Bản án số 1078/2026/HNGĐ-ST ngày 22/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1078/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 1078/2026/HNGĐ-ST ngày 22/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội
Số hiệu: 1078/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, con chung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1078/2026/HNGĐ-ST Bản án số 1078/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1078/2026/HNGĐ-ST Bản án số 1078/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – H1
Bản án số: 1078/2026/HNGĐ-ST
Ngày 22 tháng 9 năm 2026
V/v: Tranh chấp ly hôn, con chung
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – H1
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Điệu
Ông Lê Công Đoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Khu
vực 5 – H1
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – H1 tham gia phiên tòa:
Ông Bùi Bách Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 – H1 xét xử
sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 789/2026/TLST-HNGĐ ngày
03 tháng 8 năm 2026 về “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số 369/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2026, giữa các đương
sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thùy L, sinh ngày 06/10/2001; CCCD số:
001***413; nơi đăng ký thường trú: Thôn LS, xã TrG, thành phố H1 (có mặt tại
phiên tòa).
Bị đơn: Anh Đặng Minh Đ, sinh ngày 14/07/1999; CCCD số: 001***623; nơi
đăng ký thường trú: Thôn QM, xã PhD, thành phố H1 (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 01/7/2026, bản tự khai và các lời khai
trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân Khu vực 5 – H1, nguyên đơn –
Chị Hoàng Thùy L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thùy L và và Anh Đặng Minh Đ kết hôn
trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã YTh, huyện GL
nay là xã PhD, thành phố H1 ngày 04/4/2022.
Sau khi kết hôn, Chị L và Anh Đ cùng chung sống với mẹ Anh Đ tại số nhà
28 Khu tập thể Trại giống thôn YK, xã YTh nay là Thôn QM, xã PhD, thành phố
2
H1. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến ngày 08/4/2026 thì bắt đầu phát sinh mâu
thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong sinh hoạt và quan điểm sống. Hai
bên đã cố gắng để hàn gắn nhưng không có kết quả, cuộc sống hôn nhân không thay
đổi. Đỉnh điểm mâu thuẫn trầm trọng là ngày 23/4/2026, sau khi hai vợ chồng cãi
nhau thì Chị L về nhà bố mẹ đẻ của Chị L tại TrG, SS ở, sống ly thân với Anh Đtừ
đó đến nay không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Nay Chị L xác định tình cảm
vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được, Chị L xin ly hôn với Anh Đ.
- Về con chung: Chị L xác định chị và Anh Đ có 01 con chung là cháu Đặng
Minh Q, sinh ngày 21/9/2022. Chị L và Anh Đ sống ly thân từ tháng 4/2026 đến nay,
vì con chung vẫn phải đi học ở PhD nên Chị L đã để con cho Anh Đ chăm sóc trong
thời gian vợ chồng ly thân, thời gian vợ chồng sống ly thân cuối hằng tuần Chị L
vẫn đón con về TrG chăm sóc 1 tuần hoặc 2-3 ngày/ mỗi lần đón. Chị L vẫn mua
sữa và đồ sinh hoạt cần thiết cho con, thăm nom con. Thời gian vợ chồng sống ly
thân, Anh Đ chăm sóc con không vấn đề gì về sức khỏe hay tâm lý, cháu vẫn khỏe
mạnh bình thường.
Nay Chị L xin trực tiếp nuôi con chung vì từ trước đến nay con vẫn sống cùng
với Chị L. Vì con đang đi học ở Trường mầm non YK, PhD nên Chị L mới phải
buộc lòng để con lại để Anh Đ tạm thời chăm sóc trong thời gian vợ chồng cân nhắc,
suy nghĩ về việc ly hôn. Sau này Chị L sẽ đón con về và cho con đi học ở TrG. Nếu
Chị L được giao quyền nuôi con, Chị L không yêu cầu Anh Đ phải cấp dưỡng nuôi
con cho Chị L. Trường hợp Anh Đ được giao nuôi con chung Chị L không phải đóng
góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho Anh Đ.
Về điều kiện nuôi con: Công việc của Chị L đang làm nhân viên bán hàng của
Công ty cổ phần dịch vụ thương mại Wincommerce; địa điểm làm việc: Thôn TC xã
TrG, thành phố H1. Hợp đồng lao động không xác định thời hạn, thu nhập bình quân
8.000.000đ-9.000.000đ/tháng. Thời gian làm việc theo ca 08 tiếng/ngày. Nếu Chị L
phải làm việc buổi tối thì Chị L sẽ nhờ ông bà ngoại của con (tức bố mẹ đẻ Chị L)
giúp Chị L chăm sóc con. Về chỗ ở: Hiện nay Chị L đang sống tại nhà đất của bố
mẹ đẻ Chị L ở Thôn LS, xã TrG, thành phố H1. Chị L không tự ý bỏ về nhà bố mẹ
đẻ Chị L như Anh Đ đã trình bày. Khi Chị L sống ly thân với Anh Đ thì Chị L có
xin phép mẹ chồng Chị L và Anh Đ cho Chị L đưa con chung là Cháu Q về sống
cùng Chị L ở thôn LS, xã TrG nhưng mẹ chồng Chị L và chồng Chị L không đồng
ý nên Chị L chỉ có thể đi một mình và để lại con cho Anh Đ nuôi. Anh Đ trình bày
Chị L không đóng góp tiền nuôi con mà Anh Đ một mình nuôi vì tiền Chị L tiết kiệm
cho con, trong khi tiền mọi người đến thăm Chị L khi Chị L đẻ Anh Đ tự ý sử dụng
hết nên Chị L nghĩ Anh Đ phải có trách nhiệm chi phí nuôi con nên tiền Chị L tiết
kiệm được theo sổ tiết kiệm mà Chị L giao nộp cho Tòa án trong đó ghi số tiền hơn
3
30 triệu đồng Chị L không giao cho Anh Đ mà vẫn để dành cho con. Mẹ Chị L hiện
nay cũng đã nghỉ hưu, không đi làm mà đang nghỉ ở nhà.
Ngoài ra, Chị L và Anh Đ không có con chung nào khác.
- Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị L và Anh Đ không có nợ chung, Chị L không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
Ngoài ra, Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề nào khác.
Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa
án nhân dân Khu vực 5 – H1, bị đơn – Anh Đặng Minh Đ trình bày:
Anh Đ xác định toàn bộ lời trình bày của Chị L là đúng. Đối với việc Chị L
xin ly hôn, Anh Đ đồng ý ly hôn do hết tình cảm, không thể hàn gắn được.
- Về con chung: Anh Đ xác định, anh và Chị L có 01 con chung là cháu Đặng
Minh Q, sinh ngày 21/9/202. Anh Đ không đồng ý giao con chung cho Chị L nuôi,
Anh Đ xin trực tiếp nuôi con, không yêu cầu Chị L đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi
con. Trường hợp Chị L được giao nuôi con nếu Chị L yêu cầu Anh Đ đóng góp tiền
cấp dưỡng nuôi con Anh Đ sẽ đồng ý, còn nếu Chị L không yêu cầu, Anh Đ không
phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho Chị L.
Về điều kiện nuôi con: Công việc của Anh Đ hiện nay đang làm nhân viên kho
của Công ty TNHH S1; địa chỉ làm việc: 422 đường NH, xã PhD; thời gian làm việc theo
2 ca sáng – tối 08 giờ/01 ngày. Khi Anh Đ làm ca tối thì mẹ đẻ Anh Đ giúp Anh Đ chăm
sóc con chung và phụ Anh Đ đưa đón cháu. Thu nhập bình quân của Anh Đ từ
10.500.000đ-11.000.000 đồng/tháng. Về chỗ ở: Hiện nay Anh Đ cùng mẹ Anh Đ và con
Anh Đ đang ở Khu tập thể X, Thôn QM, xã PhD, thành phố H1. Chỗ ở do mẹ Anh Đ
thuê, mẹ Anh Đ hiện nghỉ hưu, có lương hưu và có thời gian giúp đỡ Anh Đ chăm sóc
con.
Chị L trình bày về việc Anh Đ và mẹ Anh Đ không cho Chị L đưa con về TrG
là không đúng, ban đầu Anh Đ và Linh có thỏa thuận với nhau là Chị L sẽ đi một
mình về nhà bố mẹ đẻ của Linh ở, vì con đang đi học ở YTh nên để con tiếp tục đi
học nên Anh Đ và mẹ Anh Đ là bà nội cháu tiếp tục chăm sóc đến khi nào giải quyết
ly hôn, có phán quyết của Tòa án giao con cho ai nuôi thì Anh Đ sẽ chấp nhận theo
phán quyết của Tòa án. Anh Đ và Chị L sống ly thân từ tháng 4/2026 đến nay, vì
con chung do Anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và cho cháu đi học ở thôn YK,
xã PhD. Tiền học phí và sinh hoạt phí đều do Anh Đ chi trả. Chị L bỏ về nhà bố mẹ
đẻ ở tự nguyện để lại con cho Anh Đ nuôi trong thời gian vợ chồng ly thân, có vài
lần Chị L đón cháu về TrG chơi rồi lại đưa con về cho Anh Đ nuôi, Chị L không
đóng góp gì cho Anh Đ nuôi con. Trước đây khi Chị L còn sống chung với Anh Đ
thì tiền học, tiền sinh hoạt của con chung đều do Anh Đ đóng. Anh Đ chăm sóc con
4
chung ổn định, sức khỏe tốt, không có vấn đề gì. Chị L sống cùng bố mẹ đẻ và gia
đình vợ chồng, con cái của anh trai nên cuộc sống phức tạp hơn, bố mẹ Chị L vẫn đi
làm và phải chăm sóc hỗ trợ cho anh trai của Chị L, mà Chị L đi làm ca sẽ không có
thời gian chăm sóc con đầy đủ như Anh Đ. Mẹ Anh Đ đã nghỉ hưu và chỉ có Anh Đ
là con một trong gia đình nên mẹ Anh Đ có điều kiện để hỗ trợ Anh Đ chăm sóc con.
- Về tài sản chung: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh Đ và Chị L không có nợ chung, Anh Đ không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, Anh Đ không yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề nào khác.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn là Chị Hoàng Thùy L giữ nguyên các quan điểm, ý kiến, yêu cầu khởi
kiện: Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được với Anh Đ,
chị xin ly hôn với Anh Đặng Minh Đ, đề nghị Tòa án giao cho chị trực tiếp nuôi con
chung của anh chị là cháu Đặng Minh Q, chị không yêu cầu Anh Đ đóng góp tiền cấp
dưỡng nuôi con. Chị L xác định quá trình vợ chồng anh chị còn chung sống thì mẹ Anh
Đ (bà nội của Cháu Q) vẫn là người hỗ trợ anh chị chăm sóc và đưa đón Cháu Q đi học.
Sau này khi Chị L về nhà bố mẹ đẻ, sống ly thân với Anh Đ thì Cháu Q được Anh Đ và
bà nội chăm sóc tốt, sức khỏe cháu bình thường, đi học đầy đủ.
Trường hợp Anh Đ được giao nuôi con, Chị L tự nguyện đóng góp tiền cấp dưỡng
nuôi con cho Anh Đ là 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 10/2026 đến khi Cháu Q đủ 18 tuổi
hoặc khi có yêu cầu mới theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung và nợ chung vợ
chồng: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là Anh Đặng Minh Đ giữ nguyên các quan điểm, ý kiến đã trình bày:
Anh Đ đồng ý ly hôn với Chị L, không đồng ý giao con cho Chị L nuôi. Anh đề nghị
Tòa án giao con chung của anh chị cho Anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, anh
không yêu cầu Chị L đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp Chị L được
giao nuôi con, Anh Đ tự nguyện đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho Chị
L là 4.000.000đ/tháng kể từ tháng 10/2026 đến khi Cháu Q đủ 18 tuổi hoặc khi có
yêu cầu mới theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng:
Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại điện viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – H1 phát biểu quan điểm về việc
tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán
và Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân
sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Tòa án nhân dân Khu vực 5 – H1 thụ lý đúng thẩm quyền, Thẩm phán, Hội
đồng xét xử đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật về thủ tục Tố tụng dân
5
sự từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên
đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 19; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều
227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa
đổi, bổ sung năm 2025); Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 quy
định về án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 51; Điều 56
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử: Ghi nhận việc thuận tình ly hôn của Chị
Hoàng Thùy L và Anh Đặng Minh Đ.
Về con chung: Chị L và Anh Đ có 01 con chung là cháu Đặng Minh Q, sinh
ngày 21/9/2022. Hiện nay Anh Đ đang chăm sóc cháu ổn định. Để đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp của cháu Đặng Minh Q, đề nghị HĐXX tiếp tục giao con chung
cho Anh Đ (là bố) trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; ghi nhận sự tự nguyện của Chị L
về việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho Anh Đ là 2.000.000đ/tháng kể
từ tháng 10/2026 đến khi Cháu Q đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi về nuôi con,
cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Đề nghị áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn nên căn cứ vào khoản
1 Điều 28 – Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), vụ án
thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Khu vực. Bị đơn là Anh Đặng Minh Đ có
đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại xã PhD – thành phố H1, căn cứ vào Điều
35, Điều 39 và Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2025), vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân Khu vực 5 - H1.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thùy L và Anh Đặng Minh Đ kết hôn
trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã YTh,
huyện GL nay là xã PhD, thành phố H1 ngày 04/4/2022. Đây là quan hệ hôn nhân
hợp pháp.
[3]. Về nguyên nhân mâu thuẫn: Căn cứ vào những lời khai thống nhất của
Chị Hoàng Thùy L và Anh Đặng Minh Đ, xác định:
Sau khi kết hôn, Chị L và Anh Đ cùng chung sống với mẹ Anh Đ tại số nhà
28 Khu tập thể Tr giống thôn YK, xã YTh nay là Thôn QM, xã PhD, thành phố H1.
Anh chị chung sống hạnh phúc đến ngày 08/4/2026 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn,
6
nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong sinh hoạt và quan điểm sống. Hai bên đã
cố gắng để hàn gắn nhưng không có kết quả, cuộc sống hôn nhân không thay đổi.
Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, ngày 23/4/2026 Chị L chuyển về xã TrG, thành
phố H1 sống ly thân với Anh Đ đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai.
Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình quy định: “Vợ chồng có
nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng
nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Chị L và Anh Đ cùng xác
định tình cảm vợ chồng đã hết, không thể hàn gắn được. Chị L xin ly hôn, Anh Đ
đồng ý ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy mục đích hôn nhân của anh chị không
đạt được nên cần ghi nhận việc thuận tình ly hôn của Chị L và Anh Đ.
[4]. Về con chung: Căn cứ lời khai thống nhất của các đương sự, Biên bản
xác minh ngày 04/9/2026 tại Ủy ban nhân dân xã PhD, xác định: Chị L và Anh
Đ có 01 con chung là cháu Đặng Minh Q, sinh ngày 21/9/2022.
Xét điều kiện nuôi con:
- Về điều kiện thu nhập, điều kiện về chỗ ở: Căn cứ lời khai của Chị L, Anh
Đ và các tài liệu, chứng cứ mà anh chị giao nộp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét
xử nhận thấy anh chị có điều kiện về thu nhập, điều kiện chỗ ở ngang nhau.
- Về điều kiện chăm sóc con: Trước khi vợ chồng anh chị ly thân, Cháu Q
sống cùng Anh Đ, Chị L và bà nội của cháu tại thôn QM, xã PhD. Từ trước đến nay,
việc chăm sóc Cháu Q có sự hỗ trợ của mẹ đẻ Anh Đ (là bà nội của Cháu Q) trong
việc đưa đón cháu đi học và hỗ trợ anh chị chăm sóc cho cháu. Tại Biên bản xác
minh ngày 04/9/2026 với Đại diện Ủy ban nhân dân xã PhD, Biên bản làm việc ngày
04/9/2026 với Đại diện Trường Mầm non YTh, xã PhD, xác định: Từ khi anh chị ly
thân ngày 23/4/2026 đến nay, Cháu Q vẫn sống cùng Anh Đ và bà nội cháu tại thôn
QM và được Anh Đ cho học Lớp B4 Trường Mầm non YTh điểm trường thôn YK.
Tình hình sức khỏe của cháu tốt, được chăm sóc và đi học ổn định. Anh Đ không có
điều tiếng gì tại địa phương. Hằng ngày, bà nội cháu và bố cháu – là Anh Đ là người
đưa đón cháu đi học. Việc trao đổi giữa giáo viên chủ nhiệm lớp với gia đình đều do
Anh Đ trao đổi trực tiếp hoặc qua điện thoại/Zalo với cô giáo chủ nhiệm lớp. Mặt
khác, lời khai của Chị L xác định Anh Đ là người trực tiếp đóng tiền học phí cho
Cháu Q, thời gian chị sống ly thân với Anh Đ, Anh Đ chăm sóc con không vấn đề gì
về sức khỏe hay tâm lý, cháu vẫn khỏe mạnh bình thường. Nhận thấy rằng, Anh Đ là
người thường xuyên trao đổi, nắm bắt thông tin của con với nhà trường và chăm sóc
đầy đủ cho Cháu Q. Ngoài ra, việc chăm sóc Cháu Q còn được mẹ đẻ của Anh Đ là
bà nội của cháu hỗ trợ thường xuyên và ổn định. Hội đồng xét xử xét thấy việc tiếp
tục giao con cho Anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là đảm bảo cho việc học tập
cũng như chăm sóc, giáo dục, nuôi dạy cháu được ổn định cả về điều kiện nuôi
7
dưỡng, sức khỏe và tâm lý của cháu. Mặc dù, Anh Đ không yêu cầu Chị L đóng góp
tiền cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, Chị L trình bày trường hợp Anh Đ được giao
nuôi con, Chị L tự nguyện đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho Anh Đ là 2.000.000
đồng/tháng là phù hợp quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5]. Về tài sản chung vợ chồng và nợ chung vợ chồng: Do các đương sự không
yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện bằng
vụ án khác khi có yêu cầu.
[6]. Về án phí: Chị L tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000
đồng và Anh Đ tự nguyện chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm là
phù hợp với Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 quy định về án
phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Quan điểm về việc giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
Khu vực 5 – H1 là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 19, 28, 35, 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2026);
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày
30.12.2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự.
Xử:
1. Ghi nhận sự thuận tình ly hôn của Chị Hoàng Thùy L và Anh Đặng Minh
Đ. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp
luật.
2. Về con chung: Chị L và Anh Đ cùng thống nhất xác định anh chị có 01 con
chung là cháu Đặng Minh Q, sinh ngày 21/9/2022.
Giao cháu Đặng Minh Q cho Anh Đặng Minh Đ là bố trực tiếp nuôi dưỡng,
chăm sóc; Chị L có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho Anh Đ là
2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 10/2026 đến khi Cháu Q trưởng thành, đủ 18 tuổi
hoặc đến khi có sự thay đổi khác về nuôi con, cấp dưỡng nuôi con theo quy định của
pháp luật.
Không ai được ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục
con chung.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
8
4. Về án phí: Chị Hoàng Thùy L chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí
Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị L đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm
ứng án phí theo biên lai thu ký hiệu BLTU/26E số 0002379, ngày 28/7/2026 tại Thi
hành án dân sự thành phố H1 (Phòng thi hành án dân sự Khu vực 5 – H1) nay được
chuyển thành án phí ly hôn.
Anh Đặng Minh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con sơ
thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Chị Hoàng Thùy L và Anh Đặng Minh Đ có mặt
có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6 và 7 Luật thi hành án dân sự;
Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân
sự.
Nơi gửi:
- Những người tham gia tố tụng
- Toà án nhân dân TP H1
- VKSND TP.H1
- VKSND Khu vực 5 – H1
- T.H.A.DS TP H1
- T.H.A DS Khu vực 5 – H1
- UBND xã PhD, HN (x.YTh, GL, HN cũ –
GCNKH số 29/2022)
- Lưu hồ sơ vụ án
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Minh Ngọc
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1078/2026/HNGĐ-ST Bản án số 1078/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1078/2026/HNGĐ-ST Bản án số 1078/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất