Bản án số 09/2019/DS ngày 16/04/2019 của TAND tỉnh Quảng Bình về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 09/2019/DS

Tên Bản án: Bản án số 09/2019/DS ngày 16/04/2019 của TAND tỉnh Quảng Bình về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Bình
Số hiệu: 09/2019/DS
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/04/2019
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Đinh Xuân M kiện yêu cầu ông Lê Trọng H trả lại đất lấn chiếm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH QUẢNG BÌNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 09/2019/DS - PT
Ngày: 16 - 4 - 2019
V/v đòi lại đất bị lấn chiếm
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phu
́
c thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Nguyễn Văn Nghĩa
Các Thâ
̉
m pha
́
n: Bà Từ Thị Hải Dương
Ông Võ Bá Lưu
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Thuận Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên a:
Bà Nguyễn Thị Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2019, tại phòng xét xử án dân sự Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Bình, xét xử phu
́
c thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2019/TLPT - DS ngày
28 tháng 02 năm 2019, về việc đòi lại đất bị lấn chiếm.
Do Bản án dân sự sơ thẩm s 01/2019/DS ST ngày 23 tháng 01 năm 2019
của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 535/2019/QĐ - PT ngày 05 tháng 4
năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đinh Xuân M, sinh năm 1962; bà Đinh Thị H, sinh năm
1965
Đều trú tại: Thôn B, xã Th, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Có mặt
- Bị đơn: Ông Trọng H, sinh năm 1968; Nguyễn Thị H, sinh năm
1966
Đều trú tại: Thôn B, xã Th, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Bình
Địa chỉ: Thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Hồ Duy Ph Phó trưởng
phòng Tài nguyên i trường huyện T, đơn đề nghị xử vắng mặt (văn bản
ủy quyền ngày 17/8/2018).
- Người kháng cáo: Ông Lê Trọng H, bà Nguyễn Thị H
2
Trú tại: Thôn B, xã Th, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án n sự thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa thì nội
dung vụ án như sau:
Năm 2003, ông Đinh Xuân M, Đinh Thị H được Ủy ban nhân dân (viết
tắt UBND) huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ)
với diện tích 113.000 m
2
tại thửa đất s76 tờ bản đồ số 53 thôn B, Th. Năm
2008, ông bà được UBND huyện T cấp đổi GCNQSDĐ số AO 827045 với tổng
diện tích 124.836 m
2
gồm 3 thửa 270, 345 1046, tờ bản đồ số 15 tại NTK 53/7
thôn B, xã Th.
Năm 2007 ông Trọng H, Nguyễn Thị H đã lấn chiếm trồng cây keo,
gia đình ông đã đơn kiến nghị chính quyền ngăn chặn nhưng ông H, H
không chấp hành và trồng keo đến nay. Tháng 11 năm 2017 ông H, bà H dựng nhà
trại chăn nuôi trên diện tích đất của gia đình ông nên xảy ra tranh chấp, vụ
việc được UBND xã Th hòa giải nhưng không đạt kết quả, vì vậy ông bà khởi kiện
đến a án yêu cầu ông Trọng H, Nguyễn Thị H trả lại diện tích đất đã lấn
chiếm 10.000 m
2
và chuyển nhà, trại chăn nuôi ra khỏi phần đất đã lấn chiếm.
Ông Trọng H, Nguyễn Thị H trình bày: Diện tích đất ông M, H
tranh chấp có nguồn gốc của ông Võ Văn N ở thôn B, xã Th bán lại cho gia đình
ông từ năm 2002. Năm 2003 ông N làm giấy chuyển nhượng diện tích 05 ha
cho vợ chồng ông với g6.500.000 đồng. Khi nhận chuyển nhượng thửa đất
chưa được cấp GCNQSDĐ, hiện nay ông chưa được cấp GCNQSDĐ cũng như
các giấy tờ liên quan đến thửa đất, trên diện tích thửa đất lúc ông nhận chuyển
nhượng của ông N ruộng và một số cây ngắn ngày như chuối, tre, nhãn, chanh
trồng đậu lạc, sắn. Sau đó gia đình ông trồng cây keo đã khai thác được
hai lứa. Cuối năm 2017 ông M, bà H khởi kiện tranh chấp đất đai. Hai bên đã được
UBND Th hòa giải nhưng ông M, H không đồng ý đã khởi kiện đến Tòa án
nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ông Hồ Duy Ph người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện T trình
bày: Thực hiện quy định của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho
tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, sau khi kiểm tra quy trình,
hồ sơ, thủ tục trình tự giao đất cấp GCNQSDĐ cho các cá nhân trên địa bàn
Th. Ngày 16 tháng 9 năm 2003 ông Đinh Xuân M, Đinh Thị H được cấp
GCNQSDĐ với diện tích 113.000 m
2
đất tại thửa số 76 tờ bản đồ số 53, trạng thái
rừng 2A, rừng trồng sản xuất, tại thôn B, Th. Cùng thời gian ông Trọng H,
bà Nguyễn Thị H được cấp GCNQSDĐ với diện tích 115.000 m
2
tại thửa số 02, tờ
bản đồ số 52, trạng thái rừng 2A, tại thôn B, xã Th.
3
Thực hiện chủ trương đo đạc bản đồ, lập hồ địa chính cấp đổi
GCNQSDĐ, ngày 06/8/2008 ông Đinh Xuân M, Đinh Thị H được cấp đổi
thành GCNQSDĐ sAO 827045 với tổng diện tích là 124.836 m
2
gồm 3 thửa
270, 345 1046, tờ bản đồ số 15 tại NTK TK 53/7 thôn B, Thuận H. Ngày
10/12/2008 ông Lê Trọng H, bà Nguyễn Thị H được cấp đổi thành GCNQSDĐ số
AO 827085 với tổng diện tích 98.427m
2
tại thửa đất số 64, tờ bản đồ số 15 thôn B,
xã Th. Thửa đất của ông H, bà H được cấp không nằm liền kề thửa đất của ông M,
bà H.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2019/DS-ST ngày 23/01/2019 Toà án nhân
dân huyện Tuyên Hóa đã quyết định:
1. Tuyên bố: Chấp nhận đơn khởi kiện "đòi lại đất bị lấn chiếm" của ông
Đinh Xuân M, bà Đinh Thị H đối với ông Lê Trọng H, bà Nguyễn Thị H.
Căn cứ Điều 166, Điều 189 Bộ luật dân sự; Điều 135, Điều 202, Điều 203
Luật đất đai năm 2013 buộc ông Trọng H, Nguyễn Thị H trả lại cho ông
Đinh Xuân M, Đinh Thị H diện tích đất đã lấn chiếm
10.646 m
2
đồ kèm
theo, gồm khu vực 3 khu vực 4 tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất ông M
thửa số 270 chiều dài 37,73 mét; Phía Tây giáp với đất ông H đang sử dụng
chiều 33,77 mét; Phía Nam giáp đất ông M số thửa 1046 chiều dài 223 mét;
Phía bắc giáp bờ suối có dạng hình sin có chiều dài 276,93 mét.
2. Về tài sản trên đất: Gia đình ông Đinh Xuân M, Đinh Thị H được sở
hữu số cây keo trên diện tích 10.646 m
2
và có nghĩa vụ trả lại cho ông Lê Trọng H,
Nguyễn Thị H giá trị cây keo đã định giá 28.636.000đ (hai mươi tám triệu
sáu trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
3. Về chi phí thẩm định định giá tài sản: n cứ Điều 157, Điều 158,
Điều 165, khoản 1 Điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự buộc ông Lê Trọng H nghĩa
vụ trả lại cho ông Đinh Xuân M số tiền 700.000 đồng mà ông M đã nộp.
4. Gia đình ông Trọng H, Nguyễn Thị H nghĩa vụ phải tháo dỡ, di
dời căn nhà gỗ tạm, lợp phi bro xi măng và chuồng trại chăn nuôi có diện tích tổng
cộng 71,79 m
2
do xây dựng trên đất đã được giao cho ông Đinh Xuân M để trả lại
hiện trạng đất cho ông Đinh Xuân M, bà Đinh ThH sử dụng theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về phần án phí, chịu lãi suất chậm
trả, quyền, nghĩa vụ thi hành án và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 12 tháng 12 năm 2018 bị đơn ông Trọng H, Nguyễn Thị H
kháng cáo toàn bộ bản án thẩm của Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá với nội
dung: Diện tích đất nói trên gia đình ông đã mua của ông Văn N 6.500.000
đồng từ năm 2002 và sử dụng ổn định từ đó cho tới nay ông bà đề nghị Tòa án cấp
4
phúc thẩm giải quyết để ông được sử dụng theo đúng mốc ranh giới ông đã
mua.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn giữ nguyên đơn khởi kiện, bị đơn giữ
nguyên đơn kháng cáo các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân n tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa phúc
thẩm phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm các đương sự người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghi
̣
̣
i đồng xe
́
t xư
̉
không chấp nhận đơn kháng cáo
của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi xem xét nội dung kháng cáo, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã
được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; kết quả tranh luận, ý kiến của kiểm sát
viên; nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ngày 23 tháng 01 năm 2019 a án nhân dân huyện Tuyên Hóa xét xử
thẩm vụ án ́ 01/2019/DS ST về đòi lại đất blấn chiếm, ngày 12 tháng 02
năm 2019 bị đơn ông Trọng H, Nguyễn Thị H làm đơn kháng cáo, đơn
kháng cáo của bị đơn làm quá hạn luật định nhưng xét thấy thời hạn kháng cáo vụ
án của các đương sự trùng các ngày nglễ tết nguyên đán, bị đơn đã nộp đủ tiền
tạm ứng án phí phúc thẩm đúng quy định tại Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật tố
tụng dân sự, tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn trình bày do khách quan nên nộp
đơn kháng cáo quá hạn, do đó cần chấp nhận để xét xử phúc thẩm.
[2] Năm 2003, ông Đinh Xuân M, Đinh Thị H được Ủy ban nhân dân
(viết tắt UBND) huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt
GCNQSDĐ) với diện tích 113.000 m
2
tại thửa đất số 76 tờ bản đồ số 53 thôn B, xã
Th. ng thời gian ông Trọng H, Nguyễn Thị H được cấp GCNQSDĐ với
diện tích 115.000 m
2
tại thửa số 02, tờ bản đồ số 52, trạng thái rừng 2A, tại thôn B,
xã Th.
Ngày 01 tháng 12 năm 2008, ông M, H được UBND huyện T cấp đổi
GCNQSDĐ số AO 827045 với tổng diện tích 124.836 m
2
gồm 3 thửa 270, 345
1046, tờ bản đồ số 15 tại NTK TK 53/7 thôn B, Th. Ngày 10 tháng 12 năm
2008 ông Trọng H, bà Nguyễn ThH được cấp đổi thành GCNQSDĐ sAO
827085 với tổng diện tích 98.427m
2
tại thửa đất s64, tờ bản đsố 15 thôn B, xã
5
Th. Thửa đất của ông H, bà H được cấp không nằm liền kề thửa đất của ông M, bà
H.
[4] Kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết để được sử dụng
đúng theo mốc giới đã mua của bị đơn ông Lê Trọng H, bà Nguyễn Thị H thấy: Bị
đơn trình bày diện ch đất đang tranh chấp với ông M, H nguồn gốc của
ông Võ Văn N người cùng thôn khai hoang bán lại cho gia đình bị đơn 6.500.000
đồng từ năm 2002, sau đó gia đình bị đơn sử dụng ổn định từ đó cho tới nay. Quá
trình thu thập chứng cứ ở cấp sơ thẩm bị đơn xuất trình 01 bản phô tô giấy chuyển
nhượng đất giữa bị đơn ông Võ Văn N lập ngày 12/5/2003 có ông Trần Xuân V
- Trưởng thôn B xác nhận, trong giấy chuyển nhượng này không nói diện tích
chuyển nhượng ranh giới thửa đất; 01 bản pho giấy chuyển nhượng một số
loại cây đất ruộng 1.000m
2
, đất Cn hai mẫu ông Nguyễn Thế C làm
chứng. Trong hai bản phô giấy chuyển nhượng không đất rừng sản xuất, tại
phiên tòa phúc thẩm bị đơn thừa nhận năm 2007 bị đơn phát rừng trồng cây Keo
thì xảy ra tranh chấp với nguyên đơn, ngoài hai tài liệu nêu trên bị đơn không xuất
trình được chứng cứ nào khác chứng minh diện tích đất đang tranh chấp với
nguyên đơn thuộc quyền quản lý, sử dụng của mình. Mặt khác, bị đơn cho rằng
diện tích đất đang tranh chấp bị đơn đã mua của ông Văn N khai hoang từ năm
2002 nhưng hiện nay ông Nồng đã già yếu không còn minh mẫn, t khi nhận
chuyển nhượng cho đến nay bị đơn không làm thủ tục để yêu cầu cơ quan có thẩm
quyền công nhận quyền quản lý, sử dụng của mình liên quan đến diện tích đất
tranh chấp.
[5] Căn cứ hồ sơ, tọa độ được xác định trong cấp GCNQSDĐ của nguyên
đơn, tờ bản đồ số 15 thôn B, Th, huyện T, cùng kết quả thẩm định tại chổ ngày
04/10/2018 các phân tích tại mục [4] đã cơ sở xác định bị đơn đã lấn chiếm
10.646m
2
đất của nguyên đơn. Do đó Tòa án cấp thẩm xử buộc bị đơn trả lại
cho nguyên đơn toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm đúng quy định, vì vậy kháng
cáo của bị đơn đối với các nội dung của bản án sơ thẩm không được chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về chi phí thẩm định, định giá
nghĩa vụ chịu án phí dân sự giá ngạch của nguyên đơn không kháng cáo,
kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không giải quyết, hiệu lực pháp luật kể
từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Bị đơn kháng o không được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận nên
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
6
Căn cứ khoản 1 Điều 157, Điều 158, Điều 165, khoản 1 Điều 166 Điều 272,
Điều 273, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng Dân s; Điều 166, Điều 189
Điều 191 Bluật Dân sự năm 2015; Điều 135 Điều 203 Luật đất đai; khoản 1
Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường
vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Toà án. Xử:
1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Trọng H, bà Nguyễn Thị H.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 01/2019/DS - ST nga
̀
y 23 tháng 01 năm
2019 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
2. Buộc ông Lê Trọng H, bà Nguyễn Thị H trả lại cho ông Đinh Xuân M, bà
Đinh Thị H 10.646 m
2
đất với các cạnh như sau: Phía Đông giáp đất ông M, bà H
(tại thửa số 270) dài 37,73 mét; phía Tây giáp với đất ông H, H đang sử dụng
dài 33,77 mét; phía Nam giáp đất ông M, H (thửa số 1046) dài 223 mét; phía
Bắc giáp bờ suối có dạng hình sin dài 276,93 mét (có sơ đồ thửa đất kèm theo bản
án).
3. Ông Đinh Xuân M, Đinh Thị H được sở hữu toàn bộ số cây keo trên
diện tích 10.646 m
2
nhưng có nghĩa vụ trả lại cho ông Lê Trọng H, Nguyễn Thị
H 28.636.000 đồng (hai mươi tám triệu, sáu trăm ba mươi sáu nghìn đồng) giá trị
cây keo đã trồng.
4. Buộc ông Lê Trọng H, bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả lại cho ông Đinh
Xuân M, Đinh Thị H 700.000 đồng (bảy trăm ngàn đồng) tiền chi pthẩm
định, định giá.
5. Ông Lê Trọng H, bà Nguyễn Thị H phải chuyển 01 nhà gỗ, lợp phi bro xi
măng chuồng trại chăn nuôi có tổng diện tích 71,79 m
2
ra ngoài diện ch đất
của ông Đinh Xuân M, bà Đinh Thị H.
6. Ông Lê Trọng H, Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ
thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ 300.000 tiền tạm ứng án
phí phúc thẩm đã nộp tại biên lai số 0003699 ngày 18 tháng 02 năm 2019 của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa. Ông Đinh Xuân M, bà Đinh Thị H phải
chịu 1.431.000 đồng án phí dân sự có giá ngạch, được trừ 300.000 tiền tạm ứng án
phí thẩm đã nộp tại biên lai số 0003604 ngày 27 tháng 02 năm 2018 của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa.
Tuyên bố: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án,
bên nghĩa vụ thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với
thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
7
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 16/4/2019.
Nơi nhâ
̣
n: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TANDCC tại Đà Nẵng; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh QB (P9);
- TAND huyện Tuyên Hóa;
- CCTHADS huyện Tuyên Hóa;
- Các đương sự; (đã ký)
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Nguyễn Văn Nghĩa
Tải về
Bản án số 09/2019/DS Bản án số 09/2019/DS

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất