Bản án số 100/2026/DS-ST ngày 30/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 100/2026/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 100/2026/DS-ST ngày 30/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 100/2026/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng T "Tín dụng" Phạm Văn H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 100/2026/DS-ST Bản án số 100/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 100/2026/DS-ST Bản án số 100/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4-TÂY NINH
__________
Bản án số: 100/2026/DS-ST
Ngày: 30 - 7 - 2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Ph c
________________________________
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Thanh Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Chính
2. Bà Lê Thị Kim Thoa
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành – Thư ký Tòa
án nhân dân Khu vực 4 – Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Tây
Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 159/2026/TLST-DS ngày
24/4/2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 94/2026/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên
toà số 76/2026/QĐST-DS ngày 13 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn T(tên gọi trước đây
Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín);
Địa chỉ trụ sở chính: Số 266-268, đường N, phường X, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Công M– Chủ tịch Hội đồng quản
trị Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn T .
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Dương Công M: Ông Huỳnh
Anh T - Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn T- Chi nhánh B (theo
Giấy ủy quyền ngày 01/6/2026)
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Huỳnh Anh T: Ông Ngô Vĩnh
P – Chuyên viên khách hàng cá nhân Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn T-
Chi nhánh B (theo Giấy ủy quyền ngày 01/6/2026);
Bị đơn: Ông Phạm Văn H , sinh năm 2002; Địa chỉ: Ấp 3 Thạnh Đức, xã B ,
tỉnh Tây Ninh.
2
(Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt do có đơn xin xét xử
vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 16/01/2026 cũng như các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn T(tên gọi trước
đây Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín) do người đại diện theo ủy
quyền là ông Ngô Vĩnh Ph (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) trình bày:
Ngày 25/10/2024, ông Phạm Văn H có ký với Ngân hàng “Đề nghị kiêm hợp
đồng phát hành và sử dụng thẻ cá nhân ngày 25/10/2024” và “Bản Điều khoản và
Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng” (các tài liệu này được
gọi chung là Hợp đồng), Hợp đồng có hiệu lực từ ngày 11/11/2024. Căn cứ thu nhập
của ông H , Ngân hàng đồng ý cấp cho ông H thẻ tín dụng, hạn mức tín dụng là
50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, áp dụng lãi suất thay đổi theo từng
thời kỳ bằng thông báo cụ thể của Ngân hàng, trường hợp vi phạm nghĩa vụ thanh
toán được quy định tại Điều 9 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng
thẻ tín dụng của Ngân hàng thì toàn bộ dư nợ sẽ trở thành nợ gốc và áp dụng lãi suất
quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H đã thực
hiện các giao dịch với tổng số tiền là 49.000.000đồng, tuy ông H có thanh toán một
phần nợ gốc và lãi cho Ngân hàng nhưng đã không thanh toán đúng hạn theo thứ tự
thanh toán tại Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín
dụng của Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở nhưng ông H vẫn không có
thiện chí trả nợ, nên ngày 25/11/2025 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và
chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất quá hạn được quy
định tại Điều 9 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của
Ngân hàng có thông báo nợ quá hạn ngày 16/01/2026 cho ông Hung biết. Như vậy,
tính đến ngày 30/7/2025 thì ông H còn nợ tổng cộng là 51.619.894đồng, bao gồm
nợ gốc là 37.994.490đồng, nợ lãi là 13.625.404đồng.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với
ông H yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân
hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông H vẫn chưa thanh
toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng là đã vi phạm các điều khoản tại Hợp
đồng đã ký. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng yêu
cầu buộc ông H phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số nợ tạm tính đến ngày 30/7/2025
thì ông H còn nợ tổng cộng là 51.619.894đồng, bao gồm nợ gốc là 37.994.490đồng,
nợ lãi là 13.625.404đồng. Ông H có trách nhiệm tiếp tục thanh toán khoản lãi phát
sinh từ ngày 31/7/2025 cho đến khi trả xong nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp
đồng.
Bị đơn ông Phạm Văn H : Ông vắng mặt, không có văn bản trình bày, không
cung cấp tài liệu chứng cứ, không có ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp
tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, ông H vẫn tiếp tục vắng mặt và không cung
cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án. Cho nên, Tòa
án lập biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và biên
3
bản không hòa giải được. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu
không tiến hành hòa giải. Do đó, Tòa án không tiếp tục hòa giải và đưa vụ án ra xét xử
theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa, ông H vắng mặt không rõ lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử
mặt, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Toà án nhân dân khu vực 4 – Tây Ninh thụ lý đơn khởi kiện của
nguyên đơn đối với bị đơn về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng là đúng thẩm quyền.
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân theo
pháp luật tố tụng và những người tham gia tố tụng trong vụ án đã chấp hành pháp
luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung: Căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy
việc ký Hợp đồng ngày 25/10/2024 giữa Ngân hàng và ông H là đúng theo quy định
tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các chủ thể
tham gia ký kết có đầy đủ năng lực và trách nhiệm hành vi dân sự. Hợp đồng thể hiện
đầy đủ thông tin của các bên cũng như điều khoản tín dụng và trường hợp vi phạm.
Hình thức và nội dung của hợp đồng không trái đạo đức xã hội, không vi phạm các
quy định của pháp luật nên đây là hợp đồng hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa
vụ của các bên, có hiệu lực thi hành đối với các bên. Trong quá trình thực hiện hợp
đồng, Ngân hàng đã thực hiện nghĩa vụ của bên cho vay là đã cấp thẻ tín dụng cho
bị đơn với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, nhưng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ
trả nợ nên nguyên đơn có quyền thu hồi nợ theo thỏa thuận. Do đó, nguyên đơn yêu
cầu ông H trả số tiền còn nợ tính đến ngày 30/7/2026 tổng cộng là 51.619.894đồng,
bao gồm nợ gốc là 37.994.490đồng, nợ lãi là 13.625.404đồng và tiếp tục thanh toán
khoản lãi phát sinh từ ngày 31/7/2025 cho đến khi trả xong nợ vay theo lãi suất quy
định tại Hợp đồng là có căn cứ, phù hợp theo thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký kết nên
có cơ sở chấp nhận. Từ những phân tích trên, căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 Bộ
luật Dân sự năm 2015; các Điều 100, Điều 103, Điều 107 Luật Các tổ chức tín dụng
năm 2024, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân
hàng khởi kiện yêu cầu ông H thanh toán toàn bộ nợ vay phát sinh từ Hợp đồng,
đồng thời xác định thông tin cư trú của bị đơn trong đơn khởi kiện được nguyên đơn
ghi đúng theo địa chỉ mà bị đơn đã tự cung cấp trong Hợp đồng. Cho nên, căn cứ
khoản 3 Điều 5, Điều 6 “Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn một số quy định tại
khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trả lại đơn khởi
kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án”, Tòa án xác định bị đơn trong vụ án này có
nơi cư trú tại Ấp 3 Thạnh Đức, xã B , tỉnh Tây Ninh là phù hợp. Căn cứ khoản 3 Điều
26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, quan hệ
pháp luật tranh chấp được xác định “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Tây Ninh.
[1.2] Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử
vắng mặt, riêng bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt
4
không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy
định tại Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Về phạm vi xét xử: Nguyên đơn có yêu cầu khởi kiện liên quan đến hợp
đồng tín dụng đối với cá nhân bị đơn mà không còn yêu cầu thêm cá nhân hay tố
chức nào khác; bị đơn không có yêu cầu phản tố, đồng thời cũng vắng mặt trong suốt
quá trình tố tụng. Tòa án không nhận được bất kỳ tài liệu chứng cứ, ý kiến hay yêu
cầu gì của bị đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ
sơ để giải quyết vụ án và chỉ xem xét những nội dung theo yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn được quy định tại Điều 5, Điều 188 Bộ luật tố tụng dân sự; những nội
dung khác không liên quan đến nội dung khởi kiện của nguyên đơn không được Hội
đồng xét xử xem xét.
[2] Về nội dung
[2.1] Xét hình thức, nội dung Hợp đồng: Hợp đồng được xác lập giữa Ngân
hàng và ông H ngày 25/10/2024 (có hiệu lực ngày 11/11/2024) trên cơ sở tự nguyện,
có nội dung không trái pháp luật và đạo đức xã hội, có hình thức phù hợp theo quy
định tại các Điều 405 và Điều 406 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tại mục chữ ký và họ
tên của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng có chữ ký “H ” và chữ viết
“Phạm Văn H ”, ông H không có ý kiến phản đối hoặc không thừa nhận chữ ký và
chữ viết này là của mình. Do đó, Hợp đồng tín dụng được xác định là hợp pháp, làm
căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia giao kết.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo Hợp đồng thì ông H được
cấp thẻ tín dụng có đầy đủ các điều khoản của hợp đồng, gồm mức tín dụng, mục
đích vay, thỏa thuận lãi suất, phương thức thanh toán là chủ thẻ sẽ chịu trách nhiệm
thanh toán tổng số tiền đến hạn và hoặc trước ngày đến hạn như được nêu trong kế
hoạch thanh toán gửi cho chủ thẻ từ khi giao kết, theo thỏa thuận tại Điều 9 Bản Điều
khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thì “…việc vi
phạm ở bất kỳ một khoản cấp tín dụng nào sẽ được xem như là vi phạm ở tất cả
khoản cấp tín dụng khác. Khi đó, Sacombank có quyền chấm dứt và tiến hành thu
hồi nợ đối với tất cả các khoản cấp tín dụng của chủ thẻ chính tại Sacombank dù đến
hạn hay chưa đến hạn.…”. Do đó, có cơ sở xác định giữa Ngân hàng và ông H có
ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng, hạn mức tín dụng là
50.000.000đồng. Quá trình sử dụng thẻ, ông H đã không thanh toán nợ đúng hạn
cho Ngân hàng theo kế hoạch thanh toán đã được thông báo trước đó và mặc dù đã
được Ngân hàng nhắc nhở nhiều lần sau đó. Việc ông H không thanh toán theo đúng
thỏa thuận trong Hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 9 của Bản điều
khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân, làm cho quyền lợi của
Ngân hàng bị xâm phạm. Theo mục 7 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành
và sử dụng thẻ tín dụng thì khi có vi phạm xảy ra Ngân hàng được quyền “…Tiến
hành các biện pháp cần thiết để thu hồi nợ …”, do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh
toán nên Ngân hàng khởi kiện để thu hồi nợ là có căn cứ. Căn cứ Điều 466 Bộ luật
Dân sự năm 2015, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ nên được Hội đồng
xét xử chấp nhận, buộc ông H có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng số nợ tính đến
ngày 30/7/2026 tổng cộng là 51.619.894đồng, bao gồm nợ gốc là 37.994.490đồng,
nợ lãi là 13.625.404đồng và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 31/7/2025
5
cho đến khi trả xong nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng là đúng quy định
pháp luật nên được chấp nhận.
[2.3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều
26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án. Buộc ông H phải chịu án phí theo quy định pháp luật, hoàn trả tiền tạm ứng
án phí cho Ngân hàng theo quy định.
[2.4] Về quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân
dân Khu vực 4 – Tây Ninh tham gia phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với nhận định
của Hội đồng xét xử và quy định pháp luật nên có căn cứ chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147,
Điều 188, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân
sự;
Căn cứ Điều 405, Điều 406, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 100, Điều 103 và Điều 107 Luật Các tổ chức tín dụng năm
2024;
Căn cứ khoản 3 Điều 5, Điều 6 “Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày
05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn một
số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về
trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án”;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Tài Lộc (tên gọi trước đây là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn
Thương Tín) đối với bị đơn ông Phạm Văn H về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
1.1 Buộc ông Phạm Văn H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Tài Lộc (tên gọi trước đây là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn
Thương Tín) số tiền nợ tính đến ngày 30/07/2026 tổng cộng là 51.619.894đồng (năm
mươi mốt triệu, sáu trăm mười chín nghìn, tám trăm chín mươi bốn đồng), bao gồm
nợ gốc là 37.994.490đồng (ba mươi bảy triệu, chín trăm chín mươi bốn nghìn, bốn
trăm chín mươi đồng) và nợ lãi là 13.625.404đồng (mười ba triệu, sáu trăm hai mươi
lăm nghìn, bốn trăm lẻ bốn đồng).
1.2 Kể từ ngày 31/7/2026, ông Phạm Văn H còn phải chịu lãi phát sinh cho Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Tài Lộc (tên gọi trước đây là Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Sài Gòn Thương Tín) theo thỏa thuận được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Tài Lộc (tên gọi trước đây là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn
Thương Tín) và ông Phạm Văn H theo “Đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử
6
dụng thẻ cá nhân ngày 25/10/2024 (có hiệu lực ngày 11/11/2024) và Bản Điều khoản
và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng” cho đến khi thực
hiện xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1 Tổng cộng là 2.580.995đồng (hai triệu, năm trăm tám mươi nghìn, chín trăm
chín mươi lăm đồng) do ông Phạm Văn H phải chịu toàn bộ.
2.2 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tài Lộc (tên gọi trước đây là Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín) không phải chịu án phí nên được hoàn
lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.200.576 đồng (một triệu, hai trăm nghìn, năm
trăm bảy mươi sáu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008332
ngày 20/04/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
3. Án xét xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong
hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của
pháp luật tố tụng dân sự.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền
yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định
tại các Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều 36 và Điều 72 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tây Ninh;
- VKSND.KV4 – Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu HS, lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa
Thái Thị Thanh Thúy
7
Thành viên Hội đồng xét xử
Dương Công Danh – Nguyễn Văn Cao
Thẩm phán - Chủ toạ phiên
tòa
Thái Thị Thanh Thúy
8
9
Thành viên Hội đồng xét xử
Dương Công Danh – Nguyễn Văn Cao
Thẩm phán - Chủ toạ phiên
tòa
Thái Thị Thanh Thúy
Nơi nhận:
-TAND tỉnh Long An.
-VKSND huyện Bến
Lức.
-THA huyện Bến Lức.
-Các đương sự.
-Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa
Thái Thị Thanh Thúy
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 100/2026/DS-ST Bản án số 100/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 100/2026/DS-ST Bản án số 100/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất