Bản án số 09/2023/HS-ST ngày 08/09/2023 của TAND huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 09/2023/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 09/2023/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 09/2023/HS-ST ngày 08/09/2023 của TAND huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Sơn Hà (TAND tỉnh Quảng Ngãi) |
| Số hiệu: | 09/2023/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 08/09/2023 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Đinh Văn Th1 phạm tội " Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN S Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 09/2023/HS-ST
Ngày 08-9-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mến.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Xuân Đầm.
2. Bà Nguyễn Thị Nguyệt.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Nhị - Thư ký Toà án nhân dân
huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S tham gia phiên toà: Đinh Thị
Hương - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện S xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 8
năm 2023, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-HS ngày 25/8/2023,
đối với bị cáo:
Đinh Văn Th1 (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 23/3/1999 tại tỉnh Quảng
Ngãi. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã S, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Nghề nghiệp: Nông; Quốc
tịch: Việt Nam; Dân tộc: Ca dong; Giới tính: Nam; Tôn Giáo: Không; Trình độ học
vấn: 12/12. Con ông Đinh Văn L, sinh năm 1974 và bà Đinh Thị H1, sinh năm 1977.
Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ 20 giờ 15 phút ngày 26/02/2023 đến 17 giờ 10 phút ngày
07/3/2023 có lệnh tạm giam, hiện bị cáo đang bị tam giam tại Nhà tạm giữ Công an
huyện S. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Bùi Thị Thuyết Anh - Là Trợ giúp viên pháp lý
thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
Bị hại:
1. Ông Đinh Văn Th2, sinh năm 1999.
Nơi cư trú: Thôn D, xã S, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn xin xét xử vắng
mặt.
2. Ông Đinh Văn Tr, sinh năm 1974.
Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn xin xét xử vắng
mặt.
3. Ông Đinh Văn Nh, sinh năm 1999.
2
Nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. NLQ1, sinh năm 2003.
Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
2. NLQ2, sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
3. NLQ3, sinh năm 1983.
Nơi cư trú: Thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
Người phiên dịch: Bà Đinh Thị H2 - Cán bộ hưu trí thị trấn D. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Năm 2022, Đinh Văn Th1 thuê phòng ở trọ gần khu công nghiệp Visip thuộc xã
T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi để đi làm công nhân tại khu Công nghiệp này. Vì không
có tiền tiêu xài nên ngày 10/10/2022 Th1 đã vay của một người đàn ông tên S (Th1
gặp S tại quán cà phê tại khu công nghiệp, không xác định được nhân thân lai lịch, địa
chỉ cụ thể) số tiền 25.000.000đồng trong thời gian hai tháng, với lãi suất là
600.000đồng/01 tháng. Sau đó, nhiều lần Th1 mang số tiền trả nợ gốc và lãi cho S
nhưng S nói vẫn chưa trả đủ; S nhiều lần điện thoại cho Th1 bằng nhiều số thuê bao
khác nhau (Th1 không nhớ những số thuê bao điện thoại này) để đòi nợ, đe dọa; do
không có tiền để trả nợ theo yêu cầu của S nên Th1 nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt
tài sản (xe mô tô) của người khác để bán lấy tiền trả nợ. Để thực hiện ý định Th1 đã
nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể như
sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 11 giờ ngày 25/02/2023, Th1 đến thuê phòng nghỉ tại nhà
nghỉ Th (ở tổ dân phố G, thị trấn Di, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi), Th1 sử dụng điện
thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, có số thuê bao 0867.442.490 của Th1
gọi cho Đinh Văn Th2 (là bạn của Th1) nói dối với Th2 là xe của Th1 bị hư đang sửa
ở thị trấn D, huyện S nhưng không có tiền lấy nên hỏi Th2 mượn xe để đi đến thị trấn
M, huyện K, tỉnh Kon Tum lấy tiền trả tiền sửa xe. Là bạn bè với nhau nên Th2 tin
tưởng, không nghi ngờ gì mà đồng ý cho Th1 mượn xe để đi lấy tiền trả tiền xe. Th2
điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn Xám xanh bạc đen,
biển kiểm soát 76M1-240.07 đến nhà nghỉ Th gặp Th1. Tại đây, Th1 bảo Th2 đưa
thêm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và giấy chứng minh nhân dân của Th2 để
mang theo vì đi xa sợ Cảnh sát giao thông kiểm tra giữ xe. Nghe Th1 nói vậy, Th2 đưa
giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và giấy chứng minh nhân dân của mình cho Th1
mang đi, còn Th2 ở tại nhà nghỉ Th đợi Th1 mang xe về trả. Tuy nói với Th2 là đi lấy
tiền nhưng mục đích của Th1 là đi đến gặp A H (bạn của Th1) ở thị trấn M, huyện K,
tỉnh Kon Tum để trả số tiền nợ 2.000.000đồng cho A H do Th1 đã mượn trước đó rồi
về lại thị trấn D để cầm cố chiếc xe của Th2 lấy tiền trả nợ cho S.
3
Trên đường đi thì A H hẹn gặp Th1 tại xã S, huyện S1 để lấy tiền. Sau khi trả
tiền cho A H xong, Th1 điều khiển xe đi về đến cửa hàng bán giày dép Đ (ở thị trấn D)
gặp hỏi NLQ2 (là chủ cửa hàng) để cầm cố chiếc xe biển kiểm soát 76M1-240.07; lúc
này NLQ2 nói với Th1 “ chị không có làm dịch vụ cầm cố tài sản” Th1 nói “em cần
tiền để gửi cho em đang học ở Thành phố Hồ Chí Minh”; nghe vậy, NLQ2 nói với
Th1 “nếu vậy chị cầm giúp em rồi mấy ngày sau em có tiền đến lấy lại xe thì chị cho
lấy xe rồi đưa cho chị vài chục ngàn”. Th1 đồng ý, NLQ2 bảo Th1 đưa giấy tờ có liên
quan đến chiếc xe để kiểm tra thì Th1 đưa Giấy đăng ký xe mô tô, chứng minh nhân
dân của Đinh Văn Th2, NLQ2 kiểm tra, đối chiếu Giấy đăng ký xe mô tô trùng với
biển số xe, chứng minh nhân dân trùng với tên Đinh Văn Th2 nên NLQ2 đồng ý; Th1
viết giấy bán xe (nhưng với mục đích giao xe cho NLQ2 cầm giúp, ký tên người bán
là Đinh Văn Th2) cho NLQ2 với số tiền 10.000.000đồng và yêu cầu NLQ2 chuyển
tiền qua tài khoản của Th1 số 040097490701, Ngân hàng Sacombank mang tên Đinh
Văn Th1; NLQ2 thấy tên tài khoản Đinh Văn Th1 nên hỏi thì Th1 nói dối “ tài khoản
trên là của em Th1 đang học ở Thành phố Hồ Chí Minh, giờ chuyển tiền để nộp học
cho em”, NLQ2 không nghi ngờ gì và đã chuyển số tiền 10.000.000đồng vào số tài
khoản trên.
Lần thứ hai: Khoảng 14 giờ cùng ngày, Th1 tiếp tục sử dụng điện thoại nhãn
hiệu Samsung Galaxy A11, số thuê bao 0867.442.490 gọi điện cho NLQ1 (là bạn của
Th1) nói dối với NLQ1 là xe của Th1 bị hư đang sửa rồi hỏi mượn xe của NLQ1 để
làm phương tiện đi lại; NLQ1 nghe vậy tưởng Th1 nói thật nên lấy xe mô tô nhãn
hiệu: Yamaha, loại xe: Sirius, màu sơn: Đen Xám, biển kiểm soát 76M1-172.96 của
ông Đinh Văn Tr (ba vợ NLQ1) đi đến thị trấn D, huyện S đưa xe cho Th1 mượn; Th1
bảo NLQ1 đưa Giấy đăng ký xe mô tô trên, NLQ1 nói giấy đăng ký xe mô tô do ông
Tr đang giữ ở nhà, nên Th1 bảo NLQ1 chở Th1 về nhà gặp ông Tr để lấy giấy đăng ký
xe; sau khi lấy giấy đăng ký xe mô tô và chụp ảnh chứng minh nhân dân của ông Tr,
Th1 điều khiển xe này tiếp tục đến cửa hàng mua bán giày dép Đ và nói với NLQ2 là
“số tiền cầm xe lúc sáng không đủ để cho em đóng tiền học nên muốn bán xe” và bán
xe mô tô biển kiểm soát 76M1-172.96 (xe của ông Tr) với số tiền 7.000.000 đồng
(Bảy triệu đồng), nghe vậy NLQ2 đối chiếu kiểm tra thấy Giấy chứng nhận đăng ký xe
mô tô trùng với biển số xe, ảnh chụp chứng minh nhân dân trùng với tên Đinh Văn Tr,
nên NLQ1 đồng ý; Th1 viết giấy bán xe (ký tên người bán là Đinh Văn Th2), rồi
NLQ1 chuyển số tiền 6.000.000 đồng qua số tài khoản 040097490701 của Th1 và đưa
cho Th1 số tiền mặt là 1.000.000 đồng.
Lần thứ ba: Khoảng 17 giờ cùng ngày, với thủ đoạn như trên, Th1 tiếp tục sử
dụng điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, số thuê bao 0867.442.490 gọi điện
cho Đinh Văn Nh nói dối là Th1 đang sửa xe máy ở thị trấn D nhưng không có tiền
lấy, nên hỏi mượn xe máy của Nh đi về nhà lấy tiền ở xã S, huyện S để xuống trả tiền
sửa xe rồi sẽ trả lại xe cho Nh. Nghe Th1 nói vậy nên Nh tin tưởng đưa xe mô tô nhãn
hiệu: Honda, loại xe: Wave, màu sơn: Xám Đen, biển kiểm soát 76M1-268.94, Giấy
đăng ký xe và chứng minh nhân dân của Nh cho Th1. Sau đó, Th1 điều khiển xe mô
tô của Nh đến tiệm sửa xe máy của NLQ3 gặp NLQ1 và nói dối “đang cần tiền gấp
4
nên muốn bán xe” là xe mô tô biển kiểm soát 76M1-268.94 (xe của Nh); nghe vậy
NLQ3 đối chiếu kiểm tra thấy Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô trùng với biển số xe,
chứng minh nhân dân trùng với tên Đinh Văn Nh, nên NLQ1 đồng ý và đưa cho Th1 số
tiền 7.000.000đồng.
Đến sáng ngày 26/02/2023, Th1 đi nhờ xe xuống lại thị trấn D, huyện S, đến
cửa hàng bán giày dép Đ gặp NLQ2 nói muốn bán chiếc xe biển kiểm soát 76M1-
240.07 (xe của Th2) mà Th1 đã cầm cố trước đó với giá 20.000.000đồng; NLQ2 đồng
ý mua, nên Th1 yêu cầu NLQ2 chuyển số tiền 10.000.000đồng còn lại qua tài khoản
của Th1 (tài khoản số 040097490701). Có tiền Th1 đi đến công viên thị trấn D, huyện
S đón xe buýt đi về nhà ở thôn Đ, xã S, huyện S.
Đối với Đinh Văn Th2: Th2 ở nhà nghỉ Th chờ Th1, đến khoảng 12 giờ ngày
26/02/2023, không thấy Th1 mang xe về trả nên Th2 đã nhờ bạn đến đón chở về nhà;
khi Th2 đi ngang qua cửa hàng bán giày dép Đ thì nhìn thấy chiếc xe mô tô biển kiểm
soát 76M1-240.07 của mình đang dựng trước cửa hàng, nên đi vào cửa hàng để hỏi thì
được NLQ2 cho biết chiếc xe biển kiểm soát 76M1-240.07 đã được một người thanh
niên tên Đinh Văn Th2 mang đến bán với giá 20.000.000đồng. Nghe vậy, Th2 lấy căn
cước công dân của mình ra đưa cho NLQ2 xem và nói cho NLQ2 biết chiếc xe biển
kiểm soát 76M1-240.07 trên là của mình và có cho một người bạn tên Đinh Văn Th1
mượn để làm phương tiện đi lại. Lúc này, NLQ2 biết người bán chiếc xe biển số 76M1-
240.07 cho mình không phải là Đinh Văn Th2 nên gọi điện yêu cầu Th1 quay lại để nói
chuyện; đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, Th1 quay lại cửa hàng bán giày dép Đ,
lúc này Th2 đã báo Công an huyện S đến làm việc.
Số tiền Đinh Văn Th1 lừa đảo chiếm đoạt xe mô tô của Đinh Văn Th2, Đinh Văn
Tr và Đinh Văn Nh trong ngày 25/02/2023 là 34.000.000đồng, Th1 đã sử dụng vào mục
đích trả nợ cho người tên S bằng hình thức chuyển tiền vào các số tài khoản khác nhau
do S cung cấp cho Th1 gồm: Tài khoản số 11254747 do Nguyễn Thư Nh (sinh năm
1990, trú tại số 65, phố Ng, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh - chủ tài khoản); tài
khoản số 223163789 do Lê Hoàng S (sinh năm 1991, trú tại Khu 1B, thị trấn Q, huyện
Q, tỉnh Thái Bình -chủ tài khoản); tài khoản số 11341947 do Trương Mỹ Th (sinh năm
1977, trú tại số 98, tiểu khu 14, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La - chủ tài khoản); tài
khoản số 23376087 do Trần Thị H (sinh năm 1988, trú tại xóm N, xã Đ, thành phố H,
tỉnh Hòa Bình - chủ tài khoản) (các tài khoản trên đều mở tại Ngân hàng Thương mại
cổ phần (TMCP) Á Châu). Tuy nhiên, qua kết quả xác minh, tra cứu thông tin dữ liệu
điện tử quốc gia về dân cư được biết tất cả các thông tin trên là không có thật, đối tượng
cho vay tiền (tên S) đã sử dụng các tài khoản có thông tin giả để giao dịch trong việc
vay mượn tiền.
Tại Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐG ngày 28/02/2023 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận tại thời điểm tháng 02/2023 xe
mô tô biển kiểm soát 76M1-240.07, nhãn hiệu Yamaha, loại Exiter có trị giá
35.000.000đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐG ngày 06/03/2023 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận tại thời điểm tháng 02/2023 01
5
xe mô tô biển kiểm soát 76M1-172.96, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius có trị giá
15.000.000đồng và 01 xe mô tô biển kiểm soát 76M1-268.94, nhãn hiệu Honda loại
Wave có trị giá 17.000.000đồng.
Tổng trị giá của 03 chiếc xe mô tô mà Đinh Văn Th1 đã chiếm đoạt của Đinh
Văn Th2, Đinh Văn Nh và Đinh Văn Tr là 67.000.000 đồng (Sáu mươi bảy triệu đồng).
Bản cáo trạng số: 11/CT-VKS-SH ngày 17/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện S truy tố bị cáo Đinh Văn Th1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c
khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Đinh Văn Th1 đã khai
nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đinh Văn Th1 về tội “Lừa
đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 2 Điều
174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật
hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo: Đinh Văn Th1 từ 02
năm 06 tháng tù đến 03 năm tù. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị Hội đồng
xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đinh Văn Th1.
Về phần dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các
Điều 584, Điều 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự, tuyên buộc bị cáo Đinh Văn Th1 bồi
thường cho NLQ2 số tiền 27.000.000đồng. Tại phiên tòa, NLQ3 thấy hoàn cảnh bị
cáo Th1 khó khăn nên không yêu cầu bị cáo Th1 bồi thường số tiền 7.000.000đồng
cho NLQ3, nên Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến tự nguyện của
NLQ3.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47
Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu bán
sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu: Samsung Galaxy A11,
số kiểu máy: SM-A115F/DS, số sêri: R9JN614529J, số IMEI 1: 356347115374469,
số IMEI 2: 356348115374467, màu sơn: Đen và 01 thẻ Sim điện thoại 4G Viettel có
số seri: 8984048000045603577, số thuê bao: 0867.442.490, vì đây là phương tiện bị
cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
Người bào chữa cho bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng, Luận tội của
Viện Kiểm sát về tội danh và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều
38 Bộ luật hình sự; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế
khó khăn; gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo nhận
thức pháp luật còn hạn chế, vì vậy đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ những tình tiết
viện dẫn đã nêu, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù; đề nghị
Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và áp dụng điểm đ
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.
Bị cáo thống nhất với ý kiến của người bào chữa.
6
Ông Đinh Văn Nh đề nghị Hội đồng xét xử xử lý bị cáo Đinh Văn Th1 đúng
theo quy định của pháp luật, về phần dân sự không yêu cầu gì.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: NLQ2 đề nghị Hội đồng
xét xử tuyên buộc bị cáo Th1 bồi thường số tiền 27.000.000đồng cho NLQ2. NLQ3
nhận thấy hoàn cảnh bị cáo Th1 rất khó khăn nên tại phiên tòa rút yêu cầu đối với bị
cáo Th1 về việc bồi thường số tiền 7.000.000đồng và không yêu cầu Hội đồng xét xử
xem xét.
Lời nói sau cùng, bị cáo Thi thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật,
bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều
tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy
tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng
khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo Đinh Văn Th1: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa
là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của các bị hại,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: ngày 25/02/2023, Đinh Văn Th1
đã dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt 01 xe mô tô biển kiểm soát 76M1-
240.07 của Đinh Văn Th2, 01 xe mô tô biển kiểm soát 76M1-172.96 của Đinh Văn Tr
và 01 xe mô tô biển kiểm soát 76M1-268.94 của Đinh Văn Nh với tổng trị giá là
67.000.000đồng. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015,
sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện Kiểm sát nhân dân huyện S truy tố bị cáo là hoàn
toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là
nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người
khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ
năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ việc đưa ra thông tin gian dối không
đúng sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản của những người bị hại với mục đích trả nợ cá
nhân là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo Th1 thực hiện với lỗi cố ý, bản thân bị
cáo từng tham gia nghĩa vụ quân sự, hơn nữa bị cáo còn là một đảng viên, thì việc rèn
luyện tu dưỡng đạo đức, gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật càng phải được
nâng cao, nhưng bị cáo xem thường pháp luật, lười lao động nên vẫn bất chấp thực
7
hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác, do đó cần phải xử phạt
nghiêm đối với bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là
phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm
2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị
cáo đã thành khẩn khai báo, năm 2018 tham gia nghĩa vụ quân sự và năm 2019 được
kết nạp vào Đảng, là người đồng bào dân tộc thiểu số sống vùng có điều kiện kinh tế -
xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định
tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm
2017.
[5] Căn cứ vào hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng
với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, cần
thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng
và phòng ngừa chung.
Ngoài những lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn huyện
Sơn Hà, Đinh Văn Th1 còn thực hiện 05 (năm) vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 01
(một) vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Tuy nhiên, những
hành vi phạm tội của Đinh Văn Th1 tại huyện S, khi nào Tòa án nhân dân huyện S xét
xử và bản án có hiệu lực pháp luật thì Tòa án nhân dân huyện S sẽ có văn bản đề nghị
Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tổng hợp hình phạt đối với Đinh Văn Th1
theo quy định tại Điều 56 Bộ Luật hình sự 2015.
Đối với NLQ2 đã mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát 76M1-240.07 với số tiền
20.000.000đồng và chiếc xe mô tô biển kiểm soát 76M1-172.96 với số tiền
7.000.000đồng; NLQ3 đã mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát 76M1-268.94 với số tiền
7.000.000 đồng của bị cáo Đinh Văn Th1. Qua kết quả điều tra xác định, quá trình mua
bán xe với Th1, NLQ2 và NLQ3 không biết đó là tài sản do bị cáo Th1 phạm tội mà có.
Vì vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S không xem xét trách nhiệm hình sự
đối với NLQ2 và NLQ3 về tội “ Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm
tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ.
Đối với người đàn ông tên S (là người đã cho bị cáo Đinh Văn Th1 vay tiền), qua
kết quả điều tra do không xác định được nhân thân lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không làm
rõ được hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự được quy định tại Điều 201 Bộ
luật Hình sự. Do vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Hà không có căn
cứ để xem xét xử lý đối với hành vi trên; sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ sau, Hội
đồng xét xử thấy có căn cứ.
Đối với tài khoản số 11254747 do Nguyễn Thư Nh (sinh năm 1990, trú tại số 65,
phố Ng, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh - chủ tài khoản); tài khoản số 223163789
do Lê Hoàng S (sinh năm 1991, trú tại Khu 1B, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình -
8
chủ tài khoản); tài khoản số 11341947 do Trương Mỹ Th (sinh năm 1977, trú tại số 98,
tiểu khu 14, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La - chủ tài khoản); tài khoản số 23376087
do Trần Thị H (sinh năm 1988, trú tại xóm N, xã Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình - chủ
tài khoản) mà bị cáo Đinh Văn Th1 chuyển số tiền 34.000.000 đồng do phạm tội mà có.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã có văn bản yêu cầu Công an địa phương
trên tiến hành xác minh nhân thân lai lịch, địa chỉ cụ thể của các chủ tài khoản trên. Tuy
nhiên, qua kết quả xác minh được biết tất cả các thông tin trên là không có thật, đối
tượng tên S đã sử dụng các tài khoản có thông tin giả để giao dịch trong việc cho vay
tiền, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S không có căn cứ để xem xét, xử lý,
Hội đồng xét xử thấy có căn cứ.
[6] Theo khoản 5 điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 thì bị cáo còn có thể bị áp
dụng hình phạt bổ sung bằng tiền; tuy nhiên, xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó
khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử
miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo tại phiên
là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình điều tra, các bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất và không
còn yêu cầu gì về phần dân sự, Hội đồng xét xử không giải quyết.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, NLQ2 yêu cầu bị cáo Đinh Văn Th1
bồi thường số tiền 27.000.000đồng, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ nên chấp nhận.
Tại phiên tòa, NLQ3 xét thấy hoàn cảnh Đinh Văn Th1 khó khăn nên rút và
không yêu cầu bị cáo Đinh Văn Th1 bồi thường số tiền 7.000.000đồng cho NLQ3,
Hội đồng xét xử không giải quyết.
[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu: Samsung
Galaxy A11, số kiểu máy: SM-A115F/DS, số sêri: R9JN614529J, số IMEI 1:
356347115374469, số IMEI 2: 356348115374467, màu sơn: Đen và 01 thẻ Sim điện
thoại 4G Viettel có số seri: 8984048000045603577, số thuê bao: 0867.442.490, đây là
phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử cần
tuyên tịch thu bán sung vào Ngân sách Nhà nước.
[10] Về án phí: Bị cáo Đinh Văn Th1 là người đồng bào dân tộc thiểu số ở xã
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn tiền án phí theo quy
định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g
khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 48 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ
sung năm 2017;

9
Căn cứ vào các Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Th1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn Th1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày 26/02/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đinh Văn Th1 bồi thường số tiền
27.000.000đồng cho NLQ2.
3. Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu bán sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện
thoại di động nhãn hiệu: Samsung Galaxy A11, số kiểu máy: SM-A115F/DS, số sêri:
R9JN614529J, số IMEI 1: 356347115374469, số IMEI 2: 356348115374467, màu
sơn: đen và 01 thẻ Sim điện thoại 4G Viettel có số seri: 8984048000045603577, số
thuê bao: 0867.442.490 (Phản ảnh tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/8/2023
giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện S).
4. Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm
cho bị cáo Đinh Văn Th1.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư
trú.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân
sự năm 2015.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi,
bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành
án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Công an huyện S;
- Cơ quan THAHS – Công an huyện S;
- VKSND huyện S; VKSND tỉnh Quảng Ngãi; (Đã ký)
- THADS huyện S;
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
- Bị cáo; người bào chữa; bị hại; người có quyền lợi, Trần Mến
nghĩa vụ liên quan;
10
- Lưu hồ sơ vụ án + Án văn.
11
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Bản án số 367/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm