Bản án số 10/DSPT ngày 02/03/2021 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
  • Bản án số 10/DSPT

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 10/DSPT

Tên Bản án: Bản án số 10/DSPT ngày 02/03/2021 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Phúc
Số hiệu: 10/DSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/03/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên Trung D và Đỗ Thị M tranh chấp đặt cọc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số:10/2021/DS-PT
Ngày 02/3/2021
V/v:“Tranh chấp Hợp đồng
đặt cọc”
CỘNG HOÀ XÃ HI CHỦ NGHĨA VIT NAM
Độc lập T do Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Vũ Văn Mạnh.
Các Thẩm phán: ông Đỗ Anh Cường và bà Lê Thị Bích Ngọc.
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị Thu Trang - Thư Toà án nhân dân
tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc: ông Phùng Ngọc
Tuấn - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 02 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 75/2020/TLPT-DS ngày 13
tháng 11m 2020 về việc “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án n sự thẩm số 05/2020/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2020
của Tòa án nhânn huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc bkng cáo, kng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 04/2021/QĐ-PT ngày
11 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: anh Nguyn Trung D, sinh năm 1982; địa chỉ: phòng 404,
tòa nhà 11T1, chung Vinaconex, phường LB, thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc,
có mặt.
2. Bị đơn: Đỗ Thị M, sinh năm 1963; địa chỉ: tổ dân phố LQ, thị trấn
GK, huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bđơn (theo văn bản y quyền ngày
13/02/2019): ông Nguyễn Quang Tr, sinh năm 1954; địa chỉ: tổ dân phố LQ, thị
trấn GK, huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
3. Người làm chứng: anh Lưu Minh H, sinh năm 1980; địa chỉ: khu đô thị
Chùa H, đường Thanh Ng, phường LB, thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng
mặt.
- Chị Trần Thị Thúy Nga, sinh năm 1986; địa chỉ: Phú T, huyện VT,
tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
4. Người kháng cáo: bà Đỗ Thị M – Bị đơn
5. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Vĩnh Phúc.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 01 năm 2019, nội dung bản án thẩm
c li khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn anh Nguyễn Trung D trình bày:
Do mối quan hệ quen biết và được ông Lương Quang Kh giới thiệu có
thửa đất lâm nghiệp muốn chuyển nhượng nên ngày 03 tháng 5 năm 2011, anh
và vợ chồng ông Lương Quang Kh, bà Đỗ Thị M thỏa thuận ký kết hợp đồng đặt
cọc để chuyển nợng 6.860,2 m
2
đất m nghiệp thuộc quyền sử dụng của vợ
chồng ông Kh, M tại Văn phòng Công chứng Anh Minh, địa chỉ tại số 131
đường Trần Quốc Tuấn, phường NQ, thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc.
Theo nội dung hợp đồng, hai bên thỏa thuận đặt cọc tiền để chuyển
nhượng tài sản thửa đất m nghiệp tại địa chỉ: Đồi Phúc Hòa, thôn LQ, Thị
trấn GK, huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc diện tích 6.860,2 m
2
(Chi tiết thửa đất
theo biên bản kiểm tra hiện trạng đất ngày 22 tháng 10 m 2010 của U ban
nhân dân thị trấn GK, huyện BX). G cả chuyển nhượng được hai bên thỏa
thuận là 87461đ/01m
2
(600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng). Theo đó anh đã
đặt cọc số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) cho vợ chồng ông Lương
Quang Kh bà Đỗ Thị M, số tiền còn lại anh sẽ trả cho vchồng ông Kh,
M khi hai bên hoàn tất thủ tục chuyn nhượng sang tên quyền sử dụng đất cho
anh theo quy định. Nếu anh vi phạm thì mất số tiền đặt cọc; nếu M, ông Kh
từ chối không thực hiện giao kết hoặc thực hiện chuyển nhượng thì phải trả số
tiền đặt cọc và bồi thường gấp ba lần giá trị đặt cọc.
Ngày 22 tháng 7 năm 2011, ông Lương Quang Kh bà Đỗ Thị M đã
được U ban nhân dân huyện BX cấp giấy chứng nhận quyn sử dụng đất số
BE509524, thửa đất số 7A, tờ bản đồ số 01, diện tích 6.860,2 m
2
tại địa chỉ: Đồi
Phúc Hòa, thôn LQ, thị trấn GK, huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi biết vợ
chồng ông Kh M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh đã
nhiều lần gặp đề nghị ông Kh, M thực hiện nghĩa vụ chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho anh, tuy nhiên ông Kh và bà M đã không thực hiện nghĩa
vụ chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho anh như đã thỏa thuận tại
Điều 1 của hợp đồng đặt cọc.
Ngày 20 tháng 02 năm 2017, ông Lương Quang Kh chết. Ngày 28 tháng
02 năm 2017, Ủy ban nhân dân huyện BX cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử
dụng thửa đất trên cho v chồng ông Kh, M (Số phát hành GCN:
CH469064/CS02175) với diện tích 6.804,1m
2
. Ngày 22 tháng 01 m 2018,
Đỗ Thị M (vợ ông Kh) nhận thừa kế thửa đất trên được y ban nhân dân
huyện BX cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Số phát hành CL337959).
Đến nay anh đã nhiều lần vào gặp và đề nghị bà M thực hiện việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất nhưng M cố tình trốn tránh không thực hiện các
thỏa thuận đã kết theo hợp đồng đặt cọc. vậy anh làm đơn đề nghị Tòa án
nhân dân huyện BX giải quyết: Buộc Đỗ Thị M phải thực hiện nghĩa vụ
chuyển nhượng cho anh thửa đất lâm nghiệp diện tích 6.860,2m
2
theo hợp đồng
3
đặt cọc hai bên đã kết ngày 03 tháng 5 năm 2011 tại Văn phòng công chứng
Anh Minh. Trong trường hợp M không thực hiện nghĩa vụ nêu trên, đề nghị
Tòa án buộc Đỗ Thị M nghĩa vụ trả lại anh số tiền anh đã đặt cọc
300.000.000 đồng, đồng thời bồi thường cho anh gấp ba lần giá trị tài sản anh đã
đặt cọc số tiền là 900.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh 9%/ năm là 216.000.000
đồng. Tổng cộng là 1.416.000.000 đồng.
Theo lời khai của bị đơn (ngày 23 tháng 7 năm 2019), lời trình y của
đại diện theo ủy quyền của bị đơn tại Tòa án (ngày 12 tháng 3 năm 2019): bà Đỗ
Thị M cho rằng bản thân không biết vviệc đặt cọc giữa vợ chồng anh
Nguyễn Trung D; bà không thừa nhận việc mình đã ký kết vào hợp đồng đặt cọc
ngày 03 tháng 5 năm 2011 tại Văn phòng công chứng Anh Minh cũng không
được nhận số tiền đặt cọc 300.000.000 đồng của anh Nguyn Trung D, ngoài
ra còn cho rằng nguyên đơn đã giả mạo chữ của mình. vậy, bị đơn
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện đòi lại số tiền đặt cọc 300.000.000 đồng
và không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với
yêu cầu tính lãi 9%/ năm số tiền 216.000.000 đồng. Chyêu cu phía bị đơn phải
trả lại số tiền đặt cọc 300.000.000 đồng và bồi thường số tiền 900.000.000 đồng.
Tổng cộng là 1.200.000.000 đồng.
Tòa án thẩm đã trưng cầu giám định xác định chữ của Đỗ Thị M
trong hợp đồng đặt cọc. Kết luận giám định của Viện khoa học Hình sự - Bộ
Công an kết luận đúng chữ ký của bà M trong hợp đồng.
Tại Bản án dân sthẩm số 05/2020/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2020
của Tòa án nhân dân huyện BX đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 122, 125, 358, 425, 427 Bộ luật Dân sự m 2005;
Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự m 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban thường vQuốc hội ván phí, lphí
Tòa án. Xử:
Hủy hợp đồng đặt cọc ký kết ngày 03 tháng 5 năm 2011 giữa nguyên đơn
anh Nguyễn Trung D và bị đơn bà Đỗ Thị M.
Buộc Đỗ Thị M phải nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Trung D tổng số
tiền 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng). Trong đó: Số tiền đặt
cọc 300.000.000 (Ba trăm triệu đồng), stiền phạt cọc 900.000.000 đồng
(Chín trăm triệu đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mc lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Về án phí dân sự thẩm: nguyên đơn anh Nguyễn Trung D không phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại anh Nguyễn Trung D số tiền tạm ứng án
4
phí đã nộp 27.240.000 đồng (Hai mươi bảy triệu hai trăm bốn mươi nghìn
đồng) theo biên lai thu tiền số: AA/2017/0003291 ngày 29 tháng 01 năm 2019
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc.
Bị đơn Đỗ Thị M phải nộp 48.000.000 đồng (Bốn mươi tám triệu
đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 26 tháng 5 năm 2020, bị đơn Đỗ Thị M
kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét thời hiệu khởi kiện của
nguyên đơn; tính chất pháp của hợp đồng đặt cọc giữa Đỗ Thị M ông
Nguyễn Trung D; biên bản giao nhận tiền đặt cọc giữa ông Lương Quang Kh (đã
chết) và ông Nguyễn Trung D.
Tại Quyết định kháng nghị số: 854/QĐKNPT-VKS-DS ngày 15 tháng 6
m 2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã kháng
nghị Bản án số 05/2020/DS-ST ngày 14/5/2020 của a án nhân n huyn BX đề
nghị hủy bản án sơ thẩm do Tòa cấp sơ thẩm có các vi phạm sau:
- Không đưa những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia
tố tụng trong vụ án, cụ thể: tại thời điểm tranh chấp, ông Kh đã chết. Việc giải
quyết yêu cầu khởi kiện của anh D sẽ phát sinh việc thực hiện quyền, nghĩa vụ
về tài sản do ông Kh để lại. Do vậy, các con của ông Kh bà M là những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải tham gia tố tụng trong vụ án. Tòa án cấp
thẩm không đưa họ vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Vi phạm trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ, cụ thể: Quyn sử dụng
6.860m
2
đất rừng sản xuất liên quan đến tranh chấp được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho hộ ông Kh M. Nhưng Tòa án chưa làm tại thời
điểm được Nhà nước giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ gia
đình ông Kh bà M còn có thành viên nào khác hay không để đưa vào tham gia tố
tụng.
Xem xét nội dung của hợp đồng đặt cọc không có chỗ nào ghi nhận anh D
đã chuyển tiền đặt cọc cho ông Kh M. Quá trình giải quyết vụ án, M cho
rằng không biết về hợp đồng đặt cọc không thừa nhận đã cùng ông Kh
nhận 300.000.000đồng từ anh D. Tòa án đã tiến hành giám định chữ của bà
M trong hợp đồng đặt cọc làm cơ sở kết luận bà M đã ký hợp đồng là có căn cứ;
tuy nhiên anh D không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào khẳng định việc ông
Kh M đã nhận số tiền đặt cọc. Tòa án chỉ căn cứ vào lời khai của người m
cán bộ Văn phòng công chứng cho rằng thấy anh D đưa tiền cho ông Kh
M (nhưng không biết số tiền bao nhiêu) để khẳng định anh D đã đưa tiền cho
ông Kh bà M; từ đó buộc M phải trả lại số tiền nhận đặt cọc và chịu nghĩa vụ
phạt cọc như vậy không có cơ sở vững chắc.
- Vi phạm trong việc quyết định vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương
sự, cụ thể: Theo đơn khởi kiện lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, anh
5
D đề nghị Tòa án buộc bà M phải thực hiện hợp đồng đặt cọc, tiếp tục thực hiện
thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh; trường hợp bà M không thực
hiện thì yêu cầu Tòa án buộc phải trả lại tiền đặt cọc đã nhận chịu phạt cọc.
Anh D, bà M đều không yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng đặt cọc. Tuy nhiên,
phần quyết định của bản án thẩm đã tuyên “Hủy hợp đồng đặt cọc kết
ngày 03/5/2011 giữa nguyên đơn anh Nguyễn Trung D với bị đơn Đỗ Thị
M”. Như vậy vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự, vi phạm khoản 1
Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên a phúc thẩm: nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề
nghcủa mình. Đại diện cho bđơn ginguyên yêu cầu kháng cáo đề nghhủy án
thẩm không xuất trình thêmi liệu, chứng cứ mới.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu
quan điểm về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết tại phiên
tòa, Thẩm phán, Thư Tòa án Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng trình tự
thủ tục tố tụng dân sự, nguyên đơn, bị đơn những người tham gia tố tụng
khác đã chấp hành đúng quy định của pháp luật từ khi thụ vụ án cho đến khi
đưa vụ án ra xét xử.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; áp dụng
khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, hủy bản án thẩm số 05/2020/DS-ST
ngày 14/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện BX chuyển hồ vụ án cho Tòa
án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm
sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Xét kháng cáo của Đỗ Thị M và kháng nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Hội đồng xét xử thấy:
[1.1] Về kháng cáo của bà Đỗ Thị M không đồng ý bản án thẩm, đề
nghị cấp phúc thẩm xem xét thời hiệu khởi kiện của nguyên đơn; tính chất pháp lý
của hợp đồng đặt cọc giữa Đỗ Thị M ông Nguyễn Trung D; biên bản giao
nhận tiền đặt cọc giữa ông Lương Quang Kh (đã chết)ông Nguyễn Trung D.
Về thời hiệu khởi kiện vụ án đại diện theo y quyền của bà M M
cho rằng: hợp đồng đặt cọc nêu ông Dũng phải nộp tiền còn lại cho ông bà khi
ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (năm 2011), nhưng anh D
không đưa tiền. Năm 2017, ông Kh chết anh D mới nói cho gia đình biết, trong
khi thời hiệu khởi kiện theo 03 năm như vậy ông Dũng khởi kiện khi
quá thời hiệu khởi kiện.
Hội đồng xét xử thấy: trong hợp đồng ghi anh D phải nộp tiền còn lại cho
ông bà khi ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm hợp
đồng chuyển nhượng đất cho anh D (không nbà M người đại diện cho bà
6
trình bày). đây anh D đã yêu cầu thực hiện nhưng ông Kh không làm
hợp đồng chuyn nhượng đất. Hơn nữa, tại Điều 2 của Hợp đồng đặt cọc quy
định: “Thời hạn đặt cọc kể từ ngày văn bản được công chứng đến khi hai bên
thực hiện xong việc chuyển nhượng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất”. Như vậy, hai bên đã thỏa thuận thời điểm kết thúc của hợp đồng đặt cọc
ngày hai bên thực hiện xong nghĩa vchuyển nhượng nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất. Sau khi M, ông Kh được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, mặc anh D đã yêu cầu nhiều lần nhưng vợ chồng ông Kh M
không thực hiện nghĩa vụ chuyển nhượng. Căn cứ vào Điều 427 Bộ luật Dân sự
m 2005 quy định thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự “…02
m kể từ ngày quyền lợi ích hợp pháp của của nhân,…bị xâm phạm”.
Như vậy, phía bị đơn cho rằng hợp đồng được ký kết giữa hai bên ngày 03 tháng
5 năm 2011 nay mới khởi kiện đã hết thời hiệu khởi kiện không căn cứ
và không được hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với đề nghị xem xét tính pháp của hợp đồng đặt cọc, Hội đồng xét
xử thấy: Về hình thức của hợp đồng đặt cọc ngày 03/5/2011 được lập thành văn
bản, công chứng. Tại thời điểm giao dịch, các bên tham gia giao dịch đầy
đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự hoàn toàn tự nguyện phù
hợp với quy định của pháp luật. Về nội dung của hợp đồng đặt cọc ngày
03/5/2011, các bên thỏa thuận: số tiền đặt cọc 300.000.000 đồng, thời hạn đặt
cọc kể từ khi hợp đồng được công chứng cho đến khi bên nhận đặt cọc thực hiện
xong nghĩa vụ chuyn nhượng thửa đất trên cho bên đặt cọc….
Việc M cho rằng không biết, không ký kết hợp đồng đặt cọc với anh D
cũng kng nhận của anh D số tiền đặt cọc 300.000.000đồng và cho rằng anh D giả
mạo ch ca trong hợp đồng đặt cọc. Hội đồng t xử thấy: tòa án cấp
thẩm đã trưng cầu giám định, giám định chữ , chữ viết của Đỗ ThM trong
hợp đồng đặt cọc. Ngày 20/11/2019, Viện khoa học hình sự - Bộ ng an đã kết
luận chviết, ch trong hợp đồng đặt cọc cnh chviết, của Đỗ Th
M. Ngoài ra, việc giao nhận tiền đặt cọc được thực hiện tại n riêng của ông Kh
M, khi giao nhn tiền có mặt ông Kh M, vợ chồng anh D schng kiến
của chTrần ThTy Nga, nhân văn phòng ng chứng Anh Minh. Như vậy,
hợp đồng đặt cọc trên đảm bảo theo quy định của pháp luật.
[1.2] Về kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh
Phúc vsai sót của Tòa án cấp thẩm trong việc không đưa những người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các con của ông Kh, M vào tham gia tố tụng
trong vụ án; sai sót về thu thập, đánh giá chứng cứ quyết định vượt qyêu
cầu khởi kiện của đương sự, Hội đồng xét xử thấy:
Về việc không đưa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố
tụng trong vụ án và xác minh nguồn gốc đất: quan hệ tranh chấp trong vụ án này
chỉ giải quyết về hợp đồng đặt cọc, phát sinh trực tiếp từ việc thỏa thuận giữa
7
anh D với ông Kh, M. Do ông Kh chết, nên bà M vợ người đại diện,
M phải nghĩa vụ thực hiện quyền nghĩa vụ cho ông Kh đlại, vchồng
phải nghĩa vụ về tài sản phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận
xác lập. Do đó, trong vụ án này chỉ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của giữa bà
Đỗ Thị M ông Nguyễn Trung D (là các bên trực tiếp thỏa thuận đặt cọc
ngày 03/5/2011). Các con của ông Mai, Kh không tham gia kết việc đặt
cọc không nghĩa vụ trong việc đặt cọc, phạt cọc. do đây vụ án tranh
chấp về đặt cọc, để bảo đảm giao kết và thực hiện hợp đồng, không phải là quan
hệ tranh chấp đất đai hay hợp đồng chuyển nhượng đất …nên tòa án không cần
xác minh nguồn gốc đất cấp cho ai để đưa họ vào tham gia tố tụng. Mặt khác, vụ
án này chưa phát sinh quyền, nghĩa vụ của những người có quyền thừa kế di sản
của ông Lương Quang Kh. Do vậy, Tòa án cấp thẩm không đưa các con của
ông Kh, bà M vào tham gia tố tụng là đúng và đảm bảo đầy đủ người tham gia tố
tụng trong vụ án.
Về nội dung kháng nghị: căn cứ Tòa án cấp thẩm buộc M phải tr
lại số tiền nhận đặt cọc chịu nghĩa vphạt cọc không sở vững chắc:
Hội đồng xét xử thấy tại Hợp đồng đặt cọc ngày 03/5/2011 đã thể hiện Bằng
hợp đồng này bên B (anh D) đặt cọc cho bên A (ông Kh, M) số tiền
300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) …”. Trong hợp đồng này còn nêu “số tiền
còn lại bên B sẽ chuyển hết cho bên A sau khi bên A nhận được giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và làm hợp đồng cho bên B theo quy định của Pháp luật”; …
Sau khi bên A làm xong thủ tục làm giấy chứng nhận QSD đất đứng tên bên B
thì bên B phải tH toán hết số tiền còn lại cho bên A”(BL 112, 113). Những
thỏa thuận được ghi nhận trên thể hiện rõ bên B đã đặt cọc số tiền 300.000.000đ;
các bên còn thỏa thuận số tiền “còn lại” sẽ tH toán cho bên A, càng thể hiện bên
B đã tH toán tiền đặt cọc cho bên A. Quá trình giải quyết vụ án, M cho rằng
không biết về hợp đồng đặt cọc và không thừa nhận đã cùng ông Kh nhận
300.000.000đồng từ anh D. Tòa án đã tiến hành giám định chữ của M
trong hợp đồng đặt cọc và kết luận đúng chữ ký của bà M. Mặt khác, căn cứ vào
lời khai của ông Nguyễn Văn B, nguyên chủ tịch Ủy ban nhân dân GK thể
hiện: khi ông m chủ tịch y ban nhân dân GK, ông Kh, anh D đến trình
y về việc hai bên sẽ chuyển nhượng 6.860,2m
2
đất đồi rừng của ông Kh, bà M
cho ông D, trong đó đặt cọc 300.000.000đ (BL 98); lời khai của chị Trần Thị
Thúy Ng (nhân viên Văn phòng công chứng tiếp nhận yêu cầu công chứng, trực
tiếp gặp gỡ các đương sự, soạn thảo hợp đồng đặt cọc khai xác nhận: vào
ngày hợp đồng, khi chị đến nhà ông Kh, M, chị nhìn thấy anh D đưa
tiền cho ông Kh, M (BL 127); điều này phù hợp với lời khai của anh D luôn
khẳng định mình đã đưa tiền đặt cọc cho ông Kh, M. Với những căn cứ trên,
Hội đồng xét xử thấy tòa án cấp sơ thẩm xác định anh D đã đặt cọc cho bà M,
8
ông Kh số tiền 300.000.000đ và buộc bà M phải trả lại số tiền nhận đặt cọc, phạt
cọc là đúng và có cơ sở vững chắc.
Về kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát tỉnh Vĩnh Phúc về việc tòa
án thẩm quyết định vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự: Theo đơn khởi
kiện lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, anh D đề nghị Tòa án buộc
M phải thực hiện hợp đồng đặt cọc, tiếp tục thực hiện thtục chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho anh; trường hợp M không thực hiện thì yêu cầu Tòa
án buộc phải trả lại tiền đặt cọc đã nhận chịu phạt cọc. Anh D, M đều
không yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng đặt cọc. Tuy nhiên, phần quyết định
của bản án sơ thẩm đã tuyên “Hủy hợp đồng đặt cọc ký kết ngày 03/5/2011 giữa
nguyên đơn anh Nguyễn Trung D với bị đơn bà Đỗ Thị M”. Hội đồng xét xử
phúc thẩm thấy: yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn trong vụ án ràng nhưng
cấp sơ thẩm tuyên hủy hợp đồng đặt cọc như vậy không đúng quy định của
pháp luật. Các bên kết hợp đồng đặt cọc để đảm bảo sẽ cam kết thực hiện
những nội dung thỏa thuận tiếp theo, nếu không thực hiện đúng thì các bên
quyền yêu cầu xử tiền đặt cọc, phạt cọc. Do vậy, Tòa án chỉ cần xử trách
nhiệm theo thỏa thuận đặt cọc hoặc theo pháp luật đủ, không tuyên hủy
hợp đồng đặt cọc. Nội dung kháng nghị này của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Vĩnh Phúc căn cứ, tuy nhiên cấp phúc thẩm chỉ cần sửa cách
tuyên trong bản án thẩm (không tuyên hủy hợp đồng đặt cọc), Tòa án cấp
thẩm cần rút nghiêmc kinh nghiệm.
Như phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp
đề nghị hủy án thẩm theo như kháng ngh của Viện trưởng viện kiểm sát nhân
dân dân tỉnh Vĩnh Phúc cũng như kháng cáo của Đỗ Thị M. Tòa án cấp phúc
thẩm chỉ cần sửa một phần án sơ thẩm (bỏ phần tuyên Hủy hợp đồng đặt cọc), rút
kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm là có căn cứphù hợp.
[2]. Về án phí dân sự thẩm phúc thẩm: anh D không phải chịu án
phí được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp. M phải chịu 48.000.000
đồng (Bốn mươi tám triệu đồng) tiền án phí dân sự thẩm 300.000 đồng
(Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Sửa một phần cách tuyên của Bản án n sự sơ thẩm số 05/2020/DS-ST
ngày 14 tháng 5 năm 2020, của Tòa án nhân n huyện BX, tỉnh Vĩnh Pc.
Căn cứ vào các Điều 121, 122, 358, 427 Bộ luật Dân sự m 2005; Điều
357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc Đỗ Thị M phải nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Trung D tổng số
tiền 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng). Trong đó: Số tiền đặt
9
cọc 300.000.000 (Ba trăm triệu đồng), stiền phạt cọc 900.000.000 đồng
(Chín trăm triệu đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mc lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí dân sự: anh Nguyễn Trung D không phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm. Hoàn trả lại anh Nguyễn Trung D số tiền tạm ứng án phí đã nộp
27.240.000 đồng (Hai mươi bảy triu hai trăm bốn mươi nghìn đồng) theo biên
lai thu tiền số: AA/2017/0003291 ngày 29 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đỗ Thị M phải chịu 48.000.000 đồng (Bốn mươi tám triệu đồng) tiền
án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự
phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Phúc thẩm đã nộp theo
biên lai số AA/2017/0006198, ngày 02 tháng 6 m 2020. Đỗ Thị M còn
phải nộp 48.000.000 đồng (Bốn mươi tám triệu đồng) tiền án phí dân sự
thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
- TAND huyện BX;
- Chi cục THADS huyện BX;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
(đã ký)
Vũ Văn Mạnh
Tải về
Bản án số 10/DSPT Bản án số 10/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất