Bản án số 11/2021/KDTM-ST ngày 25/08/2021 của TAND huyện Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 11/2021/KDTM-ST

Tên Bản án: Bản án số 11/2021/KDTM-ST ngày 25/08/2021 của TAND huyện Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Thủy Nguyên (TAND TP. Hải Phòng)
Số hiệu: 11/2021/KDTM-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/08/2021
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hi đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Đức Cảnh
Ông Phạm Văn Sóng.
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân huyện T
thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện T thành phố Hải Phòng tham
gia phiên tòa: Bùi Thị Thuý - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tthành phố
Hải Phòng xét xử thẩm công khai vụ án thụ số: 06/2021/TLST-KDTM ngày
08 tháng 4 năm 2021 về tranh chấp về hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ
án ra t xử số 16/2021/QĐXXST-KDTM ngày 07 tháng 7 năm 2021 Quyết
định hoãn phiên tòa s 28/2021/QĐST-KD ngày 05 tháng 8 năm 2021, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Q(tên viết tắt VIB); Địa chỉ trụ sở: Tầng 1 (tầng
trệt) Tầng 2 Tòa nhà Sailing Tower, số 111A Pasteur, phường Bến Nghé, quận
1, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc
Chức vụ: Tổng giám đốc VIB.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Văn T S năm 1996; nơi
trú: Thôn 5, Sơn, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng; Chức vụ: Cán
bộ VIB; người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền s51522.21 ngày 14
tháng 7 năm 2021); có mặt.
- Bị đơn:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 11/2021/KDTM-ST
Ngày 25-8-2021
V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Ông Văn C; địa chỉ: Thôn 3, T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng
mặt.
Trần Thị S; địa chỉ: Thôn 3, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ngày 26/9/2011, Trần Thị S ông Văn C (bên vay) Ngân hàng Q-
Chi nhánh Hải Phòng - Phòng giao dịch T (bên cho vay) đã Hp đồng tín dng
s 250/HĐTD1-VIB060/11 ngày 26/9/2011 với số tin 300.000.000 đồng, VIB đã
gii ngân cho bị đơn vay số tiền 300.000.000 đồng, giải ngân theo khế ước nhận
nợ số 250.02/KƯNN1- VIB060/11 vào ngày 26/5/2012 để bị đơn bổ sung vốn kinh
doanh hàng vật liệu xây dựng, thi hn vay 06 tháng kể từ ngày nhận nợ ngày
26/5/2012, lãi sut theo tha thun với mức lãi suất tại thời điểm nhận nợ với mức
lãi suất ban đầu trong 03 tháng đầu là 19%/năm sau đó được điều chỉnh theo chính
sách của VIB và phù hợp với pháp luật, phương thức trả nợ: Khách hàng trả nợ gốc
vào ngày 26/11/2012, trả nợ lãi vào ngày mồng 01 hàng tháng. Trần Thị S và
ông Văn C đã nhận đủ số tiền: 300.000.000 đồng đồng theo Khế ước nhận n
số 250.02/KƯNN1- VIB060/11 vào ngày 26/5/2012.
Tài sn thế chp cho Hp đồng tín dng này là: Quyn s dng đất din tích
253,7m
2
đất và tài sản trên đất ti tha đất s 1163A, t bn đồ s 01; địa chỉ:
Thôn 3, Thủy Triều, huyện T, thành phố Hải Phòng; đã được Ủy ban nhân dân
huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 199302, vào sổ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số H/00767 ngày 02/7/2007 cho chủ sử dụng là ông
Lê Văn C Trần Thị S. V thế chp: Tài sn bảo đảm được kí hp đồng thế
chp số: 436/2010/BĐ ngày 29/5/2010, số công chứng
3563.CVN/2010.TCQSDĐ&TS, quyển số 02-AP.TP/CC-SCC/HĐGD ngày
29/5/2010 được đăng giao dch bo đảm ti Cơ quan Nhà nước thm quyn
Văn Phòng đăng đất đai huyện T đúng quy định ca pháp lut vào ngày
31/5/2010 được chứng thực tại Văn Phòng công chứng An Phát, thành phố Hải
Phòng vào ngày 31/5/2010.
Trong thời gian vay vốn, tính đến ngày 25/8/2021 Trần Thị S ông
Văn C mới thanh toán cho VIB số ngốc là: 20.000.000 đồng một phần nợ lãi
trong hạn 2.486.507 đồng, nợ lãi quá hạn 23.741.667 đồng, tổng đã trả
46.228.174 đồng. Từ ngày 26/11/2012, bên vay bắt đầu để phát S nợ quá hạn gốc
lãi và liên tục vi phạm nghĩa vụ trả ncho đến thời điểm hiện nay. Tính đến ngày
25/8/2021, Trần Thị S ông Văn C còn nợ VIB tổng số tiền là:
934.567.659 đồng. Trong đó, số nợ gốc là: 280.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn
25.734.326 đồng; nợ lãi quá hạn là 628.833.333 đng.
3
Kể thời điểm khoản vay bị quá hạn, VIB đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu bà S,
ông C trả nợ cho VIB, nhưng S, ông C vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ,
không chủ động làm việc với Ngân hàng để xử khoản nợ. Như vậy, Trần Thị
S ông Văn C đã vi phạm các nghĩa vụ cam kết, thỏa thuận với VIB theo các
Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp các văn bản, giấy tkhác liên quan
đã ký với VIB.
Trên sở những nội dung đã trình bày trên, Ngân hàng Q yêu cầu Tòa án
xem xét giải quyết những nội dung như sau:
1. Buộc Trần Thị S ông Lê Văn C phải trả ngay toàn bộ khoản nợ gốc
lãi cho Ngân hàng Qtính đến hết ngày 25/8/2021 là: 934.567.659 đồng. Trong
đó, số nợ gc là: 280.000.000 đồng; nlãi trong hạn 25.734.326 đồng; nợ lãi
quá hạn là 628.833.333 đồng.
2. Buộc bà Trần Thị S và ông Văn C phải tiếp tục trả cho Ngân hàng
Qkhoản tiền lãi quá hạn phát S theo lãi suất thỏa thuận tại Hp đồng tín dng s
250/HĐTD1-VIB060/11 ngày 26/9/2011 cho đến khi tất toán xong khoản nợ.
3.Trường hợp Trần Thị S ông Văn C không trả được nợ, Ngân
hàng Qyêu cầu Tòa tuyên phát mại toàn bộ tài sản thế chấp thể hiện trong hợp
đồng thế chấp số: 436/2010/BĐ ngày 29/5/2010, số công chứng
3563.CVN/2010.TCQSDĐ&TS, quyển số 02-AP.TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày
29/5/2010 được đăng giao dịch bảo đảm tại quan Nhà nước thẩm quyền
Văn Phòng đăng đất đai huyện T vào ngày 31/5/2010 được chứng thực tại
Văn Phòng công chứng An Phát, thành phố Hải Phòng vào ngày 31/5/2010 để thu
hồi ncho VIB theo quy định của pháp luật. Trường hợp số tiền phát mại tài sản
bảo đảm vẫn không đủ trả nợ thì Trần Thị S và ông Lê Văn C phải tiếp tục thực
hiện nghĩa vụ trả nợ cho VIB cho đến khi tất toán khoản vay.
Tại bản tự khai ngày 23/4/2021 trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn
trình bày:
Ngày 26/9/2011, Trần Thị S ông Lê Văn C kết Hợp đồng tín
dụng với Ngân hàng Qđể vay số tiền là: 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng theo
Hợp đồng tín dụng s 250/HĐTD1-VIB060/11 ngày 26/9/2011 với mục đích vay
là đbổ sung vốn kinh doanh, thời hạn vay là 06 tháng kể từ ngày nhận nợ ngày
26/5/2012, lãi suất theo quy định của VIB và bị đơn đã nhận đủ stiền vay bằng
hình thức giải ngân trực tiếp. Để đảm bảo cho khoản vay này, ông đã thế chấp
tài sản của mình quyn s dng đất din tích 253,7m
2
đất tài sản trên đất tại
tha đất s 1163A, t bn đồ s 01; địa chỉ: Thôn 3, xã Thủy Triều, huyện T, thành
phố Hải Phòng; đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AI 199302, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H/00767
ngày 02/7/2007 cho chủ sử dụng ông Văn C Trần Thị S. Hiện nay tài
4
sản thế chấp vẫn đang do vợ chồng bị đơn quản lý, sử dụng, không tranh chấp
gì, không cho ai thuê, ợn, các mốc giới vẫn giữ nguyên không thay đổi so với
giấy chứng nhân quyền sử dụng đất. Các tài sản trên đất đều do vợ chồng bị đơn
xây dựng, không có ai đóng góp công sức cho bị đơn.
Các Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, khế ước nhận nợ các giấy t
khác của Ngân hàng vợ chồng bị đơn đều trực tiếp kết, bị đơn không ý kiến
gì về các văn bản này của Ngân hàng.
Bị đơn xác nhận đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, tính đến ngày 02/11/2020 ông
còn nợ Ngân hàng là 847.465.550 đồng. Trong đó nợ gốc là: 280.000.000 đồng,
nợ lãi trong hạn là: 25.734.326 đồng và nợ lãi quá hạn là 541.731.224 đồng. Bị đơn
trình bày sẽ trách nhiệm trả số tiền nợ cho VIB. Tuy nhiên do hoàn cảnh kinh tế
khó khăn, tuổi đã nhiều nên không thể trả hết toàn bộ nợ ngay một lúc cho VIB, bị
đơn đề nghị VIB cho bị đơn trả nợ dần tiền nợ gốc đề nghị VIB xem xét miễn,
giảm tiền nợ lãi cho bị đơn.
Qtrình thực hiện hợp đồng, bà S, ông C mới trả cho VIB số nợ gốc là:
20.000.000 đồng và một phần nợ lãi trong hạn 2.486.507 đồng, nợ lãi quá hạn là
23.741.667 đồng, tổng đã trả 46.228.174 đồng. Do hoạt động kinh doanh thua lỗ
nên bà S, ông C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với VIB. Nay VIB yêu cầu bà S, ông C
phải trả ngay toàn bộ khoản nợ gốc lãi tính đến hết ngày 25/8/2021 là:
934.567.659 đồng. Trong đó, số nợ gốc là: 280.000.000 đồng phần nợ lãi trong
hạn là 25.734.326 đồng, nợ lãi quá hạn là 628.833.333 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bđơn xác nhận số nợ gốc và lãi, thời
điểm phát S nợ quá hạn VIB yêu cầu tính đến hết ngày 02/11/2020 như Ngân
hàng tính trên là đúng.
S, ông C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa giải; Thông báo kết quả
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và kết quả xác
minh, S ông C không ý kiến đối với các tài liệu, chứng cứ trong Hồ
vụ án. Về chứng cứ: Nguyên đơn cung cấp bản sao: Hợp đồng tín dụng số
250/HĐTD1-VIB060/11 ngày 26/9/2011, hợp đồng thế chấp, khế ước nhận nợ,
giấy chứng nhận quyền sở hữu các tài sản thế chấp, thống lịch strả nợ để
chứng minh cho yêu cầu khởi kiện. Về nội dung vụ án: nguyên đơn giữ nguyên các
quan điểm ban đầu có trong đơn khởi kiện.
Kiểm sát viên phát biểu
ý kiến về việc tuân theo pháp luật về việc giải
quyết vụ án nsau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của
pháp luật Tố tụng dân strong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ vụ án cho
đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy
định của pháp luật kể từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử
5
nghán; Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ
khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đề nghị Hội đồng
xét xử áp dụng c Điều 30, 35, 39, 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các
Điều 122, 123, 124, 290, 323, 342, 343, 347, 351, 355, 471, 474, 715 và 721 của Bộ
luật Dân sự năm 2005; Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 130 của Luật
đất đai năm 2003; Các Điều 90, 91 95 của Luật Các Tổ chức Tín dụng; Ngh
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn phải trả nợ cho
VIB tổng số tiền tính đến hết ngày 25/8/2021 là: 934.567.659 đồng. Trong đó, số
nợ gốc là: 280.000.000 đồng; lãi trong hạn 25.734.326 đồng; nợ lãi quá hạn
628.833.333 đồng. Trường hợp ông C và bà S không trả được nợ thì Ngân hàng
quyền đề nghị quan Thi nh án dân sự phát mại tài sản thế chấp của bị đơn để
thu hồi nợ cho ngân hàng. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại
thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Vtố tụng: Đây vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại, các bên
trong Hợp đồng vay tài sản đều nhằm mục đích lợi nhuận và thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản
1 Điều 30, Điều 35 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn
đã được Tòa án đảm bảo thực hiện đầy đquyền nghĩa vụ của mình, nguyên
đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn đã vắng mặt tại phiên toà
lần thứ hai. Theo quy định Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành
xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Về yêu cầu đòi nợ gốc, lãi của nguyên đơn:
Xét yêu cầu trả nợ của nguyên đơn: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số
250/HĐTD1-VIB060/11 ngày 26/9/2011; khế ước nhận nợ số 250.02/KƯNN1-
VIB060/11 vào ngày 26/5/2012 kèm theo hợp đồng thế chấp đã giữa bên cho
vay Ngân hàng Q- Chi nhánh Hải Phòng - Phòng giao dịch T bên vay
Trần Thị S ông Văn C; căn cứ lời khai đương sự tại phiên tòa cùng các tài
liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định: Ông Lê Văn C
và bà Trần Thị S có ký kết Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Qđể vay vốn để kinh
doanh với tổng số tiền là 300.000.000 đồng, việc kết các hợp đồng tín dụng,
Hợp đồng thế chấp giữa các đương sự hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của
pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng, hai bên thống nhất tính đến hết ngày
02/11/2020 bị đơn còn nợ Ngân hàng Qlà 847.465.550 đồng. Trong đó nợ gốc là:
280.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 25.734.326 đồng n lãi quá hạn
6
541.731.224 đồng. Sự thống nhất số tiền nợ trên phợp với việc bị đơn đã vi
phạm nghĩa vụ trả nợ khoản vay trên chuyển sang nợ quá hạn t ngày
26/11/2012 và số tiền nợ mà bị đơn đã trả cho Ngân hàng là số nợ gốc là:
20.000.000 đồng và một phần nợ lãi trong hạn 2.486.507 đồng, nợ lãi quá hạn là
23.741.667 đồng, tổng đã trả 46.228.174 đồng. Theo Hợp đồng tín dụng các
bên đã kết, mức lãi suất được điều chỉnh theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng
tín dụng như sau: Lần thứ nhất duy nhất vào ngày 14/9/2012 điều chỉnh từ 19%
xuống còn 17,5% được áp dụng cho đến thời điểm hiện nay. Ngân hàng Qyêu
cầu S, ông C phải trả ngay toàn bộ khoản nợ gốc, nợ lãi lãi quá hạn tính đến
hết ngày 25/8/2021 là: 934.567.659 đồng. Trong đó, số nợ gốc là: 280.000.000
đồng; nợ lãi trong hạn 25.734.326 đồng; nợ lãi quá hạn 628.833.333 đồng. Bị
đơn thừa nhận tổng số nợ gốc lãi Ngân hàng Qkhai đến thời điểm
02/11/2020 đúng xin được trả dần toàn bộ nợ gốc đề nghị Ngân hàng
miễn, giảm số nợ lãi còn lại nợ lãi phát S với do bị đơn sau khi vay tiền đầu
tư vào kinh doanh khó khăn, hiện nay tình trạng kinh tế rất khó khăn.
Từ những phân tích trên, đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
buộc bà Trần Thị S và ông Lê Văn C phải trả cho VIB toàn bộ khoản nợ gốc, nợ lãi
đến hết ngày 25/8/2021 là: 934.567.659 đồng. Trong đó, số nợ gốc là: 280.000.000
đồng; nợ lãi trong hạn 25.734.326 đồng; nợ lãi quá hạn là 628.833.333 đồng.
Trần Thị S ông Văn C phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi kể từ ngày 26/8/2021
đối với khoản nợ gốc cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ cho VIB theo mức lãi
suất quy định trong Hợp đồng tín dụng số 250/HĐTD1-VIB060/11 ngày 26/9/2011
đã ký giữa Ngân hàng Qvới Trần ThS và ông Lê Văn C.
[3] Về yêu cầu phát mại tài sản thế chấp của nguyên đơn:
Tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay : Quyn s dng đất din tích
253,7m
2
đất và tài sản trên đất ti tha đất s 1163A, t bn đồ s 01; địa chỉ:
Thôn 3, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; đã được Ủy ban nhân dân huyện T
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 199302, vào sổ cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số H/00767 ngày 02/7/2007 cho chủ sử dụng là ông
Văn C Trần Thị S. Việc thế chấp tài sản đã được ông Văn C và Trần
Thị S (Bên thế chấp) Ngân hàng Q(Bên nhận thế chấp) Hợp đồng thế chấp
tài sản số 436/2010/BĐ ngày 29/5/2010, số công chứng
3563.CVN/2010.TCQSDĐ&TS, quyển số 02-AP.TP/CC-SCC/HĐGD ngày
29/5/2010 được đăng giao dch bo đảm ti Cơ quan Nhà nước thm quyn
Văn Phòng đăng đất đai huyện T đúng quy định ca pháp lut vào ngày
31/5/2010 được chứng thực tại Văn Phòng công chứng An Phát, thành phố Hải
Phòng vào ngày 31/5/2010.
Việc kết hợp Hợp đồng thế chấp giữa các đương sự hoàn toàn tự
nguyện, đã được công chứng được đăng ký giao dch bo đảm theo đúng quy
7
định của pháp luật. Vì vậy, trường hợp bị đơn không trả được nợ, Ngân hàng Qyêu
cầu phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ chấp nhận.
Qtrình giải quyết ván, thẩm định hiện trạng tài sản gắn liền với đất thế
chấp thấy: Trên diện tích 253,7m
2
đất tài sản trên đất ti tha đất s 1163A, t
bn đồ s 01, tại địa chỉ Thôn 3, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng có các tài sản
sau: 01 nhà 03 gian lợp ngói đỏ, cửa chính pa gỗ kính, nền láng xi măng, xây
dựng năm 2000, năm 2011 làm lại mái nhà, 01 nhà bếp, 01 nhà tắm nhà vệ S,
tường bao xây gạch chỉ trước nhà cạnh nhà, cổng 2 trụ xây gạch 2 cánh sắt
hộp, sân láng xi măng cây cối. Các tài sản gắn liền đất, hiện trạng sdụng đất
tại thời điểm xem xét, thẩm định tại chỗ vẫn giữ nguyên như tình trạng ban đầu khi
thế chấp trừ căn nhà 3 gian có tu sửa lại vào năm 2011.
Căn cứ tài liệu điều tra, xác minh tại địa phương, lời khai của những người
làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác trong hồ vụ án xác định: Quyn
s dng đất din tích 253,7m
2
đất tài sản trên đất ti tha đất s 1163A, t bn
đồ s 01; địa chỉ: Thôn 3, Thủy Triều, huyện T, thành phố Hải Phòng; đã được
Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 199302,
vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H/00767 ngày 02/7/2007 cho
chủ sử dụng ông Văn C bà Trần Thị S hoàn toàn thuộc quyền sử dụng,
sở hữu hợp pháp của bị đơn, tài sản bảo đảm hiện không cho ai thuê, mượn, không
tranh chấp với ai.
Như vậy, đủ căn cứ khẳng định toàn bộ tài sản (bao gồm 01 nhà 03 gian lợp
ngói đỏ, cửa chính pa gỗ kính, nền láng xi măng, xây dựng năm 2000, năm
2011 làm lại mái nhà, 01 nhà bếp, 01 nhà tắm và nhà vệ S, tường bao xây gạch chỉ
trước nhà và cạnh nhà, cổng 2 trụ xây gạch 2 cánh sắt hộp, sân láng xi măng
cây cối) gắn liền với diện tích đất 253,7m2 đất tài sản trên đất tại thửa đất số
1163A, tờ bản đồ số 01, tại địa chỉ Thôn 3, T, huyện T, thành phố Hải Phòng
tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Lê Văn C và bà Trần Th S.
Nay, Ngân hàng Qyêu cầu phát mại toàn bộ quyền sử dụng đất tài sản
gắn liền với đất của ông Lê Văn C và bà Trần Thị S để thu hồi nợ là có căn cứ theo
quy định Bộ luật Dân sự.
Trường hợp số tiền thu được tviệc phát mại tài sản thế chấp sau khi trả nợ
cho ngân hàng còn dư sẽ được trả lại phần dư cho ông Văn C và bà Trần Thị S,
trường hợp số tiền phát mại tài sản bảo đảm quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất của ông C, bà S không đủ trả nợ thì Trần Thị S ông Văn C
phải tiếp thực thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Qcho đến khi trả xong toàn
bộ khoản n phù hợp quy định tại các Điều 280, Điều 281, Điều 255; Điều 290,
Điều 342, Điều 355, Điều 471; Điều 474; Điều 476; Điều 715 Điều 721 Bộ luật
Dân sự năm 2005; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
8
Bị đơn đề nghị xin trả dần toàn bộ nợ gốc đề nghị Ngân hàng miễn, giảm
số nợ lãi còn lại với lý do tình trạng kinh doanh của bị đơn hiện gặp nhiều khó
khăn nguyên đơn không đồng ý phương án, quan điểm này của bị đơn cho nên
chưa có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bị đơn.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên theo
quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự khoản 2 Điều 26 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
lệ phí Tòa án; bị đơn phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại theo quy
định của pháp luật.
Với nhận định như trên, Hội đồng xét xử thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm
sát nhân dân huyện T đã phát biểu tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật về
việc giải quyết vụ án là phù hợp pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 30, 35, 39, 91, 92, 97, 147, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng
dân sự; Các Điều 122, 323, 343, 355, 471, 474, 715 721 của Bộ luật Dân s
năm 2005; Các Điều 117, 298, 299, 463, 466, 500 502 của Bộ luật Dân sự năm
2015; Điều 130 của Luật đất đai năm 2003; Các Điều 90, 91 95 của Luật Các
Tổ chức tín dụng; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Q
1.1. Bà Trần Thị S ông Văn C phải trả cho Ngân hàng Qsố tiền nợ
gốc, nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn tính đến hết ngày 25/8/2021 là: 934.567.659
đồng. Trong đó, số nợ gốc là: 280.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn 25.734.326
đồng; nợ lãi quá hạn là 628.833.333 đồng.
1.2. Bà Trần Thị S và ông Lê Văn C phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn
đối với khoản nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 26/8/2021 theo mức lãi suất
các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 250/HĐTD1-VIB060/11 ngày
26/9/2011 cho đến khi thanh toán xong khoản ngốc này. Trường hợp trong hợp
đồng tín dụng, các bên thỏa thuận vviệc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng
thời kỳ của Ngân hàng Qthì lãi suất Trần Thị S ông Văn C phải tiếp
tục thanh toán cho Ngân hàng Q theo quyết định của Tòa án cũng sđược điều
chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Q.
1.3. Trường hợp ông Văn C Trần Thị S không thực hiện được nghĩa
9
vụ trả nợ cho Ngân ng Q thì Ngân ng Qcó quyền yêu cầu quan Thi nh án
Dân sự thẩm quyền phát mại toàn bộ i sản thể chấp để thc hiện nghĩa vụ bảo
đảm đã cam kết theo hợp đồng thế chấp tài sản số 436/2010/BĐ ngày 29/5/2010 đã
giữa ông Văn C Trần Thị S bên thế chấp Ngân ng Q n nhận
thế chấp. Tài sản thế chấp bao gồm: Quyn s dng đất din tích 253,7m
2
đất và tài
sản trên đất ti tha đất s 1163A, t bn đồ s 01; địa chỉ: Thôn 3, xã Thủy Triều,
huyện T, thành phố Hải Phòng; đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng
nhận quyền sdụng đất số AI 199302, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số H/00767 ngày 02/7/2007 cho chủ sử dụng ông Văn C và Trần Thị
S; bao gồm các mốc 1-2-3-4-5-6-7-1 (Có sơ đồ kèm theo).
1.4. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản thế chấp sau khi trả
nợ cho ngân hàng còn dư sẽ được trả lại phần dư cho ông Lê Văn C và bà Trần Thị
S. Trường hợp số tiền phát mại tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì Trần Thị S
và ông Lê Văn C phải tiếp thục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Qcho đến
khi trả xong toàn bộ khoản nợ.
2. Về án phí: Bà Trần Thị S và ông Lê Văn C phải nộp: 40.037.000
®ång(Đã làm tròn số) án phí dân sự thẩm. Trả lại Ngân hàng Qtiền tạm ứng
án phí: 18.700.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0015816 ngày 08/4/2021
tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thµnh phè H¶i Phßng.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn
15 ngày ktừ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt quyền kháng cáo trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án thẩm hoặc kể từ ngày bản án được
niêm yết.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án người phải thi hành án quyền thoả
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân
sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND TP Hải phòng;
- VKSND TP Hải Phòng;
- VKSND huyện T;
- Chi cục THADS huyện T;
- Đương sự;
- Lưu:VT; HCTP; hồ sơ vụ án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Vân
10
Tải về
Bản án số 11/2021/KDTM-ST Bản án số 11/2021/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất