cấy này cho
vợ chồng chị O thì vợ chồng ông D, bà N mới làm thủ tục chuyển tên lại phần
đất 08 công tầm cấy này cho chị O bằng hình thức cha, mẹ tặng cho con quyền
sử dụng đất để hợp thức hóa giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
vợ chồng chị O với anh H tại thửa đất 622, tbản đồ số 8. Sau khi chị O được
cấp quyền sử dụng đất tại thửa đất này thì chị O lập hợp đồng cho anh Đ thuê lại
phần đất này vào năm 2023. Đối với thửa đất 622, tờ bản đồ số 8 theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất chị O được cấp tổng diện tích
10.383,0m
2
(tương đương 08 công tầm cấy) thì vợ chồng ông, bàkhông ý
kiến hay tranh chấp gì với chị O.
Mặc thửa đất số 572, tờ bản đồ số 8 do chị O đứng tên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất tuy nhiên trên thực tế có một phần diện tích đất 05 công
tầm cấy vợ chồng ông D, bà N tặng cho lại chị N1 chứ không tặng cho chị O
nên khi chị O lập hợp đồng cho anh Đ thuê đất thì ông Nguyễn Văn D có ký tên
cùng với chị O ở mục Bên A (Bên cho thuê đất)” và anh Đ trả tiền thuê đất cho
vợ chồng ông D, N đối với phần đất 05 công tầm cấy này. Từ khi chị O
anh Đ phát sinh tranh chấp liên quan đến việc cho thuê đất nêu trên thì vợ chồng
ông D, bà N đã lấy lại phần đất 05 công tầm cấy này từ anh Đ (lấy lại từ khoảng
tháng 7 năm 2024) đến nay để trực tiếp canh tác.
Vợ chồng ông D, N2 yêu cầu Tòa án hủy một phần hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho ông Nguyễn Văn D với bên được tặng
cho chị Nguyễn Kiều O được UBND N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay
UBND N, tỉnh Mau)chứng thực số 44, quyển số 01/2023-SCT/HĐ,GD
ngày 09/03/2023 đối với phần diện tích đất qua đo đạc thực tế là 6.544,9m
2
thuộc
thửa đất số 572, tờ bản đồ số 8. Ngoài ra vợ chồng ông, không ý kiến
yêu cầu gì khác.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị N1 trình
bày:Đối với việc chị Nguyễn Kiều O cho anhNguyễn Thanh Điền thuê đất cụ
thể như thế nào tchị N1 không rõ. Còn về nguồn gốc thửa đất số 572, tờ bản
đồ số 8 tổng diện tích 7.479,8m
2
(tương đương khoảng 5,8 công tầm cấy)
hiện tại do chị Nguyễn Kiều O đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì
nguồn gốc toàn bộ thửa đất này trước đây của cha, mẹ chị N1 ông Nguyễn
Văn D, bà Trần Thị Như . Trước đây vào năm 2023, cha mẹ chị N1 tặng cho lại
chịNhớ phần đất 05 công tầm cấy thuộc thửa đất số 572 nêu trên (việc tặng cho
đất chỉ nói miệng chứ không làm giấy tờ nhưng các anh, chị, em trong gia
đình đều biết). Thời điểm cha, mẹ cho đất chị N1 thì chị N3 nước ngoài (ở
8
Singapore) nên chị cũng không có trực tiếp canh tác được đối với phần đất được
cho này đồng thời lúc đó chịNhớ cũng đang cần tiền để sử dụng nên sau khi
được cha, mẹ cho đất thì chị đã chuyển nhương lại phần đất 05 công tầm cấy mà
chị được cha, mẹ cho lại nêu trên cho vợ chồng chị O, lúc chị N1 chuyển
nhượng đất cho vợ chồng chị O thì cha, mẹ chị ôngNguyễn Văn D3, bà Trần
Thị N cũng biết đồng ý. Thửa đất 572có diện tích khoảng 5,8 công tầm cấy
thì chị N1 chuyển nhượng lại cho vợ chồng chị O diện tích 05 công tầm cấy, còn
lại diện tích khoảng 0,8 công tầm cấy thì lúc chị N1 chuyển nhượng đất cho vợ
chồng chị O thì cha, mchịlà ông D3, N cũng đồng thời đứng ra chuyển
nhượng lại cho vợ chồng chị O phần diện tích khoảng 0,8 công tầm cấy n lại
của thửa đất này. Sau khi chị N4 cha, mẹ chị N1 chuyển nhượng đất cho vợ
chồng chị O như nêu trên thì cha chị N1 ông Nguyễn Văn D chị Nguyễn
Kiều O ng nhau ra UBND xã N lập hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, cụ
thể ông Nguyễn Văn D lập hợp đồng tặng cho lại chị Nguyễn Kiều O toàn bộ
thửa đất đất 572, tờ bản đồ số 8 tổng diện tích 7.479,8m
2
(lý do ông D lập
hợp đồng tặng cho lại chị O thửa đất nêu trên để hợp thức hóa việc chuyển
nhượng đất giữa chN1 với vợ chồng chị O hợp thức hóa việc chuyển
nhượng đất giữa cha, mẹ chị N1 với vợ chồng chị O).Sau khi lập hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất thì chị O đã được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất
tại thửa đất này.
Chị N1 chuyển nhượng phần đất 05 công tầm cấy nêu trên cho vchồng chị O
với giá 500.000.000 đồng (tương đương 01 công tầm cấy chị N1 chuyển nhượng
cho vợ chồng chị O với giá 100.000.000 đồng) vợ chồng chị O đã giao đủ số
tiền 500.000.000 đồng cho chị N1 nhận. Việc chuyển nhượng đất giữa chị N1
với vợ chồng chị O không có làm giấy tờ gì, không có đo đạc thực tế mà chỉ trao
đổi qua điện thoại bởi thời điểm chuyển nhượng thì chị N1 đang nước
ngoài. Chị N1 không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết đối với giao dịch
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị N1 với vợ chồng chị O nêu trên.
Ngoài ra chị không có ý kiến và yêu cầu gì khác.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Kiều T trình
bày:Chị T vợ của anh Nguyễn Thanh Đ. Chị T thống nhất với phần trình bày
của anh Nguyễn Thanh Đ trong quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Trí D4 trình
bày:Anh Nguyễn Trí D4 chồng của chị Nguyễn Kiều O. Anh Dũng thống
nhất với phần trình bày của của chị O trong quá trình giải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn D,
Trần Thị N Trần Kim T1 trình bày:Phần diện tích đất qua đo đạc thực tế
diện tích 6.544,9m
2
thuộc thửa đất số 572, tờ bản đồ số 8 nguồn gốc của
vợ chồng ông Nguyễn Văn D, Trần Thị Như . Đây tài sản chung của vợ
chồng ông D, N tuy nhiên khi lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tại
UBND N thì bà Trần Thị Như K tham gia tên vào hợp đồng tặng cho
N cũng không đồng ý đối với hợp đồng tặng cho này. Do đó, căn cứ các
quy định của Bộ luật dân sLuật hôn nhân gia đình quy định vtài sản
chung của vợ chồng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu độc lập của vợ
9
chồng ông Nguyễn Văn D, bà Trần Thị N và không chấp nhận một phần yêu cầu
khởi kiện của chị Nguyễn Kiều O về việc yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng cho thuê
đất đối với phần diện tích đất 6.544,9m
2
thuộc thửa đất số 572, tbản đồ số 8
nêu trên bởi phần đất này của vợ chồng ông D, N cho anh Đ thuê vợ
chồng ông D, N ng như anh Đ không ai yêu cầu Tòa án giải quyết đối với
việc cho thuê phần đất này giữa hai bên.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến phiên tòa xét xử hôm
nayThẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử,các đương sđã chấp hành đúng các
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:Đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kiều O đối với
phần diện tích đất qua đo đạc thực tế quan chuyên môn kết luận nằm tại các
thửa 91, 92 cùng tờ bản đồ số 7và các thửa 116, 138, 159 cùng tờ bản đồ số 8
chính quytọa lạc tại Xẻo D, xã N, tỉnh Cà Mau.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chNguyễn Kiều O về việc yêu
cầu anh Nguyễn Thanh Đ phải thanh toán số tiền thuê đất là 38.000.000 đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện củach Nguyễn Kiều O. Vô hiệu hợp
đồng cho thuê đất đềngày 20/6/2023giữa chị Nguyễn Kiều O và anh Nguyễn
Thanh Đ.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Thanh Đ về việc
yêu cầu chị Nguyễn Kiều O phải bồi thường thiệt hại tổng số tiền là 112.000.000
đồng.
4. Không chấp nhận yêu cầu độc lập củaông Nguyễn Văn D, Trần Thị
N về việc hủy một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho
là ông Nguyễn Văn D với bên được tặng cho là chị Nguyễn Kiều O được UBND
N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu chứng thực số 44, quyển số 01/2023-SCT/HĐ,GD
ngày 09/03/2023 đối với phần diện tích đất qua đo đạc thực tế 6.544,9m
2
thuộc thửa đất số 572, tờ bản đồ số 8tọa lạc tại Xẻo D, xã N, tỉnh Cà Mau.
5. Buộc vợ chồng anh Nguyễn Thanh Đ, chị Nguyễn Kiều T phải cùng
trách nhiệm giao trả lại cho vợ chồng chị Nguyễn Kiều O, anh Nguyễn Chí D1
phần đất qua đo đạc thực tế tổng diện tích 9.225,1m
2
(gồm phần diện tích
846,3m
3
thuộc thửa 572 phần diện tích 8.378,8m
2
thuộc thửa 622 cùng tờ bản
đồ số 8 chính quy tọa lạc tại Xẻo D, xã N, tỉnh Cà Mau).
6. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn D, Trần Thị N phải cùng có trách
nhiệm giao trả lại cho vợ chồng chị Nguyễn Kiều O, anh Nguyễn Chí D1 phần
đất qua đo đạc thực tế diện tích 6.544,9m
2
thuộc thửa 572 tờ bản đồ số 8
chính quytọa lạc tại Xẻo D, xã N, tỉnh Cà Mau.
Buộcvợ chồng ông Nguyễn Văn D, Trần Thị N phải cùng trách
nhiệm thu hoạch tôm trên phần đất buộc giao trả chovợ chồng chị Nguyễn Kiều
O, anh Nguyễn Chí D5 trên.
7.Về chi phí tố tụng và án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
10
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đãđược
thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Nguyên đơn chị Nguyễn Kiều O khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng cho
thuê đất với bị đơn anh Nguyễn Thanh Đ yêu cầu anh Đ trả tiền thuê đất cho
chị O; bị đơn anh Nguyễn Thanh Đ phản tố yêu cầu nguyên đơn chị Nguyễn
Kiều O phải bồi thường thiệt hại cho anh Đ do việc đơn phương chấm dứt hợp
đồng cho thuê đất trước thời hạn; người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Văn D, bà Trần Thị N yêu cầu độc lập hủy hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất giữaông Nguyễn Văn D với chị Nguyễn Kiều O. Trước khi m
phiên tòa, Thẩm phán xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án gồm tranh
chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
chưa đầy đủ, Hội đồng xét xử xét thấy, ngoài hai quan hệ tranh chấp nêu trên
còn có tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Căn cứ khoản 3, khoản 6
Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân
sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH5 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổibổ sung
một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật pháp
người chưa thành niên, Luật phá sản Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 -Cà Mau.
[2] Về sự mặt của các đương sự:Người quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan là chị Nguyễn Thị N1, anh Nguyễn Chí D1 có đơn xin vắng mặt vì vậy Hội
đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sựtiến hành xét xử
vắng mặt đối với các đương sự nêu trên là phù hợp.
Về nội dung vụ án:
[3]Qua xem xét thẩm định tại chỗ ngày 27/3/2025 thì phần đất mà chị
Nguyễn Kiều O xác định cho anh Nguyễn Thanh Đ thuê tọa lạc tại ấp X, N,
huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay ấp X, N, tỉnh Mau), tứ cạnh, diện
tíchnhư sau:
- Hướng Đông giáp phần đấtcủa bà Trần Thị T3 đang quản lý sử dụng.
- Hướng Tây giáp đất phần đất của ông Nguyễn Văn D phần đất của bà
Trần Thị Đ3.
- Hướng Nam giáp kênh A
- Hướng Bắc giáp phần đất của Trần Thị T3 đang quản lý sử dụng.
Tổng diện tích: 17.439,2m
2
Mặc khác, qua xem xét thẩm định tại chỗ phần đất mà chO xác định cho
anh Đ thuê, một phần diện tích đất đang do vợ chồng ông Nguyễn Văn D, bà
Trần Thị N quản lý, sử dụng có tứ cạnh, diện tích như sau:
- Hướng Đông giáp phần đất của bà Trần Thị T3 đang quản lý sử dụng.
- Hướng Tây giáp đất bà Trần Thị Đ3 đang quản lý sử dụng.
- Hướng Nam giáp phần đất đang tranh chấp.
- Hướng Bắc giáp phần đất bà Trần Thị T3 đang quản lý sử dụng.
Tổng diện tích: 7.452m
2
Trong tổng diện tích đất tranh chấp 17.439,2m
2
, có:
Diện tích 122,4m
2
thuộc một phần thửa 91, tờ bản đồ số 7;
11
Diện tích 520,5m
2
+ 90,8m
2
thuộc một phần thửa 92, tờ bản đồ số 7;
Diện tích 158,1m
2
thuộc một phần thửa 116, tờ bản đồ số 8;
Diện tích 228,5m
2
+ 2,3m
2
thuộc một phần thửa 138, tờ bản đồ số 8;
Diện tích 546,6m
2
thuộc một phần thửa 159, tờ bản đồ số 8;
Diện tích 6.544,9m
2
+ 846,3m
2
thuộc một phần thửa 572, tờ bản đồ số 8;
Diện tích 8378,8m
2
thuộc một phần thửa 622, tờ bản đồ số 8;
Tại thời điểm khảo sát, chị O không xác định được trên phần diện tích đất
tranh chấp chị cho anh Đ thuê thả nuôi hay không. Về phía ông
Nguyễn Văn D xác định trên phần diện tích đất do vợ chồng ông D, N đang
quản lý, sử dụng vợ chồng ông, bàđang thả tôm nuôi được khoảng 2,5 tháng
tuổi, dự kiến khoảng 02 tháng nữa sẽ thu hoạch. Ngoài ra không còn tài sản
khác trên đất.
[4] Ngày 12/5/2025, nguyên đơn chị Nguyễn Kiều O đơn xin rút một
phần yêu cầu khởi kiện theo đó chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với
phần diện tích đất tranh chấp quan đo đạc kết luận nằm tại các thửa 91, 92
cùng tờ bản đồ số 7và các thửa 116, 138, 159 cùng tờ bản đồ số 8 chính quy. Xét
thấy, việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện nêu trên của nguyên đơn tự
nguyện, phù hợp với các quy định của pháp luật, không trái đạo đức hội do
đó căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự Hội
đồng xét xử đình chỉ xét xmột phần yêu cầu khởi kiện củanguyên đơn chị
Nguyễn Kiều O.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Kiều O tiếp tục xin rút lại một phần yêu cầu
khởi kiện theo đó chị O không yêu cầu anh Đ phải thanh toán số tiền thuê đất
38.000.000 đồng. Xét thấy, việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện này của chị
O tự nguyện, phù hợp với các quy định của pháp luật, không trái đạo đức
hội do đó căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự
Hội đồng xét xđình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn
Kiều O2 trên.
[5]Xét yêu cầuhủy hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất giữa chị Nguyễn
Kiều O với anh Nguyễn Thanh Đ đối với phần đất qua đo đạc thực tế tổng
diện tích 15.770m
2
(6.544,9m
2
+ 846,3m
2
+ 8.378,8m
2
)thuộc một phần thửa đất
số 572 và một phần thửa đất số 622 cùng tờ bản đồ số 8 đất tọa lạc tại ấp X, xã
N, tỉnh Cà Mau, Hội đồng xét xử xét thấy:
[5.1] Căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án lời trình bày của các
đương sự sở xác định vào ngày 20/6/2023 âm lịch giữa chị Nguyễn Kiều
O anh Nguyễn Thanh Đ kết hợp đồng cho thuê đất với nhau, phần đất
anh Đ thuêtrên thực tế khoảng 13,7 công tầm cấy nhưng trên hợp đồng chỉ
ghi 13 công với giá thuê 28.000.000 đồng/năm, thời hạn cho thuê 04
năm. Đây tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh vì được các bên đương
sự thừa nhận theo quy định khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
[5.2] Chị O xác định, toàn bộ phần đất hơn 13 công tầm cấy anh Đ
thuê đất của chịvà chị đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại
thửa 572 thửa 622 cùng tờ bản đồ số 08 với tổng diện tích theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất là 17.862,8m
2
. Tuy nhiên phía anh Đ chỉ thừa nhận thuê
12
lại từ chị O phần đất diện tích khoảng 8,7 công tầm cấy, còn lại diện tích khoảng
05 công tầm cấy thì anh Đ thuê lại từ vợ chồng ông Nguyễn Văn D, Trần Thị
N cha, mẹ ruột của chị O, vậy, đến khi trả tiền thuê đất (trả tiền thuê của
năm 2023) thì anh Đ trả cho chị O số tiền 18.000.000 đồng (tương đương
phần diện tích hơn 08 công anh Đ xác định thuê tchị O), còn lại stiền
10.000.000 đồng thì anh Đ trả cho vợ chồng ông D, N (tương đương phần
diện tích khoảng 05 công tầm cấyanh Điền xác định thuê lại từ vợ chồng ông D,
bà N).
[5.3] Hội đồng xét xử xét thấy, để xem xét yêu cầu hủy hợp đồng cho thuê
đất giữa chị O với anh Đ nêu trên cần phải làm phần diện tích đất 05 công
tầm cấy (qua đo đạc thực tế diện tích 6.544,9m
2
thuộc thửa đất số 572, tờ bản
đồ số 8) anh Đ xác định thuê lại từ vợ chồng ông Nguyễn Văn D, Trần
Thị N thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của chị O hay không bởi lẽ phần
diện tích đất này hiện tại vợ chồng ông Nguyễn Văn D, Trần Thị N đang
tranh chấp với chị O.
Xét thấy, việc vợ chồng ông D, bà N tặng cho lại chị Nguyễn Thị N1 phần
đất 05 công tầm cấy (qua đo đạc thực tế diện tích 6.544,9m
2
thuộc thửa đất
số 572, tờ bản đồ số 8 hiện tại do vợ chồng ông D, N đang quản lý, sử dụng)
xảy ra trên thực tế được các bên đương sthừa nhận. Vợ chồng ông D,
N xác định sau khi cho đất chị N1 thì chị O nói với vchồng ông, để
cho chị O được đứng tên dùm chị N1 phần đất 05 công tầm cấy ông, cho
chị N1 nêu trên, khi nào chị N1 về Việt Nam (do chị N1 Singapore) thì chị O
sẽ chuyển tên trả lại cho chị N1 nhưng vợ chồng ông D, N không đ
chứng minh cho lời trình bày này của mình trong khi chị O không thừa nhận.
Sau khi được cho đất thì chị N1 đã chuyển nhượng lại phần đất 05 công
tầm cấy này cho vợ chồng chị O là có xảy ra trên thực tế vì được các bên đương
sự thừa nhận. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết vụ án chị N1 chị
O thống nhất xác định, tại thời điểm chị N1 chuyển nhượng đất cho vchồng
chị O thì phần đất này vẫn còn do vợ chồng ông D, N đứng tên do đó để hợp
thức hóa việc chuyển nhượng đất giữa chị N1 chị O thì ông Nguyễn Văn D
đã chuyển tên phần đất này lại cho chị O bằng hình thức lập hợp đồng tặng cho
lại chị O (cha tặng cho con) phần đất này. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông D với chị O để hợp thức hóa giao
dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị N1 chị O nhưng ý chí thống
nhất của các bên đây là nhằm chuyển quyền sử dụng phần đất này cho chị O
được đứng tên. Như vậy thể thấy rằng, việc ông D lập hợp đồng tặng cho lại
chị O quyền sdụng đất đối với phần diện tích 05 công tầm cấy vợ chồng
ông D, bà N tặng cho chị N1 là thực hiện đúng ý chí của các bên chứ không phải
sự lừa dối như vợ chồng ông D, bà N trình bày. Bà N cho rằng khi ông D lập
hợp đồng tặng cho lại chị O thửa đất 572, tờ bản đồ s8 thì Như không hay
biết cũng không đồng ý không sbởi lẽ vợ chồng ông D, bà N vẫn
sống chung nhà với nhau, từ khi lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đến
khi chị O được đứng tên quyền sử dụng đất cả một thời gian dài. Tại phiên
tòa, qua xét hỏi N thừa nhận, sau khi ông D lập hợp đồng tặng cho lại chị O
13
thửa đất 572, tbản đồ số 8 thì chính N là người đến chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai huyện H, tỉnh Bạc Liêu để nhận thông báo nộp thuế đi đóng
tiền thay cho chị O để hoàn tất thủ tục chuyển tên thửa đất này cho chị O. Từ khi
chị O được đứng tên quyền sử dụng đất tại thửa 572 cho đến trước khi chị O
phát sinh tranh chấp liên quan đến hợp đồng cho thuê đất với anh Đ thì N
hoàn toàn không ý kiến phản đối. Đồng thời tại công văn phúc đáp số
296/VPĐKĐĐ ngày 23/01/2026 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh C cũng xác
định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Nguyễn Kiều O tại
thửa đất 572, tbản đồ số 8 đúng trình tự, thủ tục quy định. Từ những nội
dung trên, Hội đồng xét xử xét thấy, việc chị O được công nhậnquyền sử dụng
đất tại thửa đất 572, tờ bản đồ số 8đối với phần diện tích đất6.544,9m
2
nêu tn
là có căn cứ.
[5.4] Hội đồng xét xử xét thấy, việc anh Đ xác địnhthuê lại phần đất 05
công tầm cấy(qua đo đạc thực tế diện tích 6.544,9m
2
)từ vchồng ông D,
N là không đúng sự thật, bởi lẽ qua xem xét biên bản hòa giải vụ việc tranh chấp
hợp đồng thuê đất giữa chị O với anh Đ được ban hòa giải ấp X, N lập vào
ngày 08/8/2024 cũng như qua xác minh ông Văn Q tổ trưởng thòa giải
ông Danh H2 thư tổ hòa giải nêu trên thì những người này đều xác định
khi ra hòa giải ấp anh Đ thừa nhận thuê lại phần đất 05 công tầm cấy này từ
chị O do anh Đ không trả tiền thuê phần đất này cho chị O là bởi ông D
ngăn cản không cho anh Đ trả tiền thuê phần đất này cho chị O.
[5.5] Hội đồng xét xử xét thấy, phần đất chO xác định cho anh Đ
thuê có tổng diện tích 15.770m
2
nêu trên cơ quan đo đạc kết luận nằm trong thửa
572 thửa 622cùng tờ bản đồ số 8 đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho chị Nguyễn Kiều O.Theo quy định tại khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm
2013 thì điều kiện để thực hiện quyền cho thuê quyền sử dụng đất đó người
cho thuê đất phải giấy chứng nhận, đất không tranh chấp, quyền sử dụng đất
không bị kê biên, trong thời hạn sử dụng đất. Đồng thời tại tại khoản 3 Điều 188
Luật đất đai năm 2013 cũng quy định việc cho thuê quyền sử dụng đất phải đăng
ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể tử thời điểm đăng ký vào Sổ địa
chính.Xét thấy, mặc dù khi cho thuê đất chị O đã có giấy chứng nhận, đất không
tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị biên, trong thời hạn sdụng đất
việc cho thuê đất giữa chị O anh Đ lập thành hợp đồng tuy nhiên các bên
đã không thực hiện việc đăng tại quan đăng đất đai để hợp đồng phát
sinh hiệu lực do đó hợp đồng thuê đất giữa chị O với anh Đ chưa tuân thủ về
mặt hình thứcnên hợp đồng này đã hiệu ngay từ thời điểm xác lập theo quy
định tại khoản 2 Điều 117 khoản 2 điều 119 Bộ luật dân sự 2015.Hậu quả
pháp của giao dịch dân shiệu theo quy định tại Điều 131Bộ luật dân sự
2015 đó làkhông làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của
các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì
các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những đã nhận.
Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi
tức đó.Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Từ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xử xét thấy, việc chị Nguyễn Kiều
14
O yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất giữa chị O với anh
Đ đối với phần đất qua đo đạc thực tế tổng diện tích 15.770m
2
thuộc một
phần thửa đất số 572 và một phần thửa đất số 622 cùng tờ bản đồ số 8do ch
Nguyễn Kiều O đứng tên quyền sử dụng đất là có cơ sở chấp nhận.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đ xác định từ khi phát sinh tranh
chấp đến nay vợ chồng anh không còn quản lý, canh tác đối với phần đất hơn 08
công tầm cấy mà anh Đ xác định thuê lại từ chị O trong khi chị O thì xác định từ
khi phát sinh tranh chấp đến nay vợ chồng anh Đ vẫn chưa giao trả lại phần đất
thuê cho chị O. Xét thấy, chị O đã bàn giao phần đất cho thuê cho anh Đ sử
dụng nhưng từ khi phát sinh tranh chấp đến nay anh Đ không tài liệu để
chứng minh đã bàn giao lại phần đất hơn 08 công tầm cấy cho chị O ngoài lời
trình bày của mình trong khi chị O không thừa nhận việc này. Do đó cần buộc
vợ chồng anh Đ, chị T nghĩa vụ giao trả lại cho chị O phần đất thuê hơn 08
công tầm cấy (qua đo đạc thực tế diện tích là 9.225,1m
2
, gồm 846,3m
3
thuộc
thửa 572 và 8.378,8m
2
thuộc thửa 622 cùng tờ bản đồ số 8).
Đối với phần diện tích 05 ng tầm cấy n lại hiện tại do vợ chồng ông
D, N đang quản sử dụng qua đo đạc thực tế 6.544,9m
2
thuộc thửa đất số
572, tờ bản đồ số 8 sẽ được xem xét khi giải quyết yêu cầu độc lập của vợ chồng
ông D, bà N.
[6] Xét yêu cầu phản tcủa anh Nguyễn Thanh Đ yêu cầu chị Nguyễn
Kiều O phải bồi thường thiệt hại cho anh Đ do việc chị O đơn phương chấm dứt
hợp đồng trước thời hạnvới tổng số tiền 112.000.000 đồng, Hội đồng xét xử
xét thấy:
Khoản tiền112.000.000 đồng anh Đ yêu cầu chị O phải bồi thường
cho anh Đ, gồm có: Tiền thuê đất mỗi năm 28.000.000đồngx 03 năm còn lại
của hợp đồng = 84.000.000đồng + tiền cải tạo đất 10.000.000 đồng + Tiền thả
tôm 10.000.000 đồng + Tiền phân bón, vôi 5.000.000 đồng + Tiền ớn làm
cỏ và phát quang 3.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, do hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa chị O
với anh Đ đã bị hiệu ngay từ thời điểm xác lập nênkhông làm phát sinh, thay
đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch
được xác lập. Vì vậy việc anh Đ yêu cầu chị O phải bồi thường thiệt hại cho anh
Đ do đơn phương chấm dứt hợp đồng trước hạn với số tiền 84.000.000 đồng
không có cơ sở.
Đối với khoản tiềncải tạo đất 10.000.000 đồng, tiền thả tôm
10.000.000đồng, tiền phân bón, vôi là 5.000.000đồng, tiền mướn làm cỏphát
quang 3.000.000đồng, Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi phát sinh tranh chấp liên
quan đến hợp đồng thuê đất đến nay, chị O vẫn chưa nhận lại phần đất cho thuê
từ anh Đ hay hành vi nào khác gây thiệt hại cho việc canh tác đất của anh Đ
anh Đ cũng không chứng minh được thiệt hai xảy ra như anh trình bày do
đó đối với các khoản tiền mà anh Đ yêu cầu này cũng không có cơ sở chấp nhận.
[7] Xét yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn D, bà Trần Thị N về việc yêu
cầu Tòa án hủy một phần hp đồng tặng cho quyền sdụng đất giữa bên tặng
cho ông Nguyễn Văn D với bên được tặng cho chị Nguyễn Kiều O được
15
UBND N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay UBND N, tỉnh Mau) chứng
thực số 44, quyển số 01/2023-SCT/HĐ,GD ngày 09/03/2023 đối với phần diện
tích đất qua đo đạc thực tế 6.544,9m
2
thuộc thửa đất số 572, tờ bản đồ s8
ược thể hiện cụ thể tại Bản vẽ của Trung tâm K1 đo vẽ tháng 3 năm 2025),
Hội đồng xét xử xét thấy:Nđã phân tích tại mục [5.3] khi xem xét yêu cầu
khởi kiện của chị Nguyễn Kiều O, xét thấy không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu
độc lập của ông Nguyễn Văn D, Trần Thị Như . vậy, cần buộc vợ chồng
ông D, bà N phải có nghĩa vụ thu hoạch tôm và giao trả lại cho chị Nguyễn Kiều
O phần đất qua đo đạc thực tế diện tích 6.544,9m
2
thuộc thửa đất số 572, tờ
bản đồ số 8 do vợ chồng ông D, bà N đang quản lý, sử dụng.
[8] Xét đề nghị của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông
Nguyễn Văn D, Trần Thị N, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn D, Trần Thị N không
có căn cứ nên không được chấp nhận.
[9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét
thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
[10] Về chi phí ttụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ phần đất tranh
chấp tổng số tiền là 12.396.433 đồng,bị đơn anh Nguyễn Thanh Đ phải chịu toàn
bộ.
[11] Về án phí:
Anh Nguyễn Thanh Đ, chị Nguyễn Kiều T phải liên đới chịu án phí dân
sự sơ thẩm không có giá ngạchsố tiền là 300.000 đồng do yêu cầu khởi kiện hủy
hợp đồng cho thuê đất của chị Nguyễn Kiều O được chấp nhận.
Anh Nguyễn Thanh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạchsố tiền
5.600.000 đồng do yêu cầu phản tố không được chấp nhận(112.000.000 đồng
x 5% = 5.600.000 đồng).
Ông Nguyễn n D, bà Trần Thị N phải chịu án phí dân sự thẩm
không có giá ngạchsố tiền 300.000 đồng do yêu cầu độc lập không được chấp
nhận, tuy nhiên do ông D, N người cao tuổi đồng thời ông D, bà N đơn
xin miễn án phí nên ông D, bà N5 phải chịu án phí.
Các đương sự còn lại trong vụ án không phải chịu án phí.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3, khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a
khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, khoản 1 Điều 228,điểm c khoản 1 Điều
217, Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự2015 ;
- Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH5 ngày 25/6/2025 Luật sửa
đổibổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật tố tụng hành chính,
Luật pháp người chưa thành niên, Luật phá sản Luật hoà giải, đối thoại tại
Toà án;
- Căn cứ khoản 2 Điều 117, khoản 2 điều 119, Điều 131Bộ luật dân sự
2015.
- Căn cứ khoản 3 Điều 188 Luật đất đai năm 2013;
16
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH4 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kiều O đối với
phần diện tích đất qua đo đạc thực tế quan chuyên môn kết luận nằm tại các
thửa 91, 92 cùng tờ bản đồ số 7và các thửa 116, 138, 159 cùng tờ bản đồ số 8
chính quytọa lạc tại Xẻo D, xã N, tỉnh Cà Mau.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chNguyễn Kiều O về việc yêu
cầu anh Nguyễn Thanh Đ phải thanh toán số tiền thuê đất là 38.000.000 đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện củachị Nguyễn Kiều O. hiệu hợp
đồng cho thuê đất đềngày 20/6/2023giữa chị Nguyễn Kiều O anh Nguyễn
Thanh Đ.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Thanh Đ về việc
yêu cầu chị Nguyễn Kiều O phải bồi thường thiệt hại tổng số tiền là 112.000.000
đồng.
4. Không chấp nhận yêu cầu độc lập củaông Nguyễn Văn D, Trần Thị
N về việc hủy một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho
là ông Nguyễn Văn D với bên được tặng cho là chị Nguyễn Kiều O được UBND
N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu chứng thực số 44, quyển số 01/2023-SCT/HĐ,GD
ngày 09/03/2023 đối với phần diện tích đất qua đo đạc thực tế là 6.544,9m
2
thuộc thửa đất số 572, tờ bản đồ số 8tọa lạc tại Xẻo D, xã N, tỉnh Cà Mau.
5. Buộc vợ chồng anh Nguyễn Thanh Đ, chị Nguyễn Kiều T phải cùng
trách nhiệm giao trả lại cho vợ chồng chị Nguyễn Kiều O, anh Nguyễn Chí D1
phần đất qua đo đạc thực tế tổng diện tích 9.225,1m
2
(gồm phần diện tích
846,3m
3
thuộc thửa 572 phần diện tích 8.378,8m
2
thuộc thửa 622 cùng tờ bản
đồ số 8chính quy tọa lạc tại Xẻo D, xã N, tỉnh Cà Mau).
Phần đất buộc vợ chồnganh Nguyễn Thanh Đ, chị Nguyễn Kiều T giao trả
có tứ cạnh như sau:Hướng Đông giáp phần còn lại của thửa 622 tờ bản đồ số 8,
chiều dài 95,15m;Hướng Tây giáp thửa 103 tờ bản đồ số 7 + giáp phần còn
lại của thửa 622 giáp thửa 159 cùng tờ bản đồ số 8, chiều dài 25,35m +
90,63m + 4,78m + 33,34m;Hướng Nam giáp phần còn lại của thửa 622 tờ bản
đồ số 8, chiều dài 18,48m; Hướng Bắc giáp thửa 138 tờ bản đồ số 8 + phần
đất do vợ chồng ông D1, N đang quản sử dụng thuộc thửa 572, tờ bản đồ
số 8 + giáp thửa 92 tờ bản đồ số 7 + giáp phần còn lại của thửa 572 tờ bản đồ
số 8 + giáp thửa 91 tờ bản đồ số 7, chiều dài 2,52m + 0,76m + 59,16m +
20,32m + 29,29m + 19,12m + 6.36m + 5,59m + 27,19m.
6. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn D, Trần Thị N phải cùng trách
nhiệm giao trả lại cho vợ chồng chị Nguyễn Kiều O, anh Nguyễn Chí D1 phần
đất qua đo đạc thực tế diện tích 6.544,9m
2
thuộc thửa 572 tờ bản đồ số 8
chính quytọa lạc tại Xẻo D, xã N, tỉnh Cà Mau.
Phần đất buộc vchồng ông Nguyễn Văn D, Trần Thị N6 trả tứ
cạnh như sau: Hướng Đông giáp thửa 138 tờ bản đồ số 8, có chiều dài
98m;Hướng Tây giáp thửa 92 tờ bản đồ số 7 + giáp phần còn lại của thửa 572
tờ bản đồ số 8, chiều dài 81,71m + 9,41m + 5,10m + 20,32m;Hướng
17
Namgiáp phần còn lại thửa 572 tờ bản đồ số 8, chiều dài 59,16m;Hướng
Bắcgiáp thửa 116 tờ bản đồ số 8, có chiều dài 70,20m.
Buộcvợ chồng ông Nguyễn Văn D, Trần Thị N phải cùng trách
nhiệm thu hoạch tôm trên phần đất buộc giao trả chovợ chồng chị Nguyễn Kiều
O, anh Nguyễn Chí D5 trên.
(Bản vẽ phần đất tranh chấp do Trung tâm K1 thuộc Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh B đo vẽ tháng 3 năm 2025 của là bộ phận gắn liền của bản án).
7. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ phần đất tranh
chấp tổng số tiền 12.396.433 đồng, bị đơn anh Nguyễn Thanh Đ phải chịu
toàn bộ. Chị Nguyễn Kiều O đã dự nộp toàn bộ chi phí tố tụng nên buộc anh
Nguyễn Thanh Đ có nghĩa vụ hoàn lại chi phí tố tụng cho chị Nguyễn Kiều O số
tiền là 12.396.433 đồng.
8.Về án phí:
Chị Nguyễn Kiều O đã nộp tạm ứng án phí số tiền 1.250.000 đồng theo
biên lai thu số0007892 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại toàn bộ.
Buộc anh Nguyễn Thanh Đ chị Nguyễn Kiều T4 nghĩa vụ liên đới nộp
án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạchsố tiền là 300.000 đồng.
Buộc anh Nguyễn Thanh Đ phải nộp án phí dân sự sơ thẩm giá
ngạchsố tiền là 5.600.000 đồng, anh Nguyễn Thanh Đ đã nộp tạm ứng án phí số
tiền 2.800.000 đồng theo biên lai thu số0000357 ngày 18/9/2025 của Thihành
án dân sự tỉnh Mau được chuyển thu án phí số tiền 2.800.000 đồng, anh Đ
phải nộp thêm án phí dân sự thẩm giá ngạchsố tiền đồng 2.800.000
đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Án xử thẩm công khai. Đương sự mặt quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày ktừ ngày toà tuyên án. Đương sự vắng mặt quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp
lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Phan Tú A
Tải về
Bản án số 17/2026/DS-ST Bản án số 17/2026/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 17/2026/DS-ST Bản án số 17/2026/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất