Bản án số 09/2022/HS-ST ngày 01/03/2022 của TAND huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận về tội tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 09/2022/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 09/2022/HS-ST ngày 01/03/2022 của TAND huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận về tội tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Thuận Bắc (TAND tỉnh Ninh Thuận)
Số hiệu: 09/2022/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 01/03/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH NINH THUẬN
__________________
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
_________________________________
Bản án số: 09/2022/HS-ST
Ngày: 01/3/2022
NH DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Tiến.
Các Hội thẩm Nh dân:
Ông Phú Trần Anh Vương.
Bà Nguyễn Thị Liên.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tâm - Thư Tòa án nhân dân
huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận tham gia
phiên tòa: Ông Phạm Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2022, tại trụ sTòa án nhân dân huyện T, tỉnh Ninh
Thuận xét xử thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 52/2021/TLST-HS ngày
08 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử thẩm số:
06/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. TRƯỜNG G, sinh năm: 1979 tại tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi đăng hộ
khẩu thường trú: 925/29/1B, đường Âu Cơ, phường N, quận T, Thành Phố Hồ Chí
Minh; chỗ hiện nay: 78/13 Nguyễn Thị Tú, phường H, quận B, Thành Phố Hồ
Chí Minh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn A Thị Th;
vợ (Đã ly hôn) 01 con; tiền án: Không; tiền s: Không; bị cáo bị bắt tạm
giam trong vụ án khác, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh KonTum.
(Có mặt)
2. TÂY NG, sinh năm: 1979 tại tỉnh Quảng Nam. Nơi đăng hộ khẩu
thường trú: 004A, IX, Th, phường 27, quận B, Thành Phố Hồ Chí Minh;
chỗ hiện nay: 539/2H Đỗ Xuân Hợp, phường Ph, quận 9, Thành Phố Hồ Chí
Minh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;
tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thanh T và Nguyễn Thị M;
vợ (Đã ly hôn) 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bắt tạm giam
từ ngày 26/6/2021, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh
Ninh Thuận. (Có mặt)
3. DUY TH, sinh năm: 1976 tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi đăng hộ khẩu
thường trú: Thôn Th, C, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; chỗ hiện nay: 156 Bình
2
Thành, phường H, quận B, Thành Phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lái xe; trình đ
văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Duy Th Thị Ng; vợ và 03 con; tiền án: Không; tiền
sự: Không; bị cáo bắt tạm giam t ngày 26/6/2021, hiện đang tạm giam tại Nhà
tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Ninh Thuận. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Nguyễn Hải L, sinh năm: 1980; nơi cư trú: Số 021A, lô E, cư xá Th,
Phường 27, quận B, Thành Phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
2. Anh Lê Đình Tr, sinh năm: 1978; nơi cư trú: Thôn 14, xã D, huyện T, tỉnh
Thanh Hóa. (Vắng mặt)
3. Anh Thanh H, sinh năm: 1981; nơi trú: 004A, IX, xá Th,
phường 27, quận B, Thành Phố Hồ Chí Minh. ( mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 04/6/2021, Tkiểm soát dịch Covid-19 tại địa
bàn Ná, huyện T, tỉnh Ninh Thuận ra tín hiệu dừng xe ôtô hiệu Vios, biển
kiểm soát 36A-45789 do Duy Th điều khiển để kiểm tra thì phát hiện Th đang
chở 04 người Trung Quốc, cùng đi với Th còn Tây Ng chở 06 người Trung
Quốc khác đang chạy phía sau, Tổ kiểm soát dịch bệnh đã lập biên bản vụ việc
chuyển cho Cơ quan điều tra xác minh làm rõ.
Quá trình điều tra Lê Tây Ng và Lê Duy Th khai nhận: Do có quen biết nhau
từ trước qua nhóm chạy xe Grap gồm: Trường G, sinh năm 1979, trú tại
925/29/1B đường Âu Cơ, phường N, quận T, Thành Phố Hồ Chí Minh, Nguyễn
Văn Nh (Hoàng), sinh năm 1972, thường trú tại thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thừa
Thiên Huế, Lê Tây Ng và Lê Duy Th nên ngày 02/6/2021, G gọi qua Zalo thuê Ng
Nh chở 10 người Trung quốc từ Thành Phố Hồ Chí Minh đến cầu số 3, M,
huyện H, tỉnh Kiên G với giá 3.000.000đ/người, sau đó chở 10 người Trung Quốc
khác từ cầu số 3, M đến cầu Ph, thành phố Nội với giá 10.000.000đ/người
và hẹn 19 giờ ngày 03/6/2021 đón người tại đầu cao tốc Thành Phố Hồ Chí Minh –
Trung Lương.
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 03/6/2021, G gọi zalo thuê Th chạy xe từ thành
phố Hồ Chí Minh đến cầu số 3, Mỹ Lâm để nắm tình hình các chốt kiểm dịch
Covid-19 trên đường đi, định vị các chốt kiểm dịch, cách thức kiểm tra tại các
chốt, rồi thông tin vào nhóm zalo “Bắc-Nam” gồm G, Ng, Th Nh để Ng và Nh
biết chở người đi theo sau. Như đã thỏa thuận, khi Ng chở khách đến gần cầu số 3,
M thì có một đối tượng người Trung Quốc đi trên xe Ng đưa điện thoại cho Ng
quét mã QR để kết bạn zalo với một đối tượng có tên zalo Ánh Nguyệt, sau khi kết
bạn zalo, Ánh Nguyệt gọi cho Ng thông báo G đã bị bắt tại KonTum, do G chưa
thanh toán tiền công cho Ng nên Ánh Nguyệt yêu cầu Ng tiếp tục chkhách như
3
thỏa thuận trước đây giữa Ng với G và Ánh Nguyệt sẽ thay G trả tiền công. Sau đó
Ng nhắn lại thông tin G đã bị bắt tại KonTum trên nhóm zalo “Bắc-Nam” để cả
nhóm cùng biết. Khi biết G bị bắt, nên sau khi trả khách xong, Nh tắt điện thoại và
không thực hiện việc chở người Trung Quốc từ cầu số 3, M đi Nội nđã
thỏa thuận với G.
Do không liên lạc được với Nh n Ng liên lạc với Th đthỏa thuận về việc
cả hai cùng chở 10 người Trung Quốc từ cầu số 3, Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất,
tỉnh Kiên G đi Nội, thì được Th đồng ý. Đây là nhóm người Trung Quốc gồm:
Xu Jin Cai, Wang Fa, Li Jin Hai, Chen Qiang Nan, Huang Yu, Hang Xin Yuan,
Liu Nian Nian, Ye Guo Wang, Deng Tian Ming, Huang Pen Kin nhập cảnh trái
phép từ Campuchia bằng đường Th vào địa bàn Mỹ Lâm, huyện n Đất, tỉnh
Kiên G khu vực biên giới biển vào đêm ngày 03/6/2021 để về Trung Quốc. Đến
khoảng 01 giờ ngày 04/6/2021, Th đón 04 người trung Quốc, Ng đón 06 người
Trung Quốc từ cầu số 3, Mỹ m chở đến cầu Phù Đổng, thành phố Nội,
khi đến địa phận xã Cà Ná, huyện T thì bị phát hiện, bắt giữ.
Như đã thỏa thuận, sau khi đón người Trung Quốc lên xe, Ng chụp ảnh gửi
qua zalo cho Ánh Nguyệt, Ánh Nguyệt đã chuyển qua tài khoản ngân hàng cho
Tây Ng 20.000.000 đồng, sau đó Ng đã chuyển qua tài khoản ngân hàng cho
Duy Thuỷ 10.000.000 đồng, sau khi trừ các chi phí xăng, phí qua các trạm thu phí,
chi phí ăn, uống cho những người Trung Quốc, Ng thu lợi số tiền 7.600.000 đồng,
Thuỷ thu lợi số tiền 6.500.000 đồng.
Trong qtrình điều tra các bị can Trường G, Lê Tây Ng, Lê Duy Th đã
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với quan điều tra trong
việc phát hiện tội phạm và giải quyết vụ án, gia đình các bị can Lê Tây Ng, Lê Duy
Thuỷ đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính.
Tại bản Cáo trạng số: 08/CT-VKS-P1 ngày 26 tháng 11năm 2021 của Viện
kiểm sát Nh n tỉnh Ninh Thuận đã truy tố các bị cáo Trường G, Tây Ng,
Duy Th v tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép theo điểm c
khoản 2 Điều 348 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Hành vi
của của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh
trái phép”, do đó Viện kiểm sát Nh dân huyện T giữ Ng quyết định truy tđối với
bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51;
Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Hà Trường G phạm tội “Tổ
chức cho người khác nhập cảnh trái phép”. Đề nghị xử phạt bị cáo với mức án từ
05 năm đến 05 năm 06 tháng .
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51;
Điều 58; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Tây Ng phạm
tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”. Đề nghị xử phạt bị cáo với mức
án từ 02 năm 06 thángđến 03 năm .
4
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều
54; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Duy Th phạm tội “Tổ chức
cho người khác nhập cảnh trái phép”. Đề nghị xử phạt bị cáo với mức án từ 02
năm đến 02 năm 06 tháng .
Lời nói sau cùng: Tại phiên tòa, các bị cáo biết hành vi của mình vi phạm
pháp luật nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Vnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điu tra ng an tỉnh
Ninh Thuận, Điều tra viên, Viện kiểm t nhân n tỉnh Ninh Thuận, Kiểm sát viên
trong q trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tc quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Q trình điều tra và tại phn tòa, b o không có
ý kiến hoặc khiếu nại về nh vi, quyết định của quan tiến nh ttụng, người tiến
nh tố tụng. Do đó, c hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến nh ttụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pp.
Trong quá trình điều tra tại phiên tòa các bị cáo Trường G, Tây
Ng, Duy Th đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Ngày 04/6/2021 các bị cáo
những người được thuê biết trước việc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam,
nhưng vụ lợi đã tiếp nhận ý chí của người tổ chức, môi giới, đưa dẫn người vào
sâu trong nội địa Việt Nam.
Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn, xét vai trò của từng bị o
được đánh giá như sau:
Bị cáo Hà Trường G là người biết rõ việc đưa dẫn người nhập cảnh trái phép
nhưng vụ lợi đã tiếp nhận ý chí của người tổ chức, đã giúp sức tích cực cho
người tổ chức cầm đầu, liên hệ thuê người phương tiện xe ô đón chở tổng số
người 10 Trung quốc đi vào sâu trong nội địa Việt Nam trái phép.
Bị o Tây Ng là người được thuê biết người nhập cảnh trái phép vào
Việt Nam nhưng vụ lợi đã thực hiện dùng xe ô thuê đón chở 06 người, rủ
Duy Th đón chở 04 người, cả hai cùng đi một chuyến đưa dẫn tổng số 10 người
Trung quốc đi vào sâu trong nội địa Việt Nam trái phép. Bị cáo Ng hưởng lợi
7.600.000 đồng.
Bị cáo Duy Th là người được thuê biết người nhập cảnh trái phép vào
Việt Nam nhưng vụ lợi đã thực hiện dùng xe ô thuê đón chở 04 người, cùng
với Tây Ng chở 06 người, cả hai cùng đi một chuyến đưa dẫn tổng số 10 người
Trung quốc đi vào sâu trong nội địa Việt Nam trái phép. Bị cáo Th hưởng lợi
6.500.000 đồng.
Xét thấy hành vi nêu trên của các bị cáo nguy hiểm cho hội, không
những xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản xuất nhập cảnh
5
đồng thời làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương nên Viện kiểm sát Nh
dân tỉnh Ninh Thuận truy tố các bị cáo Hà Trường G, Lê Tây Ng, Lê Duy Th về tội
“Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo điểm c khoản 2 Điều 348 của
Bộ luật hình sự căn cứ, đúng pháp luật. vậy phải xử phạt các bcáo một
mức án thật nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải; người phạm tội tích cực hợp tác với quan trách nhiệm
trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết ván; riêng các bị
cáo Trường G, Tây Ng cha, mngười công với cách mạng. Đây
tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ
luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không tình tiết
tăng nặng.
Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt.
Qua xem xét hành vi phạm tội, c tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và
Nh thân của từng bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Cần phải cách ly các bị cáo
Trường G, Tây Ng, Duy Th ra khỏi hội một thời gian để các bị cáo
điều kiện cải tạo, rèn luyện bản thân mình thành người tốt sau này phù hợp với
quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem
xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo phù hợp với quy định tại Điều 54 của B
luật hình sự.
Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền thu lợi bất chính 14.100.000 đồng, buộc bị cáo Tây Ng
nộp lại 7.600.000 đồng, buộc bị cáo Duy Th nộp lại 6.500.000 đồng để sung
Ngân sách Nhà nước.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 14.100.000 đồng (Trong đó: Anh Thanh H nộp
thay cho bị cáo Lê Tây Ng 7.600.000 đồng; anh Lê Đình Tr nộp thay cho bị cáo
Duy Th số tiền 6.500.000 đồng) đđảm bảo Thi hành án.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, anh Lê Thanh H anh Đình Tr
không yêu cầu các bị cáo Tây Ng, Duy Th trả lại stiền trên. Do đó, Hội
đồng xét xử không xét đến.
Tịch thu: 01 (Một) điện thoại OPPO, màu xanh, số IMEI 1:
865545057859058, số IMEI 2: 865545057859041, bên trong gắn thẻ sim số
0961217282 01 (Một) điện thoại Samsung, màu bạc của bị cáo Duy Th; 01
(Một) điện thoại Iphone 6, u bạc, số IMEI 353315077068505 01 (Một) điện
thoại VIVO, màu tím đen, số IMEI 1: 867742048017577, số IMEI 2:
867742048017569, bên trong có gắn thẻ sim số 0971303060 của bị o Lê Tây Ng.
Đây công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
huyện T đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước là phù với quy định tại Điều 46
của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
6
Trả lại cho anh Đình Tr 01 (Một) xe ô hiệu Toyota Vios, màu nâu
vàng, loại xe 05 chỗ ngồi, biển kiểm soát 36A-45789 do bị cáo Duy Th thuê
của anh Trường. Anh Trường không biết bị o Th thuê xe của mình để chở người
Trung Quốc nhập cảnh trái phép.
Trả lại cho anh Nguyễn Hải L 01 (Một) xe ô hiệu Toyota Innova, màu
bạc, loại xe 07 chỗ ngồi, biển kiểm soát 51G-00597 do bị cáo y Ng thcủa
Lâm. Anh Lâm không biết bị cáo Ng thuê xe của mình để chở người Trung Quốc
nhập cảnh trái phép.
Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu là có căn cứ.
Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến.
Đối tượng tên zalo Ánh Nguyệt, quan điều tra chưa xác định được
thông tin cụ thể, sẽ tiếp tục điều tra làm rõ trong thời gian tới. Do đó, Hội đồng xét
xử không xét đến.
Đối với Nguyễn Văn Nh (Hoàng) sau khi thống nhất với bị cáo Trường
G ch05 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép từ cầu số 3 Mỹ Lâm đi Nội
nhưng sau đó đã không thực hiện hành vi phạm tội nên quan điều tra không
xem xét xử lý là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến.
Về án phí: Các b cáo phải chịu án phí thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51;
Điều 58; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Hà Trường G phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh
trái phép”.
Xử phạt bị cáo Trường G 04 (Bốn) năm , thời hạn chấp hành hình phạt
tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51;
Điều 58; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Tây Ng phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh
trái phép”.
Xphạt bcáo Tây Ng 02 (Hai) năm , thời hạn chấp hành hình phạt
được tính từ ngày 26/6/2021.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều
54; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Duy Th phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh
trái phép”.
Xphạt bị cáo Duy Th 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng , thời hạn chấp
hành hình phạt tù được tính từ ngày 26/6/2021.
- Căn cứ Điều 46 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
7
Buộc bị cáo Tây Ng nộp số tiền 7.600.000đ (Bảy triệu sáu trăm nghìn
đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.
Buộc bị cáo Duy Th nộp số tiền 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn
đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 14.100.000đ (Mười bốn triệu một trăm nghìn đồng),
trong đó: Anh Thanh H nộp thay cho bị cáo Tây Ng 7.600.000đ (Bảy triệu
sáu trăm nghìn đồng); anh Đình Tr nộp thay cho bcáo Duy Th stiền
6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng) đđảm bảo Thi hành án (Theo Ủy
nhiệm chi số: 12, Lập ngày 03 tháng 12 năm 2021 tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Ninh
Thuận).
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại OPPO, màu xanh,
số IMEI 1: 865545057859058, số IMEI 2: 865545057859041, bên trong có gắn thẻ
sim số 0961217282 và 01 (Một) điện thoại Samsung, màu bạc; 01 (Một) điện thoại
Iphone 6, màu bạc, số IMEI 353315077068505 01 (Một) điện thoại VIVO, màu
tím đen, số IMEI 1: 867742048017577, số IMEI 2: 867742048017569, bên trong có
gắn thẻ sim số 0971303060 (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06 tháng 12
năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T giữa ng an tỉnh Ninh Thuận
và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T).
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng
hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc Hội 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Trường G, Tây Ng, Duy Th mỗi người phải chịu
200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bcáo người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án quyền làm
đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 01/3/2022). Người có
quyền lợi nghĩa, vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng
cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Ninh Thuận;
- VKSND tỉnh Ninh Thuận;
- VKSND huyện T;
- Cơ quan điều tra CA huyện T;
- Cơ quan Thi hành án hình sự;
- Nhà tạm giữ CA huyện T;
- CC T.H.A dân sự huyện T;
- Sở tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
- Bị cáo, Người có QLNVLQ;
- Lưu hồ sơ, tập bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Văn Tiến
Tải về
Bản án số 09/2022/HS-ST Bản án số 09/2022/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất