Bản án số 473/2026/DS-PT ngày 28/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 473/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 473/2026/DS-PT ngày 28/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 473/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 473/2026/DS-PT Bản án số 473/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 473/2026/DS-PT Bản án số 473/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 473/2026/DS-PT
Ngày 28 – 9 - 2026
“V/v Tranh chấp hợp đồng tín
dụng, hợp đồng thế chấp”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu;
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Quang và bà Nguyễn Thị Nhung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Thanh Thanh – Thư ký viên
Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Xuân Linh Byă – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk mở phiên
tòa xét xử phúc thẩm công khai trực tiếp vụ án dân sự thụ lý số: 265/2026/TLPT-
DS ngày 24 tháng 8 năm 2026 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế
chấp”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 21/2026/DS-ST ngày 18-6-2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 440/2026/QĐXXPT-DS ngày 08
tháng 9 năm 2026, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần B1. Địa chỉ: Số A Q,
phường T, tỉnh Nghệ An.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trương Xuân D - Chức
vụ: Chuyên viên Quan hệ khách hàng Ngân hàng Thương mại cố phần B -
Chi nhánh Đ. Địa chỉ: Số B T, phường B, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Trung K, sinh năm 1986 và bà Nguyễn Thị
Kiều L, sinh năm 1993. Cùng địa chỉ: Số B đường H, xã K (thị trấn B cũ),
tỉnh Đắk Lắk – Đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Công T1, sinh năm 1962 và bà Tống Thị L1, sinh năm
1963. Cùng địa chỉ: Thôn D, xã K, tỉnh Đắk Lắk – Đều vắng mặt.
2
Người đại diện theo ủy quyền của ông T1 và bà L1: Bà Nguyễn Thị
Thanh L2, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số A đường H, phường B, tỉnh Đắk Lắk –
Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ủy ban nhận dân xã K (thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của
UBND thị trấn B). Địa chỉ: Số I N, xã K, tỉnh Đắk Lắk – Có đơn xin xét xử
vắng mặt.
Do có kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Trung K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án
cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông
Trương Xuân D trình bày:
Ngày 24/01/2024, Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 (gọi tắt là Ngân
hàng) có ký kết với vợ chồng ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Kiều
L Hợp đồng tín dụng số 025/2024/HĐTD1/BacABank.470 và Khế ước nhận
nợ số 01-025/2024/KUNN1/BacABank.470 ngày 25/01/2024, theo đó Ngân
hàng đã cho ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Kiều L vay số tiền
3.600.000.000 đồng; Thời hạn vay 12 tháng, kể từ ngày 26/01/2024; Lãi
suất: áp dụng 03 tháng đầu tiên là 10.55%/năm, các tháng sau sẽ điều
chỉnh lãi theo quy định cuả Ngân hàng; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất
trong hạn; Mục đích sử dụng tiền vay: Bổ sung vốn kinh doanh buôn
chuyên nông sản.
Để bảo đảm cho khoản vay, Ngân hàng với ông Nguyễn Trung K và bà
Nguyễn Thị Kiều L đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số:
025/2024/HĐTC1/BacABank.470 ngày 24/01/2024, tài sản thế chấp là quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 1194 tờ bản đồ
số 2, diện tích: 291,4m
2
, Mục đích sử dụng: Đất đô thị 264m
2
, đất trồng
cây lâu năm 27,4m
2
; tại Thôn Q, xã K (thị trấn B cũ), tỉnh Đắk Lắk theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất (viết tắt là GCNQSDĐ) số CV 695918; Số vào sổ cấp
GCN: CH03553 do UBND huyện K, cấp ngày 26/8/2021 mang tên ông
Nguyễn Trung K.
Thực hiện hợp đồng: Số tiền giải ngân theo Hợp đồng tín dụng số
025/2024/HĐTD1/BacABank.470, ngày 25/01/2024 và Khế ước nhận nợ số
01-025/2024/KUNN1/BacABank.470 ngày 25/01/2024 là 3.600.000.000 đồng.
Khoản vay trên đã đến hạn thanh toán vào ngày 26/01/2025. Mặc dù, Ngân
hàng thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp gọi điện, nhắn
tin, mời lên Ngân hàng làm việc tạo điều kiện cho vay lại, tuy nhiên, ông
Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Kiều L vẫn không hợp tác, vi phạm
nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 18/6/2026 thì ông Nguyễn Trung K và bà
Nguyễn Thị Kiều L còn nợ của Ngân hàng số tiền là 4.420.880.118 đồng,
trong đó: Nợ gốc là 3.600.000.000 đồng, nợ lãi là 820.880.118 đồng.
3
Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông
Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Kiều L phải trả toàn bộ số tiền vay còn
nợ trên và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số
025/2024/HĐTD1/BacABank.470, ngày 25/01/2024 và Khế ước nhận nợ số
01-025/2024/KUNN1/BacABank.470 ngày 25/01/2024, kể từ ngày 19/6/2026
cho đến khi thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ.
Trường hợp ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Kiều L không thực
hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, đề nghị Tòa án giải quyết cho Ngân
hàng được quyền yêu cầu xử lý toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng
thế chấp Quyền sử dụng đất số: 025/2024/HĐTC1/BacABank.470 ngày
24/01/2024 đã ký kết giữa các bên để Ngân hàng thu hồi nợ.
* Tại bản tự khai ngày 11/12/2025 bị đơn ông Nguyễn Trung K trình
bày:
Ông K thừa nhận và đồng ý với ý kiến và yêu cầu khởi kiện của
Ngân hàng như đại diện của Ngân hàng trình bày, do gia đình làm ăn thua
lỗ nên không có khả năng trả nợ. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa
án buộc vợ chồng ông K bà L phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số
tiền tạm tính đến ngày 11/12/2025 là 4.123.328.089 đồng, trong đó tiền gốc
là 3.600.000.000 đồng, tiền lãi 523.328.089 đồng và tiếp tục tính lãi phát
sinh theo hợp đồng tín dụng kể từ ngày 12/12/2025 cho đến khi ông
Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Kiều L trả hết nợ cho Ngân hàng thì vợ
chồng ông K xin Ngân hàng cho thời gian 02 tháng kể từ ngày 11/12/2025
để có khả năng xoay sở nguồn tiền trả nợ. Trường hợp Ngân hàng không
đồng ý thì bị đơn xin đồng ý trả nợ cho Ngân hàng theo trình tự thủ tục
thi hành án dân sự
* Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện
hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh
L2 trình bày:
Thửa đất số 1194, tờ bản đồ số 2, diện tích 291,4m², tọa lạc tại thôn
Q, xã K (thị trấn B cũ), tỉnh Đắk Lắk (được thay đổi từ thửa đất số 340b;
và được cấp đổi từ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 292462 do
UBDN huyện K cấp ngày 30/5/2006) do ông Nguyễn Trung K dùng để thế
chấp để vay vốn ngân hàng hiện đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của
vợ chồng ông T1 và bà L1, (ông T1 và bà L1 là cha mẹ ruột của ông K).
Vào đầu tháng 6 năm 2021, do có nhu cầu vay vốn ngân hàng nên ông
T1 và bà L1 đã uỷ quyền cho ông K đứng tên vay vốn cho ông T1 và bà
L1 với số tiền 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng).
Sau đó, ông K có đề nghị vợ chồng ông T1 và bà L1 ra Văn phòng
công chứng để ký sang tên, nhưng ông T1 và bà L1 không biết là ký với
nội dung gì chỉ nghĩ là ký uỷ quyền để làm thủ tục vay vốn (sau này tìm
hiểu mới biết là ký hợp đồng tặng cho). Vì ông K là con ruột của ông T1
và bà L1, do tin tưởng nên ông K bảo ông T1 và bà L1 ký thì ông bà ký
mà không đọc nội dung.
Trước khi ký kết vào hợp đồng uỷ quyền cho ông K đứng tên vay
vốn, vợ chồng ông T1 và bà L1 và ông K có lập một Văn bản thoả thuận
4
nhờ ông K đứng tên hộ để vay vốn cho ông T1 và bà L1 số tiền
700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng). Đồng thời, ông K cam kết không
vay vượt quá số tiền 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng) và ngay sau
khi ông T1 và bà Liên hoàn T2 nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng thì ông K
phải làm thủ tục sang tên lại quyền sử dụng đất nói trên cho ông T1 và
bà L1.
Năm 2024 ông T1 và bà L1 đã trả đủ số tiền 700.000.000 đồng (bảy
trăm triệu đồng) và lãi suất cho ông K, nhưng ông K lấy nhiều lý do để
chưa chuyển quyền sử dụng đất nói trên lại cho ông T1 và bà L1.
Trên thực tế, ông T1 và bà L1 là người tạo lập, quản lý và sử dụng
thực tế, xây nhà ở ổn định, liên tục cho đến nay. Việc ký kết hợp đồng
này không xuất phát từ ý chí tặng cho thực sự, mà chỉ nhằm mục đích
làm thủ tục vay vốn ngân hàng cho ông T1 và bà L1. Việc đứng tên hộ
trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở chỉ mang tính chất tạm
thời, không phát sinh quyền sử dụng hay quyền định đoạt thửa đất, và ông
K cũng cam kết sẽ hoàn trả và phối hợp sang tên lại sau khi tất toán
khoản vay.
Như vậy, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nói trên là giao dịch
giả tạo, thuộc trường hợp vô hiệu được quy định tại điều 124 Bộ luật dân
sự 2015.
Sau đó, ông K tự ý thế chấp thửa đất để vay số tiền 3.600.000.000
đồng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần B1, hoàn toàn vượt quá phạm vi,
mục đích thỏa thuận, không được sự đồng ý của vợ chồng ông T1 và bà
L1.
Tại thời điểm ngân hàng ký kết hợp đồng thế chấp: Vợ chồng ông
T1 và bà L1 vẫn là người trực tiếp quản lý, chiếm hữu, sử dụng thực tế
nhà và đất; ông T1 và bà L1 không bàn giao tài sản cho ông K;
Ngân hàng không kiểm tra thực địa, không xác minh người đang sinh
sống trên đất, không làm việc với ông T1 và bà L1 là người có quyền lợi
liên quan.
Hiện nay, Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 khởi kiện ông Nguyễn
Trung K và yêu cầu xử lý chính thửa đất nêu trên để thu hồi nợ. Việc này
đã và đang xâm phạm trực tiếp, nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của ông T1 và bà L1, bởi:
Vợ chồng ông T1 và bà L1 không phải bên vay vốn, không bảo
lãnh, không hưởng lợi từ khoản vay; D1 đến vợ chồng ông T1 và bà L1
có nguy cơ mất nhà, mất đất, trong khi không có lỗi và không có nghĩa
vụ trả nợ.
Ngoài ra, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất không đáp ứng điều
kiện có hiệu lực:
Theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự chỉ có hiệu
lực khi: Chủ thể có quyền định đoạt hợp pháp; Ý chí tự nguyện; Mục
đích, nội dung không vi phạm pháp luật.
Nhưng ở đây, ông Nguyễn Trung K không có quyền định đoạt thực
sự đối với thửa đất do hợp đồng tặng cho vô hiệu. Do đó, Hợp đồng thế
5
chấp được xác lập trên cơ sở giao dịch vô hiệu cũng phải vô hiệu theo
Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Hơn nữa, Ngân hàng vi phạm nghĩa vụ thẩm định tài sản bảo đảm
theo Điều 10 Thông tư 39/2016/TT-NHNN, tổ chức tín dụng có trách
nhiệm thẩm định đầy đủ, chính xác tài sản bảo đảm trước khi cho vay.
Trong vụ việc này, ngân hàng: Không kiểm tra thực tế tình trạng sử dụng
tài sản; Không xác minh người đang sinh sống trên đất; Không yêu cầu
ông T1 và bà L1 – người có quyền lợi liên quan ký kết hoặc xác nhận.
Việc này dẫn đến việc xác lập hợp đồng thế chấp không đúng quy
định pháp luật, xâm phạm quyền lợi hợp pháp của ông T1 và bà L1.
Vì vậy, ông T1 và bà L1 không chấp nhận đối với yêu cầu xử lý tài
sản thế chấp của Ngân hàng trong trường hợp vợ chồng ông K và bà L
không trả được nợ.
Đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị Kiều L và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là UBND xã K, quá trình giải quyết vụ án tòa án đã tống đạt
hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập và nhiều văn bản tố
tụng khác cho các đương sự nêu trên biết để tham gia tố tụng nhưng đều
vắng mặt tại các buổi làm việc ở tòa án cũng như tại phiên tòa. Vì vậy,
tòa án không lấy được ý kiến của các đương sự có liên quan này.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 21/2026/DS-ST ngày 18/6/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk đã quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ
phần B1.
1. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Kiều L có
nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 số tiền tính đến ngày
18/6/2026 gồm nợ gốc là 3.600.000.000 đồng, nợ lãi là 820.880.118 đồng.
Tồng cộng là 4.420.880.118 đồng (Bốn tỷ, bốn trăm hai mươi triệu, tám
trăm tám mươi nghìn, một trăm mười tám đồng).
2. Vợ chồng ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Kiều L còn phải
tiếp tục chịu tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất
mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số
025/2024/HĐTD1/BacABank.470 và Khế ước nhận nợ số 01-
025/2024/KUNN1/BacABank.470 ngày 25/01/2024 được ký kết giữa Ngân
hàng Thương mại cổ phần B1 với ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị
Kiều L kể từ ngày 19/6/2026 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc
này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc
điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì
lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho
vay theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự
điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3. Trong trường hợp vợ chồng ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn
Thị Kiều L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ
thì Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế
chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số:
025/2024/HĐTC1/BacABank.470 ngày 24/01/2024, tài sản thế chấp là quyền
6
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 1194 tờ bản đồ
số 2, diện tích: 291,4m
2
, Mục đích sử dụng: Đất đô thị 264m
2
, đất trồng
cây lâu năm 27,4 m
2
; tại Thôn Q, xã K (thị trấn B cũ), tỉnh Đắk Lắk theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số CV 695918; Số vào sổ cấp GCN: CH03553 do UBND
huyện K, cấp ngày 26/8/2021 mang tên ông Nguyễn Trung K.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng
để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của vợ chồng ông Nguyễn Trung K và bà
Nguyễn Thị Kiều L cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B1. Trường hợp nếu
số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết
khoản nợ thì vợ chồng ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Kiều L vẫn
phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ
phần B1.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, án
phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
- Ngày 02/7/2026, bị đơn ông Nguyễn Trung K có đơn kháng cáo với
nội dung: Kháng cáo toàn bộ nội dung Bản án 21/2026/DS-ST ngày 18-6-
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đắk Lắk.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Người kháng cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
và vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông T1, bà L1 và người đại diện theo ủy quyền của ông T1, bà L1 có đơn xin xét
xử vắng mặt. Đại diện của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của Ngân
hàng Thương mại cổ phần B1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm: Về tố
tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố
tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung, sau khi
phân tích các nội dung liên quan đến yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử
căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo và
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến các
bên đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bị đơn kháng cáo trong thời hạn quy định là kháng cáo hợp lệ
được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Đối với kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Trung K:
[2.1] Hợp đồng tín dụng số 025/2024/HĐTD1/BacABank.470 và Khế ước
nhận nợ số 01-025/2024/KUNN1/BacABank.470 ngày 25/01/2024 được kí kết
giữa Ngân hàng với vợ chồng ông K và bà L vào ngày 24/01/2024 trên cơ sở tự
7
nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, nên các hợp đồng này có hiệu lực
pháp luật ràng buộc về quyền và nghĩa vụ của các bên. Quá trình thực hiện hợp
đồng, vợ chồng ông K và bà L đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi
khi đến hạn thanh toán, đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng.
[2.2] Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 025/2024/HĐTC1
/BacABank.470 ngày 24/01/2024 để bảo đảm cho khoản vay của vợ chồng ông K
và bà L có nội dung: Trường hợp bên vay vốn và thế chấp không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng thế
chấp thì Ngân hàng được xử lý tài sản thế chấp đã được công chứng tại Văn phòng
C và được đăng ký giao dịch đảm bảo tại chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
huyện K (nay là khu vực K), phù hợp với Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày
19/3/2021 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm nên có hiệu lực pháp luật. Tòa án
cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp là
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 1194 tờ bản đồ số 2,
diện tích: 291,4m
2
, Mục đích sử dụng: Đất đô thị 264m
2
, đất trồng cây lâu năm
27,4 m
2
; tại Thôn Q, xã K (thị trấn B cũ), tỉnh Đắk Lắk theo GCNQSDĐ số CV
695918; Số vào sổ cấp GCN: CH03553 do UBND huyện K, cấp ngày 26/8/2021
mang tên ông Nguyễn Trung K là có căn cứ.
Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới
có giá trị pháp lý để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do
đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Bị đơn kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Trung K. Giữ
nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 21/2026/DS-ST ngày 18/6/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 5 – Đắk Lắk.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 227, Điều 228; Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 220, Điều 271
và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung
năm 2025;
Áp dụng khoản 1 Điều 299, Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân
sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa
đổi, bổ sung năm 2017; Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của
Chính phủ quy định thi hành Bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ; Các Điều 13,18 Thông tư số 39/2016/ TT-NHNN ngày 30/12/2016 của
Thống đốc Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Điều 6, khoản
8
2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí tòa án về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng
Thương mại cổ phần B1.
1. Buộc ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Kiều L trả cho Ngân
hàng Thương mại cổ phần B1 số tiền tính đến ngày 18/6/2026 gồm nợ gốc là
3.600.000.000 đồng (Ba tỉ sáu trăm triệu đồng), nợ lãi là 820.880.118 đồng (T3
trăm hai mươi triệu tám trăm tám mươi nghìn một trăm mười tám đồng). Tồng
cộng là 4.420.880.118 đồng (Bốn tỷ, bốn trăm hai mươi triệu, tám trăm
tám mươi nghìn, một trăm mười tám đồng).
2. Ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Kiều L còn phải tiếp tục
chịu tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các
bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số
025/2024/HĐTD1/BacABank.470 và Khế ước nhận nợ số 01-
025/2024/KUNN1/BacABank.470 ngày 25/01/2024 được ký kết giữa Ngân
hàng Thương mại cổ phần B1 với ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị
Kiều L kể từ ngày 19/6/2026 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc
này.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc
điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì
lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho
vay theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự
điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3. Trường hợp vợ chồng ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Kiều L
không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân
hàng Thương mại cổ phần B1 được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp
theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số:
025/2024/HĐTC1/BacABank.470 ngày 24/01/2024, tài sản thế chấp là quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 1194 tờ bản đồ
số 2, diện tích: 291,4m
2
, Mục đích sử dụng: Đất đô thị 264m
2
, đất trồng
cây lâu năm 27,4 m
2
; tại Thôn Q, xã K (thị trấn B cũ), tỉnh Đắk Lắk theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số CV 695918; Số vào sổ cấp GCN: CH03553 do UBND
huyện K, cấp ngày 26/8/2021 mang tên ông Nguyễn Trung K.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng
để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị
Kiều L cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B1. Trường hợp nếu số tiền thu
được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì
ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Kiều L vẫn phải có nghĩa vụ trả hết
khoản nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B1.
3. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Kiều L
có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 2.000.000 đồng
(Hai triệu đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
4. Về án phí:
9
4.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Kiều L phải chịu 112.421.000
đồng (Một trăm mười hai triệu, bốn trăm hai mươi mốt nghìn đồng) án phí
Dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho Ngân hàng B1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là
55.139.396 đồng (Năm mươi lăm triệu, một trăm ba mươi chín nghìn, ba
trăm chín mươi sáu đồng) đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk
theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002847, ngày
20/10/2025.
4.2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Bị đơn phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Dân sự
phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000521 ngày 10 tháng 7 năm
2026 tại Thi hành án Dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Vụ giám đốc, kiểm tra II-TANDTC;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 5 - Đắk Lắk (2);
- Phòng THADS khu vực 5 - Đắk Lắk
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký và đóng dấu)
Nguyễn Thị Hải Âu
10
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 473/2026/DS-PT Bản án số 473/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 473/2026/DS-PT Bản án số 473/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất