Bản án số 110/2026/HS-ST ngày 31/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 110/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 110/2026/HS-ST ngày 31/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 110/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/07/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: bị cáo có hành vi trộm cắp chiếc xe máy
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 110/2026/HS-ST Bản án số 110/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 110/2026/HS-ST Bản án số 110/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1-NINH BÌNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do- Hạnh phúc
Bản án số 110/2026/HSST
Ngày: 31/7/2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- NINH BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Giang
Bà Phạm Thị Ngọc Nga
Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Phương Liên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
1- Ninh Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Ninh Bình tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Anh Vũ- Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1-Ninh
Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số
99/2026/TLST- HS ngày 09 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số 110 /2026/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Quang C, sinh ngày 17/01/2008 tại Ninh Bình; số CCCD:
************; cấp ngày 04/02/2026; nơi cấp: Bộ C1; Nơi thường trú và nơi ở hiện
nay: Thôn D, xã N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa:
07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con
ông: Vũ Văn T và bà Vũ Thị P; Chưa có vợ con;
Tiền án, tiền sự: không
Lịch sử bản thân: Ngày 13/03/2024, Công an huyện T, tỉnh Nam Định xử phạt
cảnh cáo về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
Bị cáo Vũ Quang C được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú
từ ngày 10/4/2026 cho đến nay.(Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Vũ Quang C: Bà Đỗ Thị Thùy T1 – Trợ giúp viên
pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N.(Có mặt).
- Bị hại: Chị Y H, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số nhà E, ngách B, đường N, tổ
dân phố C, phường H, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt)
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Đặng Duy H1, sinh ngày 02/11/2011; địa chỉ: thôn C, xã N, tỉnh Ninh
Bình. (Có mặt)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Văn S, sinh năm 1975; địa chỉ: thôn
C, xã N, tỉnh Ninh Bình. (Có mặt)
+ Anh Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 02/01/2008; địa chỉ: thôn H, xã N, tỉnh
Ninh Bình. (Vắng mặt)
- Người làm chứng:
+ Anh Đỗ Văn T2, sinh năm 2007; (Vắng mặt)
+ Anh Ngô Quốc H3, sinh năm 2007; (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vũ Quang C là nhân viên làm thuê cho chị Y H, sinh năm 1995 trú tại số nhà
E, ngách B, đường N, tổ dân phố C, phường H, tỉnh Ninh Bình từ ngày 18/01/2026.
Trong thời gian C làm việc tại đây, C ở tại phòng trọ của chị Y H và chị Y H giao
cho C quản lý, sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát
90AB-148.45 để đưa đón nhân viên đi làm. Đến ngày 24/01/2026, chị Y H cho C
nghỉ việc và yêu cầu C trả lại chiếc xe mô tô trên, C đã trả lại xe mô tô và xin ở lại
phòng trọ thêm một đêm để sáng hôm sau bắt xe về quê, chị H đồng ý.
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 25/01/2026, C ra sân phòng trọ ngồi hút thuốc và
phát hiện chiếc xe mô tô biển kiểm soát 90AB-148.45 đang dựng tại sân phía hông
nhà phòng trọ, chìa khóa vẫn cắm sẵn trong ổ khóa nên C nảy sinh ý định trộm cắp
chiếc xe mô tô trên để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Sau khi quan sát thấy không có
người trông coi, C đã đi vào phòng lấy đồ đạc cá nhân rồi đi ra dắt xe mô tô ra đầu
ngõ nổ máy xe để tránh việc bị mọi người trong phòng trọ phát hiện sau đó điều
khiển xe đi về nhà mình ở thôn D, xã N, tỉnh Ninh Bình. Chiều ngày 25/01/2026, C
điều khiển chiếc xe mô tô trên đến nhà Ngô Quốc H3, sinh năm 2007, trú tại thôn C,
xã N, tỉnh Ninh Bình chơi thì H3 rủ C đến nhà Đỗ Anh T3, sinh năm 2007, trú tại
thôn T, xã N, tỉnh Ninh Bình để chơi. Khi đến nhà T3 thấy Nguyễn Thanh H2, sinh
ngày 02/01/2008, trú tại thôn H, xã N, tỉnh Ninh Bình (là bạn của T3) đang ở đó.
Trong lúc ngồi chơi, C hỏi H2: “Mày có mua xe không giấy tờ không?”, thấy vậy
H2 hỏi về nguồn gốc chiếc xe thì C nói đây là xe của anh trai mua lại không có giấy
tờ để cho C đi làm giờ muốn bán. Tin tưởng lời nói của C nên H2 đồng ý mua, C và
H2 thỏa thuận chiếc xe mô tô Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 90AB-148.45
với giá 1.700.000 đồng. H2 đồng ý mua và đưa cho C số tiền 1.700.000 đồng, C nhận
3
tiền rồi đưa chìa khóa và giao xe mô tô cho H2. Sau khi mua bán xe, H2 điều khiển
xe chở T3 đi cắt tóc khoảng 30 phút sau quay lại, C thấy xe không còn gắn biển kiểm
soát nên có hỏi thì H2, lúc này H2 mới xem thì thấy biến số đã bị rơi sau đó quay đi
tìm nhưng không thấy. Số tiền bán xe, C sử dụng vào mục đích chi tiêu cá nhân hết.
Đến 15 giờ cùng ngày chị Y H phát hiện chiếc xe mô tô của mình bị mất, chị
Y H hỏi nhân viên thì được biết vào khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày C đã lấy chiếc
xe mô tô trên. Chị H gọi điện thoại cho C thì C thừa nhận đã lấy chiếc xe mô tô và
hứa đến 17 giờ cùng ngày sẽ mang xe trả lại. Tuy nhiên, C đã không mang xe đến trả
đồng thời chặn liên lạc với chị Y H.
Ngày 26/01/2026, C cùng Ngô Quốc H3 đi xe khách đến thành phố Hải Phòng
để tìm việc làm. Ngày 01/02/2026, C đón Đặng Duy H1, sinh ngày 02/11/2011, trú
tại thôn C, xã N, tỉnh Ninh Bình và Nguyễn Tuấn S1, sinh ngày 07/01/2010, trú tại
thôn C, xã N, tỉnh Ninh Bình cũng Hải Phòng để xin việc làm. Trong quá trình trò
chuyện, C kể cho H1 biết việc đã bán một chiếc xe mô tô không có giấy tờ với giá
rẻ. H1 đã bảo C chuộc lại chiếc xe trên để bán cho mình và được C đồng ý. Sau đó,
C liên lạc với Nguyễn Thanh H2 để trao đổi việc chuộc lại chiếc xe đã bán trước đó.
Ngày 03/02/2026, C, H1 và S1 từ Hải Phòng đi về Ninh Bình, đến khu vực chùa Đ1
thuộc xã N, tỉnh Ninh Bình để gặp H2 như đã hẹn. Tại đây, H1 đưa cho H2 1.700.000
đồng tiền mua lại xe và 150.000 đồng tiền thay đèn xe. Sau khi nhận tiền, H2 giao
lại chìa khóa xe mô tô cho H1 sau đó S1 điều khiển xe chở C và H1 để đưa C về nhà
rồi S1 điều khiển xe mô tô đi về nhà H1.
Đến tối ngày 09/02/2026, C đi từ nhà đến uống nước tại một quán nước gần
khu vực Phố C thuộc phường H, tỉnh Ninh Bình. Khoảng 03 giờ ngày 10/02/2026,
chị Y H phát hiện C đang ngồi ở quán nước gần phố C nên đã cùng Bùi Hoàng V,
sinh ngày 13/02/2007, trú tại xã Y, tỉnh Phú Thọ; Trương Công Đ, sinh ngày
05/12/2006, trú tại xã L, tỉnh Phú Thọ và Nguyễn Văn N, sinh ngày 14/11/2005, trú
tại thôn C, phường T, tỉnh Ninh Bình là những người làm thuê cho chị Y H đến quán
nước và yêu cầu C đến Công an phường H để làm việc, do C không hợp tác nên đã
bị V, Đ và N dùng tay, chân đánh C. Thấy vậy chị Y H đã can ngăn và tiếp tục đưa
C đến Công an phường H trình báo sự việc. Tại đây, C đã thừa nhận hành vi trộm
cắp chiếc xe mô tô của chị Y H sau đó bán cho Đặng Duy H1. Căn cứ lời khai của
Vũ Quang C, ngày 12/02/2026 Cơ quan điều tra đã triệu tập Đặng Duy H1 lên làm
việc, H1 đã tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển
kiểm soát 90AB-148.45 mà H1 đã mua của C.
Kết quả định giá tài sản:
4
Ngày 11/03/2026, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N ra yêu cầu định giá tài sản
số: 4344/YP-VPCQCSĐT đề nghị đến Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng UBND
phường H, tỉnh Ninh Bình đối với: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, số
khung: RLHJA3933RY662332; số máy: JA70E4088741 (Xe đã qua sử dụng) tại thời
điểm ngày 25/01/2026.
Tại Kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 16/01/2026 của Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng UBND phường H, tỉnh Ninh Bình kết luận: 01 xe
mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, số khung: RLHJA3933RY662332; số máy:
JA70E4088741 (Xe đã qua sử dụng) tại thời điểm ngày 25/01/2026 trị giá 12.000.000
đồng (Mười hai triệu đồng).
Quá trình điều tra, Vũ Quang C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKSNBH-KV ngày 08/7/2026, Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 1-Ninh Bình đã truy tố bị cáo Vũ Quang C ra trước Tòa án nhân
dân khu vực 1-Ninh Bình để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1, khoản
5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1-Ninh Bình giữ
nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Vũ Quang C
phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65;
Bộ luật Hình sự. Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 12, Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử phạt bị cáo Vũ Quang C từ 09 (Chín) tháng tù đến 12 (Mười hai) tháng
tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai
mươi bốn) tháng thời hạn tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Vũ Quang C cho UBND
xã N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có
trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị
cáo;
Bị cáo không phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với cáo trạng và luận tội của
Kiểm sát viên tại phiên tòa; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173;
điểm b, i, s khoản 1, Điều 51; Điều 65; của Bộ luật Hình sự; xem xét đến nhân thân
hoàn cảnh gia đình của bị cáo là hộ cận nghèo để tuyên xử cho bị cáo được hưởng
mức hình phạt ở mức thấp nhất theo quy định của pháp luật; hình phạt này cũng đủ
để răn đe cho bị cáo và cũng là tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội được ở với gia đình
và xã hội, để sửa chữa sai lầm trở thành công dân có ích cho xã hội.
5
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án, không có
ý kiến tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên,
Viện kiểm sát, Kiểm sát viê n trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm
quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều
tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố
tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết
định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là
hợp pháp.
[2] Về tội danh, hình phạt đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên
tòa bị cáo Vũ Quang C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình cũng như cáo trạng
đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo
tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, như biên
bản sự việc, vật chứng thu giữ, các kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài
sản UBND phường H, tỉnh Ninh Bình nên có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 25/01/2026, tại trước cửa phòng trọ của chị Y H
sinh năm 1995, ở số nhà E, ngách B, đường N, tổ dân phố C, phường H, tỉnh Ninh
Bình. Vũ Quang C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda
Wave màu đen, biển kiểm soát 90AB-148.45 của chị Y H trị giá 12.000.000 đồng đến
ngày 10/02/2026 bị phát hiện bắt giữ.
Hành vi này của bị cáo Vũ Quang C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo
quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đ đến dưới
50.000.000đồng hoặc dưới 2.000.000đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp
sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến
03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi
phạm ;…..”
6
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000
đồng.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Ninh Bình truy tố bị cáo Vũ
Quang C về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến
quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến đời
sống xã hội, không những thế hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an
ở địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, là nguyên
nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác…Bị cáo là người có đủ năng lực trách
nhiệm hình sự, biết rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp
luật nhưng để có tiền tiêu sài cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm nên cần
phải xử lý nghiêm minh buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự nhằm răn đe giáo
dục bị cáo, làm gương cho những người khác và phòng ngừa chung trong nhân dân.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị
cáo:
-Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa
bị cáo thành khẩn khai báo; Trong quá trình giải quyết bị cáo và gia đình của bị cáo
đã trả lại cho người liên quan anh Đặng Duy H1 số tiền 1.700.000 đồng đây là tình
tiết bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo
“Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; bản thân bị cáo có gia đình
hộ cận nghèo là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều
51 Bộ luật hình sự
- Tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: không có
- Về nhân thân, Ngày 13/03/2024, bị cáo bị Công an huyện T, tỉnh Nam Định
xử phạt cảnh cáo về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” hành vi này bị cáo thực hiện
tại thời điểm này bị cáo dưới 18 tuổi nhưng không lấy đó làm bài học để tự cải tạo,
tu dưỡng mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, cần có mức án
tương xứng để răn đe phòng ngừa chung cho xã hội và cải tạo bị cáo trở thành người
công dân tốt.
[4] Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn,
đối với bị cáo. Tuy nhiên Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm
nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, nên căn cứ vào các điều kiện được
7
hưởng án treo cần áp dụng khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án
treo ấn định thời gian thử thách đồng thời giao bị cáo cho UBND nơi bị cáo cư trú và
gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo
dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo không có tài sản riêng nên không áp
dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Từ nhận định trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên về tội
danh, điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo;
[6] Các vấn đề khác: Đối với anh Nguyễn Thanh H2 là người đã mua chiếc xe
mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 90AB-148.45 của Vũ Quang
C sau đó C đã chuộc lại để bán cho Đặng Duy H1 nhưng anh H2 và anh H1 không biết
đây tài sản do bị cáo C trộm cắp mà có nên không đề cập đến việc xử lý là phù hợp.
Đối với Bùi Hoàng V, Trương Công Đ, Nguyễn Văn N đã có hành vi dùng chân
tay đánh vào mặt Vũ Quang C, nhưng do thương tích nhẹ không phải điều trị tại cơ
sở y tế. Đồng thời Chiến có đơn đề nghị từ chối giám định tỉ lệ tổn hại phần trăm sức
khỏe, do vậy không đủ căn cứ để xử lý đối với Bùi Hoàng V, Trương Công Đ, Nguyễn
Văn N về hành vi “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự. Ngày
05/6/2026, Công an phường H, tỉnh Ninh Bình đã ra Quyết định xử phạt vi phạm
hành chính, phạt tiền đối với Nguyễn Văn N, Bùi Hoàng V, Trương Công Đ mỗi người
7.000.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức cho người
khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”
Đối với chiếc biển kiểm soát 90AB-148.15 của xe mô tô nhãn hiệu Honda
Wave màu đen, sau khi Vũ Quang C bán cho anh Nguyễn Thanh H2 thì anh H2 đã
làm rơi mất biển số xe. Quá trình làm việc với chị Y H là chủ tài sản không yêu cầu C
và H2 phải bồi thường; Đối với số tiền 1.700.000 đồng là tiền anh Nguyễn Thanh H2
bỏ ra để mua chiếc xe mô tô của Vũ Quang C sau đó C đã trả lại tiền để chuộc lại xe
mô tô và bán cho anh H2.
Đối với số tiền 1.700.000 đồng mà bị cáo đã bán 01 chiếc xe mô tô cho anh
H1, Quá trình điều tra, anh H1 không đề nghị bị cáo C phải trả lại số tiền trên căn cứ
vào Mục 3, Công văn số 233/TANDTC-PC ngày 01/10/2019 của Tòa án nhân dân Tối
Cao nên không đặt ra xem xét.
[7] Về án phí; Bị cáo có tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm tuy nhiên bị
cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
8
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo: Vũ Quang C phạm tội “Trộm cắp tài sản”
2. Xử phạt: bị cáo Vũ Quang C 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo,
thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng thời hạn tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo
Vũ Quang C cho UBND xã N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử
thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong
việc giám sát, giáo dục bị cáo;
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo
Điều 68 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết
định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho
hưởng án treo.
3.Về án phí: Bị cáo Vũ Quang C được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến
vụ án; người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có
mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4,6 và 7 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật
Thi hành án dân sự”./.
9
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Ninh Bình;
- Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
- VKSND-KV1;
- THADS- TNB;
- THAHS;
- Công an TNB;
- Bị cáo; Người có QLNVLQ
- Bị hại
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn./
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Lâm Thị Thanh Nhàn
10
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lâm Thị Thanh N1
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 110/2026/HS-ST Bản án số 110/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 110/2026/HS-ST Bản án số 110/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất