Bản án số 09/2026/HC-PT ngày 03/09/2026 của TAND tỉnh Thanh Hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 09/2026/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 09/2026/HC-PT ngày 03/09/2026 của TAND tỉnh Thanh Hóa
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thanh Hóa
Số hiệu: 09/2026/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/09/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Lê Hữu T1 - Ủy ban nhân dân xã T "“ Khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 09/2026/HC-PT Bản án số 09/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 09/2026/HC-PT Bản án số 09/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 09/2026/HC-PT
Ngày 03 tháng 9 năm 2026
V/v “ Khởi kiện quyết định
hành chính trong lĩnh vực quản
lý đất đai”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Lâm
Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Anh
Bà Lê Thị Phương Thanh
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thắng - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Đinh Thị Mai T - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ số 14/2026/TLPT-HC ngày
17/8/2026 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất
đai”, do kháng cáo của người khởi kiện ông Hữu T1 đối với Bản án hành
chính sơ thẩm số: 04/2026/HC-ST ngày 30/6/2026 của Toà án nhân dân khu vực
9 Thanh Hoá. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2026/QĐXXPT-HC
ngày 19/8/2026, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Lê Hữu T1, sinh năm: 1969. Có mặt
CCCD số: ************
Địa chỉ: Thôn L, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn G, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồng T2 - chức vụ: Chủ tịch. Vắng
mặt(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1.Lê Thị H, sinh năm 1972. Có mặt
Địa chỉ: Thôn L, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
2. Chi nhánh văn phòng Đ
Địa chỉ: TDP T, phường T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Khương Văn D - chức vụ: Giám đốc
chi nhánh. Vắng mặt(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ông Lê Hữu T1 trình bày:
Ngày 04/8/2023, UBND thị N ban nh Quyết định số 4977/QĐ-
UBND về việc thu hồi đất của gia đình tôi - Hữu T1, cụ thể là thửa đất số 62,
tờ bản đồ s1 (Máng trích đo dự án), diện tích nguyên thửa 1.379,8m
2
trong đó
855,8m
2
đất ở: 380,0m
2
đất trồng cây lâu năm cùng thửa đất có nhà ở hình thành
trước ngày 18/12/1980: 86,1m
2
đất chuyên trồng a nước sử dụng trước ngày
01/7/2004 và 57,9m
2
đất trồng cây lâu năm khác có nguồn gốc đất giao thông
(ngõ). Không đồng ý với nội dung xác định nguồn gốc, mục đích sử dụng đất,
loại đất, tôi đã đơn khiếu nại Quyết định số 4977 nêu trên, đề nghị chủ tịch
UBND thị N xác định diện tích còn lại 524m
2
được bồi thường là đất sử
dụng trước ngày 18/12/1080. Ngày 22/7/2024, chủ tịch UBND thị N ban
hành Quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) số 5537/QĐ-UBND. Theo đó,
không chấp nhận bồi thường diện tích 524m
2
thuộc một phần thửa đất số 62, tờ
bản đồ số 1 đất sdụng từ trước ngày 18/12/1980. Tuy nhiên, hộ ông
Hữu T1 được bồi thường, hỗ trợ thêm diện tích 144,2m
2
đất ở, 62,3m
2
đất vườn
cùng thửa đất ở không được công nhận là đất trước ngày 18/12/1980; 317,5m
2
đất nông nghiệp trồng lúa sử dụng trước ngày 01/7/2004. Tôi không đồng ý với
một phần nội dung Quyết định thu hồi số 4977/QĐ-UBND một phần Quyết
định giải quyết khiếu nại số 5537/QĐ-UBND, bởi những lý do sau:
Về nguồn gốc, quá trình sử dụng: Thửa đất số 62, tờ bản đồ số 1 có nguồn
gốc tôi nhận thừa kế của bố mẹ tôi là cụ Lê Hữu T3 và cụ Cao Thị N; là đất ở có
nhà ở hình thành từ trước ngày 18/12/1980. Thửa đất này là nguyên thửa, không
bị chia ch. Gia đình tôi sử dụng ổn định liên tục từ trước năm 1980 đến nay
vào mục đích để ở, sinh hoạt, xây dựng chuồng trại chăn nuôi, trồng rau xanh.
Quá trình sử dụng, gia đình tôi không có tranh chấp với bất kỳ ai và đã được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1994 cho hộ ông Lê Hữu T3 (bố tôi).
- Về hồ sơ địa chính:
+ Tại quyết định giải quyết khiếu nại số 5537/-UBND thể hiện rõ:
Năm 1994, hộ ông Hữu T3 được UBND huyện T (nay là UBND thị N)
cấp GCNQSDĐ tại Quyết định số 17QĐ/UBTG ngày 07/01/1994; trong đó thể
hiện tổng diện tích đất kinh tế phụ 1.593,0 m (200m
2
đất thổ (T)
1.393m
2
đất kinh tế phụ).
+ Bản đồ địa chính (Bản đồ pháp lý) năm 1998 thể hiện thửa đất ở, đất
vườn (đất kinh phụ) thửa số 37, diện tích 1.160 m
2
, mục mang tên
Hữu T1.
+ Bản đồ hiện trạng năm 2011 xã T đo vẽ thể hiện: thuộc thửa đất số 41,
tờ bản đồ số 106, diện tích 1.464,1m
2
, loại đất ở nông thôn (ONT), mục kê mang
tên Hữu T1. Đối chiếu bản đồ pháp năm 1998 bản đồ hiện trạng năm
2011 cho thấy, hình thể, tứ cận, ranh giới của thửa đất không thay đổi, việc
sự chênh lệch về diện tích do sai số trong quá trình đo đạc của hai thời kỳ
khác nhau. Hội đồng xác định nguồn gốc đất UBND T cán bộ thôn qua
các thời kỳ làm việc với Đoàn xác minh ngày 05/7/2024 được thể hiện trong
3
Quyết định giải quyết khiếu nại cũng xác định: Việc diện tích chênh lệch tăng
của Bản đồ năm 2011 so với Bản đồ năm 1998 là do việc đo đạc thửa đất trên có
sự sai lệch thiếu chính xác về ranh giới thửa đất và kthuật đo vẽ trước đây thô
sơ, thiếu chính xác; nguồn gốc đất thực tế được gia đình sử dụng ổn định, liên
tục từ trước đến nay, không tranh chấp, không lấn chiếm, không thay đổi so với
thời điểm bắt đầu sử dụng vào mục đích đất ở.
Hội nghị ngày 05/7/2024 cũng xác định: Diện tích đất ở, đất vườn (kinh
tế phụ) đã cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Hữu T3 năm 1994 1.593,0m
2
.
Để đảm bảo quyền lợi cho hgia đình theo quy định pháp luật; Hội nghị thống
nhất xác định phần ranh giới thửa đất, diện tích đất nguồn gốc, thời điểm sử
dụng từ trước ngày 18/12/1980 vào mục đích đất ở, đất vườn ao của hộ gia đình
đó là: Toàn bộ thửa số 41, TBĐ số 106, diện tích 1.464,1m
2
, mục kê Lê Hữu T1.
N1 đi o nhà ông Hữu T1 nguồn gốc trong khuôn viên thửa đất gia
đình sử dụng để làm ngõ đi từ trước ngày 18/12/1980, không có hộ gia đình nào
đi chung ngõ này. Ngõ này không phải là đường giao thông của xã, thôn. Căn cứ
các tài liệu, chứng cứ nêu trên, hoàn toàn căn cứ khẳng định, phần diện tích
1.379,8m
2
thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 1 của gia đình tôi bị thu hồi đất
ở, đất vườn ao cùng thửa với đất có nhà được hình thành trước ngày
18/12/1980.
- Về cơ sở pháp lý.
* Điều 103 Luật đất đai năm 2013 quy định:
“Điều 103. Xác định diện tích đất đối với trường hợp vườn, ao: 1.
Đất vườn, ao của hộ gia đình, nhân được xác định đất phải trong cùng
một thửa đất đang có nhà ở.
2. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày
18 tháng 12 năm 1980 người đang sử dụng một trong các loại giấy tờ về
quyền sử dụng đất quy dịnh tại các khoản 1, 2 3 Điều 100 của Luật này thì
diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó. Trường hợp trong các loại giấy tờ
về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 3 Điều 100 của Luật này
chưa c định diện tích đất thì diện tích đất được công nhận không phải
nộp tiền sử dụng đất được xác định bằng không quá 05 lần hạn mức giao đất
quy định tại khoản 2 Điều 143 và khoản 4 Điều 144 của Luật này.”
5. Đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại
Điều 100 của Luật này đất đã sử dụng n định từ trước ngày 15 tháng 10
năm 1993 thì diện tích đất được xác định theo mức quy định tại khoản 4 Điều
này; trường hợp đất đã sử dụng ổn định kể từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 t
diện tích đất được xác định theo mức đất ở giao cho mỗi hộ gia đình, nhân
quy định tại khoản 2 Điều 143 và khoản 4 Điều 144 của Luật này.
* Điều 138 Luật đất đai năm 2024 quy định:
"Điều 138. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài
sản gắn liền với đất đối với trường hợp hộ gia đình, nhân đang sử dụng đất
không giấy tờ về quyên sử dụng đất không vi phạm pháp luật đất đai,
không thuộc trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền Việc cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với
4
trường hợp hộ gia đình, nhân đang sử dụng đất ổn định mà không một
trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 137 của Luật này,
không thuộc trường hợp quy định tại Điều 139 Điêu 140 của Luật này được
thực hiện theo quy định như sau:
1. Hộ gia đình, nhân sử dụng đất trước ngày 18 tháng 12 năm 1980,
nay được Ủy ban nhân dân cấp nơi đất xác nhận không tranh chấp thì
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với
đất như sau:
a) Đối với thửa đất nhà ở, nhà công trình phục vụ đời sống nếu
diện tích thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở theo quy định tại
khoản 5 Điều 141 của Luật này thì diện tích đất được công nhận bằng hạn
mức công nhận đất ở và không phải nộp tiền sử dụng đất.
Trường hợp diện tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ
đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất quy định tại điểm này thì diện tích
đất được công nhận theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở, nhà công
trình phục vu đời sống người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện
tích vượt hạn mức công nhận đất ở tại điêm này;
b) Đối với thửa đất nhà ở, nhà công trình phục vụ đời sống nếu
diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất quy đinh tại khoản 5 Điều
141 của Luật này thì diện tích đất được xác định toàn bộ diện tích thửa đất
đó và không phải nộp tiên sử dụng đât; "
* Khoản 5 Điều 141 Luật đất đai năm 2024 quy định:
"Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ điều kiện, tập quán tại địa phương quy
định cụ thể hạn mức công nhận đất quy định tại khoản 1 khoản 2 Điêu này
đối với trường hợp sử dụng đất trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 và từ ngày 18
tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
* Điểm đ, Khoản 1 Điều 6 Quy định hạn mức đất kèm theo Quyết định
số 55/2024/QĐ-UBND ngày 09/9/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh T quy định:
1. Hạn mức công nhận đất đối với trường hợp sử dụng đất trước ngày
18 tháng 12 năm 1980 quy định tại khoản 1 Điều 141 Luật Đất đai năm 2024
như sau:
đ) Địa bàn xã miền núi: 2.000 m /hộ gia đình, cá nhân; "
* Điểm b, khoản 2 Điều 1 Quyết định Số: 4655/2017/QĐ-UBND ngày
04/12/2017 của UBND tỉnh T sửa đổi, bổ sung Quyết định số 4463/2014/QĐ-
UBND ngày 12/12/2014 quy định:
"Trường hợp đã sử dụng đất ổn định từ trước ngày 18/12/1980 thì diện
tích đất được c định theo thực tế đang sử dụng, nhưng không quá 05 lần
hạn mức giao đất quy định tại khoản 1, Điều 3 khoản 1, Điều 4 của quy
định này".
* Điểm c, khoản 1, Điều 4 Quyết định số 4463/2014/QĐ-UBND quy
định:
c) Đối với địa bàn xã miền núi.
- Tối đa 400 m
2
/hộ đối với các vị trí còn lại.
5
Căn cứ vào hồ địa chính qua các thời kỳ, quá trình sử dụng, xác nhận
của Hội đồng đăng đất đai T, các quy định nêu trên đầy đủ sở xác
định: Toàn bộ diện tích 1.379,8m
2
thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 1 tại xã T,
thị N đất ở, đất vườn ao cùng thửa đất nhà được hình thành trước
ngày 18/12/1980; phải được bồi thường đất được hình thành trước ngày
18/12/1980.
Quyết định số 4977/QĐ-UBND thu hồi, bồi thường hỗ trợ cho gia đình tôi
855,8m
2
đất 524m
2
đất không phải là đất ở Quyết định giải quyết khiếu nại
số 5537/QĐ-UBND bồi thường, h trợ thêm cho gia đình tôi 144,2m
2
đất
(tổng 1.000m
2
đất ở), 62,3m
2
đất vườn cùng thửa đất ở không được công nhận là
đất trước ngày 18/12/1980; 317,5m
2
đất nông nghiệp trồng lúa nước sử dụng
trước ngày 01/7/2004 không đúng quy định pháp luật, không đảm bảo cho
quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình tôi.
Yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa giải quyết:
- Hủy một phần Quyết định số 4977/QĐ-UBND ngày 04/8/2023 của Ủy
ban nhân dân thị xã N về việc thu hồi 380,0m
2
đất trồng cây lâu năm cùng thửa
đất nhà hình thành trước ngày 18/12/1980; 86,1m
2
đất chuyên trồng lúa
nước sử dụng trước ngày 01/7/2004 và 57,9m
2
đất trồng cây lâu năm khác
nguồn gốc đất giao thông (ngõ) của gia đình ông Hữu T1 tại T để thực
hiện dự án: Di dân, sắp xếp dân cư, tái định một số hộ dân thôn L, T, thị
xã N, Thanh Hóa (nay là thôn L, xã T, tỉnh Thanh Hóa)
- Hủy một phần Quyết định s 5537/QĐ-UBND ngày 22/7/2024 của
UBND thị N (nay chủ tịch UBND T) về việc giải quyết khiếu nại của
ông Lê Hữu T1, thôn L, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
- Buộc UBND thị N (nay UBND T) xác định toàn bộ diện tích
1.379,8m
2
thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 1 của gia đình ông Hữu T1 là
đất ở.
- Buộc UBND xã T ban hành quyết định sửa đổi Quyết định số 4930/QĐ-
UBND ngày 04/8/2023 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định
thec hướng bồi thường toàn bộ 1.379,8m
2
thuộc thưa đất số 62, tờ bản đồ số
1 của gia đình ôn Lê Hữu T1 là đất ở.
* Tại văn bản ý kiến số 1446/UBND-KT ngày 30/11/2025, Chủ tịch
UBND xã T, tỉnh Thanh Hóa trình bày:
1. Về hồ sơ quản lý qua các thời kỳ và giấy tờ về quyền sử dụng đất:
- Bản đồ 299, đo vẽ năm 1986: Thuộc thửa đất số 348, tờ bản đồ số 5,
diện tích 36 700 m
2
- đo bao, loại đất T (đất thổ cư).
- Bản đồ địa chính năm 1998: Thuộc tờ bản đồ số 9, thửa đất số 37, diện
tích 1160.0 m
2
loại đất T (thổ cư), mục kê ghi tên chủ sử dụng đất là Lê Hữu T1
và thửa 34, diện tích 50 m
2
, loại đất 2L, mang tên Lê Hữu T1.
- Bản đồ hiện trạng năm 2011: Thuộc tờ bản đồ số 106, gồm các thửa:
thửa 41, diện tích 1464.1 m
2
, loại đất ONT, mang tên Lê Hữu T1, một phần thửa
số 36, diện tích 1356.4 m
2
, loại đất ONT, mang tên Hữu C một phần thửa
6
số 31, diện tích 185.3 m
2
, loại đất BHK, mang tên Lê Hữu T1.
- Theo Mảnh trích đo địa chính khu đất số 05/TĐĐC-2022 do Công ty cổ
phần T4 đồ và xây dựng TDH thực hiện ngày 26/7/2022 và được Sở TNMT tỉnh
T phê duyệt ngày 29/7/2022: Thuộc thửa đất 62, tờ bản đồ 01, diện tích nguyên
thửa 1379.8 m
2
, diện tích thu hồi thực hiện dự án 1379.8 m
2
, loại đất ONT, mục
kê ghi tên ông Hữu T1.
- Giấy tờ về quyền sử dụng đất: Phần diện tích thuộc khuôn viên thửa đất
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/01/1994, mang tên
ông Lê Hữu T3 (là bố đẻ của ông T1), diện tích 348 m
2
: đất ở 200.0 m
2
, đất kinh
tế phụ 148 m
2
.
2. Nguồn gốc quá trình sử dụng đất đối với thửa đất ông Hữu T1
đang khởi kiện:
Theo Biên bản họp Hội đồng đăng ký đất đai xã T ngày 21/6/2023 về việc
xác định nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân có đất bị
thu hồi dự án Di dân, sắp xếp dân tái định một số hộ dân thôn L, T,
được giải tnh, bổ sung tại Công văn số 204/UBND của UBND xã T ngày
24/7/2023: Ông Hữu T1 đang sdụng tại thửa số 62, tờ bản đồ 01 nguồn
gốc nhận thừa kế từ hộ ông Lê Hữu T3 trong đó:
Có 1000 m
2
thuộc thửa đất có nhà ở trong khu dân cư hình thành từ trước
ngày 18/12/1980 của hộ ông Hữu T3 (là bố đẻ ông T1), đến khoảng 1997 thì
tặng cho ông T1, thời điểm tặng cho không lập hsơ, đến nay các bên thống
nhất toàn bộ diện tích thửa đất này thuộc quyền sdụng của ông T1 (Có biên
bản họp gia đình kèm theo). Gia đình sử dụng ổn định, liên tục, không tranh
chấp, ranh giới ràng (được xác định theo ranh giới bản đồ địa chính năm
1998). Năm 2018, hộ ông T1 tặng cho con trai Hữu L với diện tích 408.8
m
2
: đất ở 250 m
2
(được xác định theo ranh giới bản đồ địa chính năm 1998), đất
trồng cây lâu năm sử dụng trước ngày 01/7/2004 158.8 m
2
; Thời điểm tặng
cho không lập hồ sơ, đến nay các bên thống nhất toàn bộ diện tích thửa đất này
thuộc quyền sử dụng của ông L (Có biên bản họp gia đình kèm theo). Sau khi
đối chiếu bản đồ qua các thời kỳ hiện trạng sử dụng đất, hội nghị xét thấy:
Diện tích thể hiện trên hồ địa chính năm 1998 đối với thửa đất số 37 của hộ
ông Hữu T1 chưa chính xác. Diện tích hiện trạng (bao gồm đất ông T1
ông L) lớn hơn diện tích trên giấy chứng nhận quyền sdụng đất (902.0 m
2
)
do tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất hộ gia đình chưa kê
khai hết diện tích đất đang sử dụng. Diện tích hiện trạng (bao gồm đất ông T1
ông L) lớn hơn diện tích trên bản đồ địa chính năm 1998 (90.0 m
2
) do trong
quá trình sử dụng hộ ông T1 đã đổi đất với hộ ông C để thuận tiện trong quá
trình xây dựng tường rào đồng thời do bản đồ năm 1998 chưa thể hiện đúng diện
tích của hộ gia đình.
379.8 m
2
đất trồng cây lâu năm sử dụng trước ngày 01/7/2004. Từ
những sở nêu trên thửa đất của hộ ông Lê Hữu T1 đang sử dụng được công
nhận gồm các loại đất: đất ở 1000.0 m
2
; Đất trồng cây lâu năm không cùng thửa
7
đất sử dụng từ trước ngày 01/7/2004 379,8 m
2
. Vậy, Diện tích thu hồi
1.379,8 m
2
được xác định: Đất 1.000 m
2
, đất trồng cây lâu năm sdụng trước
ngày 01/7/2004 là 379,8 m
2
(Có Biên bản họp gia đình về việc phân chia hạn mức đất ở kèm theo).
3. Việc thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
để giải phóng mặt bằng:
Ngày 04/8/2023, UBND thị N ban hành Quyết định số 4977/QĐ-
UBND về việc thu hồi đất của ông Hữu T1 sử dụng tại T để thực hiện dự
án: Di dân, sắp xếp dân cư, tái định một số hộ dân thôn L, T, thị N,
theo đó: Thu hồi thửa đất số 62, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.379,8 m
2
, trong đó:
855,8 m
2
đất ở, 380,0 m
2
đất trồng cây lâu năm cùng thửa với thửa đất ở đang có
nhà ở, trong khu dân từ trước ngày 18/12/1980 không thuộc hạn mức công
nhận là đất ở, 86,1 m
2
đất chuyên trồng lúa nước sử dụng trước ngày 01/7/2004;
57,9 m
2
đất trồng cây lâu năm khác có nguồn gốc là đất giao thông (ngõ).
Ngày 04/8/2023, UBND thị N ban nh Quyết định số 4930/QĐ-
UBND về việc phê duyệt phương án và dự toán bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
để thực hiện Di dân, sắp xếp dân cư, tái định một số hộ dân thôn L, T, thị
N, tỉnh Thanh Hóa - đợt 6, theo đó hộ ông Hữu T1 được bồi thường, hỗ
trợ tổng số tiền là 4.001.253.500 đồng, trong đó: tiền đất 2.321.728.500 đồng, tài
sản 807.944.000 đồng, cây cối hoa màu 88.206.000 đồng, hỗ trợ về đất
783.375.000 đồng.
4. Việc giải quyết khiếu nại đối với hộ ông Lê Hữu T1:
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, Chủ tịch UBND thị N đã ban hành Quyết
định số 5537/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Hữu T1, thôn
L, T, thị N, theo đó xác định ông Hữu T1 khiếu nại được bồi thường
diện tích 524 m
2
thuộc một phần thửa đất số 62, tờ bản đồ số 1, loại đất s
dụng từ trước ngày 18/12/1980 là không có cơ sở. Tuy nhiên, hộ ông Lê Hữu T1
được bồi thường, hỗ trợ diện tích 144,2 m
2
đất ở, 62,3 đất vườn (trồng cây lâu
năm) cùng thửa đất không được công nhận đất trước ngày 18/12/1980
317,5 m2 đất nông nghiệp trồng lúa sử dụng trước ngày 01/7/2004.
5. Kết luận: Căn cứ hồ sơ địa chính; biên bản xác định nguồn gốc sử dụng
đất của UBND T (nay xã T) các tài liệu chứng cứ hiện có, UBND T
xác định:
- Diện tích 1.062,3 m
2
thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 01 do hộ ông
Hữu T1 sử dụng, được xác định nguồn gốc nhận tặng cho từ bố đẻ ông
Hữu T3. Thửa đất của ông Hữu T3, Cao Thị N (vợ ông Hữu T3 - đã
chết) thời điểm sử dụng vào mục đích đất vườn ao từ trước ngày
18/12/1980, được xác định gồm 2 thửa: thửa số 37, tờ bản đồ số 09, diện tích
1160 m
2
thửa sổ 33, thuộc tờ bản đồ số 9, diện tích 885 m
2
(Bản đồ năm
1998). Theo thỏa thuận của gia đình về việc phân chia hạn mức đất gồm: ông
Lê Hữu T1 1.000 m
2
, ông Lê Hữu C 750 m
2
, ông Lê Hữu L 250 m
2
phần diện tích
8
đất đất vườn của hộ ông T1 ông L (con trai ông T1). Do đó, diện tích
1.062,3 m
2
hộ ông T1 sử dụng được xác định: 1.000 m
2
đất 62,3 m
2
đất
vườn (trồng cây lâu năm) cùng thửa đất ở không được công nhận là đất ở.
- Diện tích 317,5 m
2
nguồn gốc đất nông nghiệp trồng lúa gia đình
sử dụng ổn định, liên tục trước ngày 01/7/2004, không tranh chấp, không lấn
chiếm, không thuộc quỹ đất công ích, đất thuê thầu, giao khoán do UBND
quản lý. Đối chiếu Điều 103 Luật đất đai; Điều 12 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP
ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Công văn số 5980/UBND-THKH ngày
29/4/2022 của UBND tỉnh T thì việc ông Hữu T1 đề nghị được bồi thường,
hỗ trợ diện tích 1379.8 m
2
thuộc thửa đất số 62, tbản đồ số 1, loại đất sử
dụng từ trước ngày 18/12/1980 là không có cơ sở.
* Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã Đ trình bày ý kiến:
Căn cứ vào Điều 5 Nghị định 151/2025/NĐ-CP của Chính phủ, Luật Tổ
chức chính quyền địa phương sửa đổi năm 2025, Điều 83 Luật Đất đai 2024 thì
thẩm quyền thu hồi đất: “.... Chủ tịch UBND cấp quyết định thu hồi đất đối
với người sử dụng đất là tổ chức, nhân đang quản lý, chiếm hữu đất để thực
hiện mục đích quốc phòng, an ninh để phát triển kinh tế - hội vì lợi ích
quốc gia, công cộng theo quy định tại Điều 78 Điều 79 Luật đất đai năm
2024”, về việc thực hiện thu hồi đất của ông Hữu T1 thuộc thẩm quyền giải
quyết của UBND xã T.
Căn cứ theo khoản 1 Điều XV, mục C, phần III, phụ lục I, Nghị định
151/2025/NĐ-CP của Chính Phủ: Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thực
hiện đăng ký biến động đất đai trên giấy chứng nhận đã cấp cho hộ gia đình ông
Hữu T1 theo Quyết định số 4977/QĐ-UBND ngày 04/8/2023 của UBND thị
xã N về việc thu hồi đất của ông Lê Hữu T1 sử dụng đất tại xã T để thực hiện dự
án: Di dân, sắp xết dân cư, tái định cư một số hộ dân thôn L, xã T, thị xã N (nay
T), tỉnh Thanh Hoa. Tuy nhiên, do hộ gia đình ông Hữu T1 đã đề nghị
UBND thị N về việc giải quyết khiếu nại đã được UBND thị N giải
quyết tại Quyết định số 5537/QĐ-UBND ngày 22/7/2024 của Chủ tịch UBND
thị xã N về việc giải quyết khiếu nại.
Nay, ông Hữu T1 tiếp tục đề nghị Toà án giải quyết vụ án hành chính
với các nội dung trên. Do đó, Chi nhánh Văn phòng Đ vẫn chưa thể thực hiện
đăng biến động đất đai theo Quyết định số 499/QĐ-UBND ngày 04/8/2023
của UBND thị xã N.
Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thị Đ trình bày quan điểm v
việc ông Hữu T1 khởi kiện đến Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa,
xem xét theo quy định của pháp luật.
* Tại văn bản ý kiến của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Thị
H trình bày: Về nguồn gốc, quá trình sử dụng, hồ địa chính thống nhất với ý
kến của người khởi kiện anh Hữu T1 đề nghị Tòa án, chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của ông Hữu T1, đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của
9
gia đình tôi.
Ngày 16/3/2026 Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với thửa
đất đang tranh chấp đối với thửa đất số 62, tbản đồ số 01, diện tích nguyên
thửa 1379.8m
2
Hồ sơ địa chính qua các thời kỳ:
- Bản đồ 299, đo vẽ năm 1986, thuộc thửa đất số 348, tờ bản đồ số 5 điện
tích 36.700m
2
- đo bao, loại đất T (thổ cư)
- Bản đồ địa chính năm 1998; thuộc tờ bản đồ số 9, thửa đất số 37, diện
tích 1160.0m
2
loại đất T (thổ cư), mục ghi tên chủ sở hữu đất ông Hữu
T1 1 phần thửa 34, diện tích 50m
2
, loại đất 2L mang tên ông Lê Hữu T1.
- Bản đhiện trạng năm 2011: Thuộc bản đồ số 106, gồm các thửa 41
diện tích 1464.1m
2
loại đất ONT, mang tên Hữu T1, một phần thửa số 36,
diện tích 1356.4m
2
, loại đất ONT, mang tên Hữu C một phần thửa đất số
31, diện tích 185.3m
2
, loại đất BHK, mang tên Lê Hữu T1.
* Ti Bản án hành chính thẩm s 04/2026/HC ST ngày 30/6/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Thanh Hoá đã quyết định:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 31; khoản 3, khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2
Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 6; các Điều
63; 66; 69; 74; 75; 79; 95; 96; 98; 100 Điều 103 Luật đất đai năm 2013, sữa
đổi bổ sung năm 2024; điểm a khoản 5 Điều 24 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP
ngày 15/5/2014; Điều 12 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính Phủ; Điều 17; khoản 1 Điều 18 Luật khiếu nại tố cáo năm 2011.
Tuyên xử: Bác toàn bộ đơn khởi kiện của ông Hữu T1 yêu cầu Tòa án
giải quyết:
- Hủy một phần Quyết định số 4977/QĐ-UBND ngày 04/8/2023 của Ủy
ban nhân dân thị xã N về việc thu hồi 380,0m2 đất trồng cây lâu năm cùng thửa
đất nhà hình thành trước ngày 18/12/1980; 86,1m2 đất chuyên trồng lúa
nước sử dụng trước ngày 01/7/2004 57,9m2 đất trồng cây lâu năm khác
nguồn gốc đất giao thông (ngõ) của gia đình ông Hữu T1 tại T để thực
hiện dự án: Di dân, sắp xếp dân cư, tái định một số hộ dân thôn L, T, thị
xã N, Thanh Hóa (nay là thôn L, xã T, tỉnh Thanh Hóa)
- Hủy một phần Quyết định số 5537/QĐ-UBND ngày 22/7/2024 của
UBND thị N (nay chủ tịch UBND T) về việc giải quyết khiếu nại của
ông Lê Hữu T1, thôn L, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
- Buộc UBND thị N (nay UBND T) xác định toàn bộ diện tích
1.379,8m
2
thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 1 của gia đình ông Hữu T1
đất ở.
- Buộc UBND xã T ban hành quyết định sửa đổi Quyết định số 4930/QĐ-
UBND ngày 04/8/2023 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định
10
theo hướng bồi thường toàn bộ 1.379,8m
2
thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số
1 của gia đình ông Lê Hữu T1 là đất ở.
Ngoài ra, Toà án khu vc còn quyết định v án phí thông báo quyn
kháng cáo theo quy định ca pháp lut.
Sau khi xét x thẩm, ngày 06/7/2026 người khi kin ông Hu T1
có đơn kháng cáo đ ngh Toà án cp phúc thm sa Bản án sơ thẩm theo hướng
chp nhn toàn b yêu cu khi kin ca ông.
Ti phiên toà phúc thm: Người khi kin ông Lê Hu T1 vn gi
nguyên nôi dng khi kin và ni dung kháng cáo.
* Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết ván
theo thủ tục phúc thẩm, Thẩm phán Chủ toạ phiên toà, Thư phiên toà
những người tham gia tố tụng khác đã chấp hành đúng theo quy định của pháp
luật. Đơn kháng cáo trong hạn luật định, nên được chấp nhận để xem xét theo
thủ tục xét xử phúc thẩm.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 241 Luật
Tố tụng hành chính: Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Hữu T1, giữ
nguyên quyết định của Bản án hành chính thẩm s: 04/2026/HC-ST ngày
30/6/2026 ca Toà án nhân dân khu vc 9 Thanh Hoá.
Về án phí: Ông Lê Hữu T1 phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên toà căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử
phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Hữu T1 nộp trong thời
hạn đúng với quy đinh tại Điều 205, Điều 206 Luật Tổ tụng hành chính nên
hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Hội đồng xét xử thẩm xác định đối tượng khởi kiện, thời hiệu
khởi kiện, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết là đúng quy định tại khoản 1
Điều 31 khoản 2, 4 Điều 32; khoản 1 Điều 115; điểm a khoản 2 Điều 116
Luật Tổ tụng hành chính.
[1.3] Về việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, mặt người
khởi kiện ông Hữu T1, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị H;
đại diện người bị kiện UBND T, đại diện Chi nhánh Văn phòng Đ vắng mặt
do(Có đơn xin xét xử vắng mặt). Căn cứ Điều 225 Luật Tổ tụng hành
chính, Tòa án vẫn tiền hành xét xử vắng mặt những người này.
[1.4] Về xác định tư cách người bị kiện:
Ngày 31/01/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 49/CP về phân cấp,
phân quyền, phân định thẩm quyền trong lĩnh vực đất đai, quy định:
11
“Điều 14. Phân cấp thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện
trong lĩnh vực đất đai
1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thẩm quyền quyết định về thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử
dụng đất, điều chỉnh thời hạn sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất, chuyển hình
thức sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất, chấp thuận về việc thỏa thuận
nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án, chấp thuận, phê duyệt phương án
sử dụng đất.
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Nghị quyết
số 190/2025/QH15 của Quốc hội về xử một số vấn đề liên quan đến sắp xếp
tổ chức bộ máy nhà nước và tình hình thực tế của địa phương, Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh quyết định việc phân cấp, ủy quyền cho quan, người thẩm quyền
thực hiện đối với các nhiệm vụ quy định tại khoản này cho phù hợp.
….
3. Các trường hợp đang thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, điều chỉnh
thời hạn sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất, chuyển hình thức sdụng đất, công
nhận quyền sử dụng đất, chấp thuận về việc thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất
để thực hiện dự án, chấp thuận, phê duyệt phương án sử dụng đất, cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, c nhận
thay đổi trên giấy chứng nhận đã cấp, đính chính, thu hồi, hủy giấy chứng nhận
đã cấp, xác định lại diện tích đất trước ngày Nghị định này hiệu lực thi
hành thì y ban nhân dân cấp tỉnh quyết định áp dụng thực hiện theo quy định
tại khoản 1 khoản 2 Điều này hoặc tiếp tục giao cho quan, người có thẩm
quyền đang giải quyết tiếp tục thực hiện”.
Tuy nhiên, ngày 14 tháng 3 năm 2026, UBND tỉnh T ban hành Quyết
định số 19/2026/QĐ-UBND về việc phân cấp, y quyền thẩm quyền thực hiện
một số nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh trong lĩnh vực đất
đai trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có nội dung:
“Điều 1. Phân cấp cho Chủ tịch y ban nhân dân cấp thực hiện một
số nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh trong lĩnh vực đất đai
trên địa bàn tỉnh
1. Quyết định thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định đối với
từng dự án quy định tại điểm c khoản 2 Điều 86 Luật Đất đai năm 2024.
2. Ban hành Thông báo thu hồi đất quy định tại điểm a khoản 2 Điều 87
Luật Đất đai năm 2024.
3. Ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc quy định tại điểm đ khoản 2
Điều 87 Luật Đất đai năm 2024.
4. Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định quy
định tại điểm c khoản 3 Điều 87 Luật Đất đai năm 2024.
……”.
Do đó Chủ tịch UBND cấp xã thẩm quyền như trên, vậy xác định
Chủ tịch UBND T, tỉnh Thanh Hoá người bị kiện. Tòa án cấp thẩm đã
12
xác định người bị kiện UBND T, tỉnh Thanh Hóa không chính xác, cần
rút kinh nghiệm.
[2 ] Xét kháng cáo Bản án thẩm của người khởi kiện ông Hữu T1,
thấy:
[2.1] Xét yêu cầu của ông Hữu T1 về việc hủy Quyết định thu hồi đất
số 4977/QĐ-UBND ngày 04/8/2023 của Ủy ban nhân dân thị N; sửa Quyết
định số 4930/QĐ-UBND ngày 04/8/2023 về việc phê duyệt phương án bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư.
* Về Hồ sơ địa chính qua các thời kỳ:
- Bản đồ 299, đo vẽ năm 1986: Thuộc thửa đất số 348, tờ bản đồ số 5,
diện tích 36 700 m
2
- đo bao, loại đất T (đất thổ cư);
- Bản đồ địa chính năm 1998: Thuộc tờ bản đồ số 9, thửa đất số 37, diện
tích 1160.0 m
2
loại đất T (thổ cư), mục kê ghi tên chủ sử dụng đất là Lê Hữu T1
và thửa 34, diện tích 50 m
2
, loại đất 2L, mang tên Lê Hữu T1.
- Bản đồ hiện trạng năm 2011: Thuộc tờ bản đồ số 106, gồm các thửa:
thửa 41, diện tích 1464.1 m
2
, loại đất ONT, mang tên Lê Hữu T1, một phần thửa
số 36, diện tích 1356.4 m
2
, loại đất ONT, mang tên Hữu C một phần thửa
số 31, diện tích 185.3 m
2
, loại đất BHK, mang tên Lê Hữu T1.
- Theo Mảnh trích đo địa chính khu đất số 05/TĐĐC-2022 do Công ty cổ
phần T4 đồ và xây dựng TDH thực hiện ngày 26/7/2022 và được Sở TNMT tỉnh
T phê duyệt ngày 29/7/2022: Thuộc thửa đất 62, tờ bản đồ 01, diện tích nguyên
thửa 1379.8 m
2
, diện tích thu hồi thực hiện dự án 1379.8 m
2
, loại đất ONT, mục
kê ghi tên ông Hữu T1.
* Về nguồn gốc đất: Thửa đất ông Hữu T1 đang khiếu kiện
nguồn gốc của hộ ông Hữu T3, Cao Thị N(Bố mẹ đẻ ông Hữu T1),
được UBND huyện T(nay UBND T) cấp Giấy CNQSD đất năm 1994,
trong đó thể hiện tổng diện tích đất 1.593,0m
2
(200m
2
đất thổ (T)
1.393m
2
đất kinh tế phụ). Trong đó, 1000m
2
thuộc thửa đất nhà trong
khu dân cư hình thành từ trước ngày 18/12/1980 của hộ ông Hữu T3(là bố đẻ
ông T1); đến khoảng 1997 thì tặng cho ông T1, thời điểm tặng cho không lập hồ
sơ, đến nay các bên thống nhất toàn bộ diện tích thửa đất này thuộc quyền sử
dụng của ông T1(Có biên bản họp gia đình kèm theo). Gia đình sử dụng ổn định,
liên tục, không tranh chấp, có ranh giới rõ ràng(được xác định theo ranh giới bản
đồ địa chính năm 1998). Theo thỏa thuận của gia đình về việc phân chia hạn
mức đất gồm: ông Hữu T1 1.000m
2
, ông Hữu C 750m
2
, ông Hữu L
250m
2
phần diện tích đất đất vườn của hộ ông T1 ông L (con trai ông
T1).
Theo Biên bản họp Hội đồng đăng ký đất đai xã T ngày 21/6/2023 về việc
xác định nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân có đất bị
thu hồi dự án Di dân, sắp xếp dân tái định một số hộ dân thôn L, T
tại Công văn số 204/UBND của UBND T ngày 24/7/2023: Ông Hữu T1
13
đang sử dụng tại thửa số 62, tờ bản đồ 01 nguồn gốc nhận thừa kế từ hộ ông
Hữu T3 trong đó: Diện tích đất ở, đất vườn (kinh tế phụ) đã cấp giấy chứng
nhận QSD đất cho hộ ông Hữu T3 năm 1994 là 1.593,0m
2
chênh lệch nhiều
hơn diện tích đất được thể hiện trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất T năm
2011 128,9m
2
bản đồ địa chính đất T năm 1998 433,0m
2
. Diện tích
đất theo hiện trạng sử dụng hiện nay tại thửa đất số 62, diện tích 1.379,8m
2
vả
thửa đất số 75, diện tích 408,8m
2
tổng diện tích là 1.788,6m
2
. Điều này thể
hiện, quá trình sử dụng gia đình ông T1 đã lấn sang một phần thửa đất nông
nghiệp.
Năm 2018, hộ ông T1 tặng cho con trai là Lê Hữu L với diện tích
408.8m
2
: đất ở 250m
2
(được xác định theo ranh giới bản đồ địa chính năm 1998),
đất trồng cây lâu năm sử dụng trước ngày 01/7/2004 là 158.8 m
2
.
* Đối với yêu cầu khởi kiện được bồi thường, hỗ trợ diện ch 1379.8m
2
thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 1, loại đất sử dụng từ trước ngày
18/12/1980: Căn cứ hồ địa chính; biên bản xác định nguồn gốc sdụng đất
của UBND xã T (nay là T) các tài liệu chứng cứ hiện có, UBND xã T xác
định: Diện tích 1.062,3 m2 thuộc thửa đất số 62, tờ bản đsố 01 do hộ ông
Hữu T1 sử dụng, được xác định: 1.000m
2
đất 62,3m
2
đất vườn(trồng cây
lâu năm) cùng thửa đất ở không được công nhận là đất ở.
Đối với diện tích 317,5m
2
nguồn gốc là đất nông nghiệp trồng lúa gia
đình ông T1 sử dụng ổn định, liên tục trước ngày 01/7/2004, không tranh chấp,
không lấn chiếm, không thuộc quỹ đất công ích, đất thuê thầu, giao khoán do
UBND quản lý. Đối chiếu Điều 103 Luật đất đai; Điều 12 Nghị định số
47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Công văn số 5980/UBND-
THKH ngày 29/4/2022 của UBND tỉnh T tviệc ông Hữu T1 đề nghị được
bồi thường, hỗ trợ diện tích 1379.8m
2
thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 1, loại
đất ở sử dụng từ trước ngày 18/12/1980 là không có cơ sở. Do đó, Tòa án cấp sơ
thẩm đã bác yêu cầu khởi kiện của ông Hữu T1 về việc hủy các quyết định
thu hồi đất nêu trên là đúng quy định của pháp luật.
[2.2] Đối với yêu cầu Hủy một phần Quyết định số 5537/QĐ-UBND
ngày 22/7/2024 của UBND thị N (nay là chủ tịch UBND T) về việc giải
quyết khiếu nại của ông Lê Hữu T1, thôn L, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
Từ những nhận định trên, không cơ sở chấp nhận kháng cáo của
người khởi kiện ông Lê Hữu T1.
[3] Từ những phân tích đánh giá nêu trên, Tòa án cấp thẩm đã bác
yêu cầu khởi kiện của ông Hữu T1 căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, ông T1
không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới để chứng minh nội dung kháng cáo
của mình, nên Hội đồng xét xử đồng tình với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa, không chấp nhận kháng cáo của
ông Hữu T1 giữ nguyên quyết định của bản án thẩm số: 04/2026/HC-
ST ngày 30/6/2026 của Toà án nhân dân khu vực 9 – Thanh Hoá.
14
[4] Về án phí HCPT: Kháng cáo của ông Lê Hữu T1 không được chấp nhận, nên
ông T1 phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
* Căn cứ: Khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH1 ngày 30/12/2016 của U ban thường v Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án. Xử:
1. Bác toàn bộ nội dung kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Hữu T1.
2. Giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính thẩm số:
04/2026/HC-ST ngày 30/6/2026 của Toà án nhân dân khu vực 9 – Thanh Hoá.
3. Ván phí phúc thẩm: Ông Hữu T1 phải chịu 300.000đồng án phí
hành chính phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp
theo Biên lai số 592 ngày 17/7/2026 tại Phòng THA DS khu vực 9 – Thanh Hoá.
Ông T1 đã nộp đủ tiền án phí hành chính phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vụ 4 TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Thanh Hóa;
- TA, VKS ND KV 9 Thanh Hoá;
- Phòng THADS KV 9 - Thanh Hóa;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Ngọc Lâm
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 09/2026/HC-PT Bản án số 09/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 09/2026/HC-PT Bản án số 09/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất