Bản án số 09/2023/HS-ST ngày 08/09/2023 của TAND huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 09/2023/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 09/2023/HS-ST ngày 08/09/2023 của TAND huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Sơn Hà (TAND tỉnh Quảng Ngãi)
Số hiệu: 09/2023/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/09/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Đinh Văn Th1 phạm tội " Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN S Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 09/2023/HS-ST
Ngày 08-9-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mến.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Xuân Đầm.
2. Nguyễn Thị Nguyệt.
- Thư ghi biên bản phiên toà: Phạm Thị Nhị - Thư Toà án nhân dân
huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S tham gia phiên toà: Đinh Thị
Hương - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện S xét
x sơ thẩm công khai v án hình s th s: 11/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 8
năm 2023, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-HS ngày 25/8/2023,
đối với b cáo:
Đinh Văn Th1 (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 23/3/1999 tại tỉnh Quảng
Ngãi. Nơi trú: Thôn Đ, S, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Nghề nghiệp: Nông; Quốc
tịch: Việt Nam; Dân tộc: Ca dong; Giới tính: Nam; Tôn Giáo: Không; Trình độ học
vấn: 12/12. Con ông Đinh Văn L, sinh năm 1974 Đinh Thị H1, sinh năm 1977.
Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ 20 giờ 15 phút ngày 26/02/2023 đến 17 giờ 10 phút ngày
07/3/2023 lệnh tạm giam, hiện bị o đang bị tam giam tại Nhà tạm giữ ng an
huyện S. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bùi Thị Thuyết Anh - Trợ giúp viên pháp lý
thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
Bị hại:
1. Ông Đinh Văn Th2, sinh năm 1999.
Nơi trú: Thôn D, S, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. đơn xin xét xử vắng
mặt.
2. Ông Đinh Văn Tr, sinh năm 1974.
i cư trú: Thôn T, S, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. đơn xin xét xử vắng
mặt.
3. Ông Đinh Văn Nh, sinh năm 1999.
2
Nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. NLQ1, sinh năm 2003.
Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
2. NLQ2, sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
3. NLQ3, sinh năm 1983.
Nơi cư trú: Thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
Người phiên dịch: Bà Đinh Thị H2 - Cán bộ hưu trí thị trấn D. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Năm 2022, Đinh Văn Th1 thuê phòng ở trọ gần khu công nghiệp Visip thuộc
T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi để đi làm công nhân tại khu Công nghiệp này. không
tiền tiêu xài nên ngày 10/10/2022 Th1 đã vay của một người đàn ông tên S (Th1
gặp S tại quán cà phê tại khu công nghiệp, không xác định được nhân thân lai lịch, địa
chỉ cụ thể) số tiền 25.000.000đồng trong thời gian hai tháng, với lãi suất
600.000đồng/01 tháng. Sau đó, nhiều lần Th1 mang stiền trả nợ gốc lãi cho S
nhưng S nói vẫn chưa trả đủ; S nhiều lần điện thoại cho Th1 bằng nhiều số thuê bao
khác nhau (Th1 không nhớ những số thuê bao điện thoại này) để đòi nợ, đe dọa; do
không có tiền để trả nợ theo yêu cầu của S nên Th1 nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt
tài sản (xe tô) của người khác để bán lấy tiền trả nợ. Để thực hiện ý định Th1 đã
nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể như
sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 11 giờ ngày 25/02/2023, Th1 đến thuê phòng nghỉ tại nhà
nghỉ Th (tổ dân phố G, thị trấn Di, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi), Th1 sử dụng điện
thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, số thuê bao 0867.442.490 của Th1
gọi cho Đinh Văn Th2 (là bạn của Th1) nói dối với Th2 xe của Th1 bđang sửa
thị trấn D, huyện S nhưng không có tiền lấy nên hỏi Th2 mượn xe để đi đến thị trấn
M, huyện K, tỉnh Kon Tum lấy tiền trả tiền sửa xe. bạn với nhau nên Th2 tin
tưởng, không nghi ngờ đồng ý cho Th1 mượn xe đđi lấy tiền trả tiền xe. Th2
điều khiển xe nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn Xám xanh bạc đen,
biển kiểm soát 76M1-240.07 đến nhà nghỉ Th gặp Th1. Tại đây, Th1 bảo Th2 đưa
thêm giấy chứng nhận đăng xe giấy chứng minh nhân dân của Th2 để
mang theo vì đi xa sợ Cảnh sát giao thông kiểm tra giữ xe. Nghe Th1 nói vậy, Th2 đưa
giấy chứng nhận đăng xe mô giấy chứng minh nhân dân của mình cho Th1
mang đi, còn Th2 tại nhà nghỉ Th đợi Th1 mang xe về trả. Tuy nói với Th2 đi lấy
tiền nhưng mục đích của Th1 đi đến gặp A H (bạn của Th1) thị trấn M, huyện K,
tỉnh Kon Tum để trả số tiền nợ 2.000.000đồng cho A H do Th1 đã mượn trước đó rồi
về lại thị trấn D để cầm cố chiếc xe của Th2 lấy tiền trả nợ cho S.
3
Trên đường đi tA H hẹn gặp Th1 tại S, huyện S1 để lấy tiền. Sau khi trả
tiền cho A H xong, Th1 điều khiển xe đi về đến cửa hàng bán giày dép Đ (ở thị trấn D)
gặp hỏi NLQ2 (là chủ cửa hàng) để cầm cố chiếc xe biển kiểm soát 76M1-240.07; lúc
này NLQ2 nói với Th1 chị không làm dịch vụ cầm cố tài sản” Th1 nói “em cần
tiền để gửi cho em đang học Thành phố Hồ Chí Minh”; nghe vậy, NLQ2 nói với
Th1 nếu vy ch cm giúp em ri my ngày sau em tin đến ly li xe thì ch cho
ly xe rồi đưa cho chị vài chc ngàn”. Th1 đồng ý, NLQ2 bảo Th1 đưa giấy tờ có liên
quan đến chiếc xe để kiểm tra thì Th1 đưa Giấy đăng xe tô, chứng minh nhân
dân của Đinh Văn Th2, NLQ2 kiểm tra, đối chiếu Giấy đăng xe trùng với
biển số xe, chứng minh nhân dân trùng với tên Đinh Văn Th2 nên NLQ2 đồng ý; Th1
viết giấy bán xe (nhưng với mục đích giao xe cho NLQ2 cầm giúp, tên người bán
Đinh Văn Th2) cho NLQ2 với số tiền 10.000.000đồng yêu cầu NLQ2 chuyển
tiền qua tài khoản của Th1 số 040097490701, Ngân hàng Sacombank mang tên Đinh
Văn Th1; NLQ2 thấy tên tài khoản Đinh Văn Th1 nên hỏi thì Th1 nói dối tài khoản
trên của em Th1 đang học Thành phố Hồ Chí Minh, giờ chuyển tiền để nộp học
cho em”, NLQ2 không nghi ngờ đã chuyển số tiền 10.000.000đồng vào stài
khoản trên.
Lần thứ hai: Khong 14 gi cùng ngày, Th1 tiếp tc s dụng điện thoi nhãn
hiu Samsung Galaxy A11, s thuê bao 0867.442.490 gọi điện cho NLQ1 (là bn ca
Th1) nói di vi NLQ1 xe ca Th1 b hư đang sa ri hi mượn xe ca NLQ1 để
làm phương tiện đi lại; NLQ1 nghe vậy tưởng Th1 nói tht nên ly xe nhãn
hiu: Yamaha, loại xe: Sirius, u sơn: Đen Xám, biển kim soát 76M1-172.96 ca
ông Đinh Văn Tr (ba v NLQ1) đi đến th trn D, huyn S đưa xe cho Th1 n; Th1
bo NLQ1 đưa Giấy đăng xe tô trên, NLQ1 nói giấy đăng xe do ông
Tr đang giữ nhà, nên Th1 bo NLQ1 ch Th1 v nhà gp ông Tr để ly giấy đăng ký
xe; sau khi ly giấy đăng xe chp nh chng minh nhân dân ca ông Tr,
Th1 điu khin xe này tiếp tc đến cửa hàng mua bán giày dép Đ nói vi NLQ2
s tin cầm xe lúc sáng không đ để cho em đóng tiền hc nên mun bán xe bán
xe bin kim soát 76M1-172.96 (xe ca ông Tr) vi s tiền 7.000.000 đồng
(By triệu đồng), nghe vy NLQ2 đối chiếu kim tra thy Giy chng nhận đăng ký xe
mô trùng vi bin s xe, nh chp chng minh nhân dân trùng vi n Đinh n Tr,
nên NLQ1 đồng ý; Th1 viết giy bán xe (ký tên người bán là Đinh Văn Th2), ri
NLQ1 chuyn s tiền 6.000.000 đồng qua s tài khon 040097490701 ca Th1 đưa
cho Th1 s tin mặt là 1.000.000 đồng.
Ln th ba: Khong 17 gi cùng ngày, vi th đoạn như trên, Th1 tiếp tc s
dụng điện thoi nhãn hiu Samsung Galaxy A11, s thuê bao 0867.442.490 gọi điện
cho Đinh Văn Nh nói di Th1 đang sửa xe máy th trn D nhưng không tiền
ly, nên hỏi mượn xe máy ca Nh đi về nhà ly tin S, huyn S đ xung tr tin
sa xe ri s tr li xe cho Nh. Nghe Th1 nói vy nên Nh tin tưởng đưa xe mô tô nhãn
hiu: Honda, loại xe: Wave, u sơn: m Đen, biển kim soát 76M1-268.94, Giy
đăng xe chứng minh nhân dân ca Nh cho Th1. Sau đó, Th1 điu khin xe mô
ca Nh đến tim sa xe máy ca NLQ3 gp NLQ1 nói dối đang cần tin gp
4
nên muốn bán xe” xe bin kim soát 76M1-268.94 (xe ca Nh); nghe vy
NLQ3 đối chiếu kim tra thy Giy chng nhn đăng ký xe mô tô trùng với bin s xe,
chng minh nhân dân trùng vi tên Đinh Văn Nh, nên NLQ1 đng ý và đưa cho Th1 s
tin 7.000.000đồng.
Đến sáng ngày 26/02/2023, Th1 đi nhờ xe xung li th trn D, huyn S, đến
cửa hàng bán giày dép Đ gp NLQ2 nói mun bán chiếc xe bin kim soát 76M1-
240.07 (xe ca Th2) mà Th1 đã cầm c trước đó với giá 20.000.000đồng; NLQ2 đồng
ý mua, nên Th1 yêu cu NLQ2 chuyn s tin 10.000.000đồng còn li qua tài khon
ca Th1 (tài khon s 040097490701). Có tin Th1 đi đến công viên th trn D, huyn
S đón xe buýt đi về nhà thôn Đ, xã S, huyn S.
Đối với Đinh Văn Th2: Th2 nhà ngh Th ch Th1, đến khong 12 gi ngày
26/02/2023, không thy Th1 mang xe v tr nên Th2 đã nh bạn đến đón chở v nhà;
khi Th2 đi ngang qua cửa hàng bán giày dép Đ thì nhìn thy chiếc xe mô bin kim
soát 76M1-240.07 ca mình đang dựng trưc ca hàng, nên đi vào cửa hàng để hi thì
đưc NLQ2 cho biết chiếc xe bin kim soát 76M1-240.07 đã được một người thanh
niên n Đinh Văn Th2 mang đến bán vi giá 20.000.000đồng. Nghe vy, Th2 lấy căn
c công n của mình ra đưa cho NLQ2 xem nói cho NLQ2 biết chiếc xe bin
kim soát 76M1-240.07 trên ca mình cho một ngưi bạn tên Đinh Văn Th1
ợn để m phương tiện đi lại. Lúc này, NLQ2 biết ni bán chiếc xe bin s 76M1-
240.07 cho mình không phải là Đinh Văn Th2 nên gọi đin yêu cu Th1 quay lại để nói
chuyện; đến khong 14 gi 00 phút cùng ngày, Th1 quay li ca hàng bán giày dép Đ,
lúc này Th2 đã báo Công an huyện S đến làm vic.
S tiền Đinh Văn Th1 lừa đảo chiếm đoạt xe mô tô của Đinh Văn Th2, Đinh Văn
Tr và Đinh Văn Nh trong ngày 25/02/2023 34.000.000đồng, Th1 đã sử dng vào mc
đích trả n cho ngưi tên S bng hình thc chuyn tin vào c s tài khon khác nhau
do S cung cp cho Th1 gm: Tài khon s 11254747 do Nguyễn Thư Nh (sinh m
1990, trú ti s 65, ph Ng, th trn Q, huyn H, tnh Qung Ninh - ch tài khon); tài
khon s 223163789 do Hoàng S (sinh năm 1991, trú tại Khu 1B, th trn Q, huyn
Q, tnh Thái Bình -ch i khon); tài khon s 11341947 do Trương Mỹ Th (sinh m
1977, trú ti s 98, tiu khu 14, th trn H, huyn M, tỉnh Sơn La - ch i khon); i
khon s 23376087 do Trn Th H (sinh năm 1988, trú tại xóm N, Đ, thành ph H,
tnh Hòa Bình - ch i khon) (các tài khon trên đều m tại Ngân ng Thương mi
c phn (TMCP) Á Châu). Tuy nhiên, qua kết qu xác minh, tra cu thông tin d liu
đin t quc gia v n cư đưc biết tt c các thông tin trên là không có thật, đối tượng
cho vay tin (tên S) đã sử dng các tài khon thông tin gi để giao dch trong vic
vayn tin.
Tại Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐG ngày 28/02/2023 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận tại thời điểm tháng 02/2023 xe
biển kiểm soát 76M1-240.07, nhãn hiệu Yamaha, loại Exiter trị giá
35.000.000đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐG ngày 06/03/2023 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận tại thời điểm tháng 02/2023 01
5
xe mô biển kiểm soát 76M1-172.96, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius trị giá
15.000.000đồng 01 xe biển kiểm soát 76M1-268.94, nhãn hiệu Honda loại
Wave có trị giá 17.000.000đồng.
Tng tr giá ca 03 chiếc xe mô Đinh Văn Th1 đã chiếm đoạt của Đinh
n Th2, Đinh n Nh và Đinh Văn Tr 67.000.000 đng (u mươi bảy triệu đng).
Bản cáo trạng s: 11/CT-VKS-SH ngày 17/8/2023 của Viện kiểm sát nhân n
huyện S truy t bị cáo Đinh Văn Th1 v tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c
khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra ng như tại phiên tòa bị cáo Đinh Văn Th1 đã khai
nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội tranh luận:
Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đinh Văn Th1 về tội “Lừa
đảo chiếm đoạt tài sản” đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 2 Điều
174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật
hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xphạt bị cáo: Đinh Văn Th1 từ 02
năm 06 tháng đến 03 năm . Bị cáo hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị Hội đồng
xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đinh Văn Th1.
Về phần dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các
Điều 584, Điều 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự, tuyên buộc bị cáo Đinh Văn Th1 bồi
thường cho NLQ2 số tiền 27.000.000đồng. Tại phiên tòa, NLQ3 thấy hoàn cảnh bị
cáo Th1 khó khăn nên không yêu cầu bị cáo Th1 bồi thường số tiền 7.000.000đồng
cho NLQ3, nên Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến tự nguyện của
NLQ3.
Về xử vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47
Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng nh s, tuyên tịch thu n
sung o ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiu: Samsung Galaxy A11,
s kiu máy: SM-A115F/DS, s sêri: R9JN614529J, s IMEI 1: 356347115374469,
s IMEI 2: 356348115374467, màu sơn: Đen 01 th Sim điện thoi 4G Viettel
s seri: 8984048000045603577, s thuê bao: 0867.442.490, đây phương tiện bị
cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
Người bào chữa cho bị cáo hoàn toàn nhất tvới bản Cáo trạng, Luận tội của
Viện Kiểm sát về tội danh tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm nh
sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều
38 Bộ luật hình sự; bị cáo người dân tộc thiểu số sống vùng điều kiện kinh tế
khó khăn; gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo chưa tiền án, tiền sự; bị cáo nhận
thức pháp luật còn hạn chế, vậy đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ những tình tiết
viện dẫn đã nêu, đề nghị Hội đồng xét xxử phạt bcáo 02 năm 06 tháng tù; đề nghị
Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo áp dụng điểm đ
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.
Bị cáo thống nhất với ý kiến của người bào chữa.
6
Ông Đinh Văn Nh đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo Đinh Văn Th1 đúng
theo quy định của pháp luật, về phần dân sự không yêu cầu .
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: NLQ2 đề nghị Hội đồng
xét xử tuyên buộc bị cáo Th1 bồi thường số tiền 27.000.000đồng cho NLQ2. NLQ3
nhận thấy hoàn cảnh bị cáo Th1 rất khó khăn nên tại phiên tòa rút yêu cầu đối với bị
cáo Th1 về việc bồi thường số tiền 7.000.000đồng và không yêu cầu Hội đồng xét xử
xem xét.
Lời nói sau cùng, bị cáo Thi thừa nhận hành vi của mình vi phạm pháp luật,
bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm
tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều
tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy
tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo những người tham gia tố tụng
khác không ý kiến hoặc khiếu nại vhành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo Đinh Văn Th1: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa
là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của các bị hại,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án các tài liệu có trong hồ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử đủ sở khẳng định: ngày 25/02/2023, Đinh Văn Th1
đã dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt 01 xe mô bin kim soát 76M1-
240.07 của Đinh Văn Th2, 01 xe mô tô bin kim soát 76M1-172.96 ca Đinh Văn Tr
01 xe mô bin kim soát 76M1-268.94 ca Đinh Văn Nh với tổng trị giá
67.000.000đng. vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015,
sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện Kiểm sát nhân dân huyện S truy tố bị cáo là hoàn
toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo
nguy hiểm cho hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người
khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an địa phương. Bcáo người đầy đủ
năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ việc đưa ra thông tin gian dối không
đúng sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản của những người bị hại với mục đích trả nợ
nhân vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo Th1 thực hiện với lỗi cố ý, bản thân bị
cáo từng tham gia nghĩa vụ quân sự, hơn nữa bị cáo còn là một đảng viên, thì việc n
luyện tu dưỡng đạo đức, gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật càng phải được
nâng cao, nhưng bị o xem thường pháp luật, lười lao động nên vẫn bất chấp thực
7
hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác, do đó cần phải xử phạt
nghiêm đối với bị cáo để n đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 01 nh tiết tăng nặng
phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm
2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Qtrình điều tra tại phiên tòa, bị
cáo đã thành khẩn khai báo, m 2018 tham gia nghĩa vụ quân sự năm 2019 được
kết nạp vào Đảng, là người đồng bào dân tộc thiểu số sống vùng có điều kiện kinh tế -
hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định
tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm
2017.
[5] Căn cứ vào hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng
với tính chất mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội của bị cáo, cần
thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng
và phòng ngừa chung.
Ngoài nhng ln thc hin hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn huyn
Sơn Hà, Đinh Văn Th1 n thc hiện 05 (năm) vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sn 01
(mt) v trm cp i sản trên địa bàn huyn S, tnh Qung Ngãi. Tuy nhiên, nhng
hành vi phạm tội của Đinh Văn Th1 tại huyện S, khi nào Tòa án nhân dân huyện S xét
xử và bản án có hiệu lực pháp luật thì Tòa án nhân dân huyện S sẽ có văn bản đề nghị
Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tổng hợp hình phạt đối với Đinh Văn Th1
theo quy định tại Điều 56 Bộ Luật hình sự 2015.
Đối vi NLQ2 đã mua chiếc xe bin kim soát 76M1-240.07 vi s tin
20.000.000đồng chiếc xe mô bin kim soát 76M1-172.96 vi s tin
7.000.000đồng; NLQ3 đã mua chiếc xe bin kim soát 76M1-268.94 vi s tin
7.000.000 đồng ca b cáo Đinh n Th1. Qua kết qu điều tra xác định, quá trình mua
bán xe vi Th1, NLQ2 NLQ3 không biết đó là tài sản do bo Th1 phm ti mà có.
Vì vậy, quan Cảnh sát điều tra Công an huyn S không xem xét trách nhim hình s
đối vi NLQ2 NLQ3 v ti Cha chp hoc tiêu th tài sn do người khác phm
tội mà có” quy định ti Điều 323 B lut nh sự, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ.
Đối với người đàn ông tên S (là người đã cho bị cáo Đinh Văn Th1 vay tin), qua
kết qu điều tra do không xác định đưc nn thân lai lịch, địa ch c th n không m
rõ đưc hành vi cho vay lãi nng trong giao dch dân s được quy định ti Điều 201 B
lut Hình s. Do vậy, quan Cảnh sát điu tra Công an huyện Sơn Hà không n
c để xem t x đối vi hành vi trên; s tiếp tc điu tra, xác minh làm sau, Hội
đồng xét xử thấy có căn cứ.
Đối vi tài khon s 11254747 do Nguyn Thư Nh (sinh năm 1990, trú tại s 65,
ph Ng, th trn Q, huyn H, tnh Qung Ninh - ch tài khon); tài khon s 223163789
do Hoàng S (sinh m 1991, trú tại Khu 1B, th trn Q, huyn Q, tnh Thái Bình -
8
ch tài khon); tài khon s 11341947 do Trương Mỹ Th (sinh năm 1977, trú tại s 98,
tiu khu 14, th trn H, huyn M, tỉnh n La - ch tài khon); tài khon s 23376087
do Trn Th H (sinh năm 1988, trú tại m N, Đ, thành ph H, tnh Hòa nh - ch
tài khon) mà b cáo Đinh Văn Th1 chuyn s tin 34.000.000 đồng do phm ti mà có.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyn S đã có văn bảnu cầu Công an địa phương
trên tiến hành xác minh nhân thân lai lịch, địa ch c th ca các ch i khon trên. Tuy
nhiên, qua kết qu xác minh được biết tt c các thông tin trên không thật, đối
ng tên S đã sử dng c tài khon có thông tin gi để giao dch trong vic cho vay
tiền,n cơ quan Cảnh sát điều trang an huyn S không có căn cứ để xem xét, x lý,
Hội đồng xét xử thấy có căn cứ.
[6] Theo khoản 5 điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 thì bị cáo còn có thể bị áp
dụng hình phạt bổ sung bằng tiền; tuy nhiên, xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó
khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử
miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo tại phiên
là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm n sự:
Trong quá trình điều tra, các bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất không
còn yêu cầu gì về phần dân sự, Hội đồng xét xử không giải quyết.
Trong quá trình điều tra tại phiên tòa, NLQ2 yêu cầu bị cáo Đinh Văn Th1
bồi thường số tiền 27.000.000đồng, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ nên chấp nhận.
Tại phiên tòa, NLQ3 xét thấy hoàn cảnh Đinh Văn Th1 khó khăn nên rút
không yêu cầu bị cáo Đinh Văn Th1 bồi thường số tiền 7.000.000đồng cho NLQ3,
Hội đồng xét xử không giải quyết.
[9] Về x vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiu: Samsung
Galaxy A11, s kiu máy: SM-A115F/DS, s sêri: R9JN614529J, s IMEI 1:
356347115374469, s IMEI 2: 356348115374467, màu sơn: Đen 01 th Sim đin
thoi 4G Viettel có s seri: 8984048000045603577, s thuê bao: 0867.442.490, đây
phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử cần
tuyên tịch thu bán sung vào Ngân sách Nhà nước.
[10] Về án phí: Bị cáo Đinh Văn Th1 người đồng bào dân tộc thiểu số
điều kiện kinh tế - hội đặc biệt khó khăn nên được miễn tiền án phí theo quy
định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g
khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 48Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ
sung năm 2017;
9
Căn cứ vào các Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Th1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
X phạt: Bị cáo Đinh Văn Th1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày 26/02/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đinh Văn Th1 bồi thường số tiền
27.000.000đồng cho NLQ2.
3. Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu bán sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện
thoại di động nhãn hiu: Samsung Galaxy A11, s kiu máy: SM-A115F/DS, s sêri:
R9JN614529J, s IMEI 1: 356347115374469, s IMEI 2: 356348115374467, màu
sơn: đen 01 th Sim điện thoi 4G Viettel s seri: 8984048000045603577, s
thuê bao: 0867.442.490 (Phản ảnh tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/8/2023
giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện S).
4. Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm
cho bị cáo Đinh Văn Th1.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bhại, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, k t
ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi
trú.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân
sự năm 2015.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi,
bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a Điều 9 Luật Thi hành
án dân s đã được sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Công an huyện S;
- Cơ quan THAHS Công an huyện S;
- VKSND huyện S; VKSND tỉnh Quảng Ngãi; (Đã ký)
- THADS huyện S;
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
- Bị cáo; người bào chữa; bị hại; người có quyền li, Trần Mến
nghĩa vụ liên quan;
10
- Lưu hồ sơ vụ án + Án văn.
11
Tải về
Bản án số 09/2023/HS-ST Bản án số 09/2023/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất