Bản án số 08/2024/DS-ST ngày 20/08/2024 của TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 08/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 08/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 08/2024/DS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 08/2024/DS-ST ngày 20/08/2024 của TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương về tranh chấp quyền sử dụng đất |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Ninh Giang (TAND tỉnh Hải Dương) |
Số hiệu: | 08/2024/DS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 20/08/2024 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Bà T yêu cầu ông T phải trả lại diện tích đất lấn chiếm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 08/2024/DS-ST
Ngày 20/8/2024
“V/v: Tranh chấp ranh giới quyền sử
dụng đất”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm (HĐXX) gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Xuân Trường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Duy Tuần; ông Vũ Hồ Phương
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Ninh Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang tham gia phiên toà: Bà
Phạm Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ninh Giang,
mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 31/2023/TLST-DS,
ngày 21 tháng 11 năm 2023, về việc tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất, theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm
2024, giữa:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1949; Địa chỉ: Thôn 1, xã V, huyện
Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Việt H,
sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn 1, xã V, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương) - Có
mặt
Bị đơn: Ông Trần Đình T, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm
1966; Địa chỉ: Thôn 1, xã V, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương - Có mặt
Người có quyền lợi liên quan: UBND xã V, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải
Dương - Có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền trình bày: Bà Lê Thị T đã ly
hôn với chồng ông Phạm Văn V từ năm 1982. Năm 1990 bà được UBND xã V cấp
sử dụng riêng thửa đất số 2, diện tích 122m
2
(đất ở) và thửa đất số 3, diện tích
138m
2
(đất ao thừa), đều thuộc tờ bản đồ số 2, được UBND huyện Ninh Thanh,
tỉnh Hải Hưng đã cấp GCNQSDĐ số G 495665, ngày 15/6/1996, chủ sử dụng bà
Phạm Thị T (Đã đính chính mang tên bà Lê Thị T). Phía Tây giáp thửa đất của ông
2
T, bà M, phía Đông giáp đất bà Phúc, phía Nam giáp đường tỉnh lộ 392, phía Bắc
giáp đất công và trạm điện. Hiện trạng khi được cấp đất là thùng vũng, năm 2000
bà xây nhà mái bằng 1/2 thửa đất phía giáp ranh đất bà Phúc, phần đất giáp ranh
đất ông T chưa xây dựng công trình. Nguồn gốc đất của ông T đang sử dụng là của
ông Bẩy, bà Thái mua đất của UBND xã V từ năm 1993, sau đó bà Thái bán thửa
đất cho ông T, sau này được nhà nước hợp pháp hóa, cấp GCNQSDĐ cho ông T,
bà M sử dụng. Sau khi được cấp đất gia đình ông Hay, bà Phúc vượt lập xây nhà
trước, bà T xây sau, sau này bà Phúc bán đất cho gia đình ông Hồi sử dụng, ranh
giới đất hai bên là chính giữa hai công trình nhà ở, không có tranh chấp. Năm 2012
hai bên đã kiểm tra đất và xác định ông T xây nhà cấp 4 làm dịch vụ xay sát lấn
chiếm đất của bà, hai bên đã thống nhất ký bản cam kết nội dung ông T phải dỡ bỏ
tường bao và một phần nhà xay sát để trả lại đất cho bà sử dụng theo đúng kích
thước ghi trong GCNQSDĐ, sau đó ông T chỉ thực hiện phá dỡ một phần chân
tường của nhà xay sát và bức tường bao ranh giới đất. Do ông T không trả lại đủ
đất cho bà nên ngày 21 tháng 10 năm 2021, UBND xã V tiếp tục lập Biên bản làm
việc, hai bên tiếp tục xác định ranh giới đất bà T căn cứ theo số đo tại cạnh phía
Bắc 9.7m, phía Nam 10.2m (đo từ phía Đông sang phía Tây), tuy nhiên ông T, bà
M vẫn không thực hiện trả đất cho bà. Do vậy đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông
T, bà M phải dỡ bỏ công trình xây lấn chiếm để trả lại đất cho bà có diện tích
khoảng 15 m
2
Bị đơn trình bày: Tôi được sử dụng hợp pháp thửa đất số 41, tờ bản đồ số
44, diện tích 128 m
2
, đất ở nông thôn, địa chỉ tại xã V, huyện Ninh Giang, UBND
huyện Ninh Giang cấp GCNQSDĐ ngày 08/5/2020, chủ sử dụng Trần Đình T,
Nguyễn Thị M. Phía Đông giáp đất bà T, phía Nam giáp đường tỉnh lộ 392, phía
Bắc đất công và đất giáp trạm điện, phía Tây giáp thửa đất của tôi cho con trai
Trần Đình Tiệp. Do có tranh chấp ranh giới nên UBND xã V đã tổ chức 4 lần hòa
giải, hai bên đã thống nhất thỏa thuận tôi phải dỡ bỏ bức tường bao và một phần
tường nhà cấp 4 xay sát để trả lại cho bà T, tôi đã phá dỡ một phần móng nhà cấp 4
và tường bao trả lại đất cho bà T nhưng bà T không đồng ý và khởi kiện, quan
điểm của tôi thấy rằng thửa đất của tôi là không thừa không thiếu so với
GCNQSDĐ, tôi không lấn chiếm, do vậy không nhất trí yêu cầu khởi kiện của bà
T. Đề nghị Tòa án đo các thửa đất cạnh giáp ranh phía Đông đất bà T và ông Hồi
để xác định ranh giới. Trường hợp tòa án giải quyết tôi có xây dựng nhà cấp 4 xay
sát gạo lấn chiếm sang đất của bà T thì tôi tự nguyện dỡ bỏ, nếu tôi không lấn
chiếm thì bà T phải có trách nhiệm bồi thường danh dự cho tôi.
Kết quả xác minh tại UBND xã V: Theo hồ sơ 299, hai thửa đất tranh chấp
là đất nông nghiệp. Theo bản đồ và Sổ mục kê lập năm 1993 tại xã V xác định: Bà
T được giao sử dụng thửa đất số 02, tờ bản đồ số 02, diện tích 122 m
2
đất ở và

3
thửa đất số 03 có diện tích 138 m
2
đất ao thừa hợp pháp lâu dài, có địa chỉ tại xã
V, huyện Ninh Giang. Thửa đất được UBND huyện Ninh Thanh, tỉnh Hải Hưng
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/6/1996, bà T sử dụng đất hợp
pháp, ngoài việc gia đình ông T tranh chấp ranh giới thì thửa đất không tranh chấp
với các hộ liền kề khác. Đối với thửa đất của ông T, bà M sử dụng có nguồn gốc
được UBND xã V giao trái thẩm quyền cho bà Thái, ông Bẩy, Quyết định số
313/QĐ-UB, ngày 24/5/2004, UBND huyện Ninh Giang đã hợp pháp hóa sử dụng đất
cho ông Nguyễn Đắc Bình (Con của bà Thái, ông Bẩy), ông Trần Đình T, bà Nguyễn
Thị M nhận chuyển nhượng lại thửa đất, ngày 08/5/2020 ông T, bà M được UBND
huyện Ninh Giang cấp GCNQSDĐ số thửa 41, tờ bản đồ số 44, diện tích 128 m
2
,
việc sử dụng đất là hợp pháp. Hiện trạng thửa đất do các bên sử dụng so với hồ sơ
địa chính có sự chênh lệch về diện tích là do chủ sử dụng đất lấn chiếm đất công
do UBND xã quản lý, trong quá trình giải quyết vụ án đề nghị Tòa án tạm giao cho
người đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất, sau này UBND xã sẽ xem xét xử lý theo
quy định của pháp luật. UBND xã V đã nhiều lần tổ chức hòa giải, các bên đã
thống nhất nội dung “Khi bà T cần dùng đến đất thì nhà ông T phải có trách nhiệm
phá dỡ công trình theo đúng bìa đỏ của bà T…”. Sau này do ông T không phá dỡ
đúng như thỏa thuận nên xảy ra tranh chấp, UBND xã nghị Tòa án giải quyết vụ án
theo quy định của pháp luật.
Đại diện VKSND huyện Ninh Giang tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về
việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa
và của những người tham gia tố tụng đến trước thời điểm nghị án là đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 166, 170, 202,
203 của Luật đất đai 2013; Điều 175, 176 Bộ luật dân sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng
dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận
một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trần Đình T, bà Nguyễn
Thị M phải phá dỡ công trình nằm trên đất lấn chiếm để trả lại cho bà Lê Thị T
diện tích đất lấn chiếm theo đúng kích thước GCNQSDĐ của bà T có cạnh phía
Bắc 9.7m, phía Nam 10.2m, phía Đông 12.2+13,2m, phía Tây 12.5+13.8m. Chấp
nhận sự tự nguyện của nguyên đơn chịu toàn bộ chi phí tố tụng. Các đương sự là
người cao tuổi được miễn tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai
tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định:
[1] Căn cứ vào hồ sơ địa chính của hai thửa đất tranh chấp và kết quả xác
minh tại UBND xã V, có căn cứ xác định: Bà Lê Thị T được sử dụng riêng, hợp
4
pháp thửa đất số 2, diện tích 122m
2
đất ở và thửa số 03 , diện tích 138m
2
đất ao
thừa hợp pháp lâu dài, đều thuộc tờ bản đồ số 2; thửa đất được UBND huyện Ninh
Thanh, tỉnh Hải Hưng cấp GCNQSDĐ ngày 15/6/1996, chủ sử dụng đất bà Phạm
Thị T (đã đính chính Lê Thị T); ông Trần Đình T, bà Nguyễn Thị M, được sử dụng
hợp pháp thửa đất số 41, tờ bản đồ số 44, diện tích 128m
2
đất ở nông thôn, đều có
địa chỉ tại xã V, huyện Ninh Giang, được UBND huyện Ninh Giang cấp
GCNQSDĐ ngày 08/5/2020. Cạnh phía Đông thửa đất của bà T đã xây dựng công
trình nhà kiên cố giáp ranh với đất gia đình bà Phúc, sau đó bà Phúc chuyển
nhượng đất cho ông Hồi, các chủ sử dụng đất đều thống nhất ranh giới, không có
tranh chấp; cạnh phía Tây thửa đất chưa xây dựng công trình và tranh chấp ranh
giới với thửa đất của ông T, bà M.
[2] Việc tranh chấp ranh giới nêu trên hai bên đã được hai bên thống nhất
giải quyết theo Biên bản cam kết lập ngày 04/12/2012, nội dung“…Qua kiểm tra
ngày 01/12/2012 thì gia đình ông T có xây dựng một số công trình sang đất nhà bà
T, cụ thể là: Phía trước đường 20 tường nhà máy xay sát xây sang đất bà T; phía
Tây tường bao xây sang đất bà T. Vậy nay có bản cam kết này để sau này khi nhà
bà T cần dùng đến đất thì nhà ông T phải có trách nhiệm phá dỡ công trình theo
đúng bìa đỏ của bà T là: Từ nhà ông Hay sang là 10.20m; đằng sau từ nhà ông
Hay là 9.7m”. Ngoài ra tại Biên bản làm việc do UBND xã V lập ngày 21 tháng 10
năm 2021, hai bên tiếp tục xác định ranh giới đất của bà T được xác định theo
GCNQSDĐ, cụ thể là đo từ phía Đông về phía Tây để xác định cạnh phía Bắc
9.7m, cạnh phía Nam 10.2m. Thực hiện cam kết ông T đã phá dỡ tường bao ranh
giới và một phần chân móng tường nhà cấp 4, phần còn lại chưa phá dỡ nên tiếp
tục xảy ra tranh chấp. Tại phiên tòa các đương sự đều công nhận nội dung thỏa
thuận nêu trên là đúng, do vậy được coi là chứng cứ để xem xét, giải quyết vụ án.
[3] Theo sơ đồ hiện trạng thửa đất đo vẽ từ năm 2014 đã thể hiện một phần
nhà cấp 4 của ông T, bà M về phía Đông xây sang đất của bà T. Năm 2020 ông T,
bà M được cấp GCNQSDĐ lần đầu, theo hồ sơ cấp GCNQSDĐ thì ranh giới hai
thửa đất được xác định theo đúng sự thống nhất của các bên, cụ thể là xác định
ranh giới theo kích thước thửa đất bà T theo GCNQSDĐ có cạnh phía Bắc 9.7m,
phía Nam 10.2m, phía Đông 12.2+13,2m, phía Tây 12.5+13.8m, không xác định
ranh giới theo hiện trạng công trình nhà cấp 4 và tường bao của ông T, bà M có
cạnh phía Bắc 9.54m, cạnh phía Nam 10.15m.
[4] Về cạnh phía Đông đất bà T giáp ranh với đất ông Hồi có ranh giới là
điểm giữa hai công trình nhà ở, được các bên công nhận, do vậy xác định là ranh
giới lịch sử để làm cơ sở đo đạc, giải quyết tranh chấp, theo đó theo kết quả đo đạc
hiện trạng xác định cạnh phía Bắc đất bà T 9.54m (thiếu 0.16m), cạnh phía Nam
10.15m (thiếu 0.05m) so với GCNQSDĐ. Về chiều dọc thửa đất tranh chấp theo
5
GCNQSDĐ là một đường thẳng, do vậy xác định ranh giới thửa đất của bà T và
thửa đất của ông T, bà M là một đường thẳng kéo từ điểm 9.7m phía Bắc đến điểm
10.2m cạnh phía Nam.
[5] Căn cứ vào Bản cam kết và Biên bản làm việc thống nhất mốc giới của
hai bên đương sự phù hợp với hồ sơ địa chính hai thửa đất như đã phân tích tại
phần trên, có căn cứ xác định ông T, bà M đã xây dựng công trình lấn chiếm sang
đất của bà T là 2,1 m
2
, do vậy HĐXX buộc ông T, bà M phải có trách nhiệm phá
dỡ một phần bức tường nhà xay sát và toàn bộ tường bao ranh giới được ngăn bằng
các viên ngói proximang để trả lại cho bà T diện tích đất lấn chiếm theo không
gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới thửa đất của bà T.
[6] Về án phí: Các đương sự là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí dân
sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 11, 26, 31, 236 Luật đất đai 2024; Điều 164, 166, 175 của Bộ
luật dân sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13
ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Toà án.
1. Xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T:
1.1 Xác nhận ông Trần Đình T, bà Nguyễn Thị M đã xây dựng một phần
bức tường nhà cấp 4 và tường ranh giới được dựng bằng các viên ngói proximang
lấn chiếm sang thửa đất số 2, tờ bản đồ số 2, diện tích 122 m
2
đất ở và thửa số 03,
tờ bản đồ số 2, diện tích 138 m
2
đất ao thừa hợp pháp lâu dài (Diện tích hiện trạng
353,4 m
2
) tại xã V, huyện Ninh Giang; thửa đất do UBND huyện Ninh Thanh, tỉnh
Hải Hưng cấp GCNQSDĐ ngày 15/6/1996 cho bà Phạm Thị T (đã đính chính Lê
Thị T).
1.2 Xử buộc ông Trần Đình T, bà Nguyễn Thị M phải phá dỡ công trình
nằm trên đất lấn chiếm để trả lại cho bà Lê Thị T diện tích đất tổng cộng là 2,1 m
2
(gồm các đoạn từ A1, A17, A18, A19, B4 = 1,1 m
2
và đoạn từ A19, B2, B1 A19 =
1.0 m
2
). Ranh giới thửa đất của bà Lê Thị T với ông Trần Đình T, bà Nguyễn Thị
M được xác định là các đoạn từ B1, A19, B4, B5.
Trường hợp ông Trần Đình T, bà Nguyễn Thị M không tự nguyện phá dỡ thì
sẽ bị cưỡng chế phá dỡ và chịu chi phí cưỡng chế phá dỡ theo quy định của pháp luật.
1.3 Tạm giao 96,8 m
2
đất dôi dư giáp cạnh phía Bắc của thửa đất cho bà Lê
Thị T quản lý, sử dụng, sau này nhà nước xem xét xử lý theo quy định của pháp
luật.
6
(Có sơ đồ đo vẽ chi tiết ranh giới đất bà T và phần diện tích ông T bà M lấn
chiếm đất kèm theo bản án).
2. Về chi phí thẩm định và định giá tài sản: Chấp nhận sự tự nguyện của
nguyên đơn chịu toàn bộ tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản là 4.200.000 (Bốn
triệu hai trăm ngàn đồng).
3. Về án phí: Nguyên đơn, bị đơn đều là người cao tuổi được miễn nộp tiền tạm
ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7 a, 7 b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện Ninh Giang;
- Chi cục THADS huyện Ninh Giang;
- Lưu hồ sơ.ỘI THẨM NHÂN DÂN
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Hà Xuân Trường
7
Thành viên Hội đồng xét xử
Nguyễn Tất Trọng Phạm Huy Điệu
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Hà Xuân Trường
[2] Việc tranh chấp ranh giới các bên đã thống nhất giải quyết theo Biên bản
cam kết lập ngày 04/12/2012, nội dung“…Qua kiểm tra ngày 01/12/2012 thì gia
đình ông T có xây dựng một số công trình sang đất nhà bà T, cụ thể là: Phía trước
đường 20 tường nhà máy xay sát xây sang đất bà T; phía Tây tường bao xây sang
đất bà T. Vậy nay có bản cam kết này để sau này khi nhà bà T cần dùng đến đất
thì nhà ông T phải có trách nhiệm phá dỡ công trình theo đúng bìa đỏ của bà T là:
Từ nhà ông Hay sang là 10.20m; đằng sau từ nhà ông Hay là 9.7m”. Ngoài ra hai
bên còn thống nhất xác định ranh giới tại Biên bản làm việc thống nhất mốc giới
đất thổ cư nhà bà T và ông T do UBND xã V lập ngày 21 tháng 10 năm 2021, đã
thống nhất xác định điểm ranh giới đất phía Đông của bà T (giáp đất ông Hồi) và
xác định ranh giới cạnh phía Tây đất bà T (giáp đất ông T) là căn cứ theo số đo
theo GCNQSDĐ, có cạnh phía Bắc 9.7m, phía Nam 10.2m.
[3] Theo sơ đồ hiện trạng thửa đất đo vẽ năm 2014 thể hiện một phần nhà
cấp 4 xay sát thóc, gạo của ông T về phía Đông đã xây sang đất của bà T. Năm
8
2020 ông T được cấp GCNQSDĐ lần đầu, ranh giới cấp GCNQSDĐ theo xác
minh được xác định theo kích thước thửa đất bà T (cạnh phía Bắc 9.7m, phía Nam
10.2m), không xác định ranh giới theo hiện trạng và công trình nhà cấp 4 của ông
T (cạnh phía Bắc 9.54m, phía Nam 10.15m), đây là lý do cạnh ranh giới theo
GCNQSDĐ là một đường thẳng nhưng hiện trạng đất không là đường thẳng. Về
cạnh phía Đông đất bà T giáp ranh với đất ông Hồi có ranh giới là điểm giữa hai
công trình nhà ở, được các bên công nhận, do vậy xác định là ranh giới lịch sử để
làm cơ sở đo đạc, giải quyết tranh chấp, theo đó xác định cạnh phía Bắc hiện trạng
đất bà T thiếu 0.16m, cạnh phía Nam hiện trạng thiếu 0.05m so với GCNQSDĐ,
chiều dài thửa đất phần giáp ranh công trình xây lấn chiếm không đồng đều, tổng
cộng diện tích đất ông T xây dựng công trình lấn chiếm đất bà T là 3.2 m
2
.
[4] Căn cứ vào Bản cam kết và Biên bản làm việc thống nhất mốc giới của
hai bên đương sự phù hợp với hồ sơ địa chính hai thửa đất như đã phân tích tại
phần trên, có căn cứ xác định ông T, bà M đã xây dựng công trình lấn chiếm sang
đất của bà T, do vậy HĐXX chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, buộc ông T, bà M phải có trách nhiệm phá dỡ một phần bức tường nhà xay sát
và toàn bộ tường bao ranh giới để trả lại cho bà T diện tích đất lấn chiếm tổng cộng
là 3.2 m
2
, theo không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới thửa đất
của bà T.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 10/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 10/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Bản án số 152/2025/DS-PT ngày 10/03/2025 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp quyền sử dụng đất
Ban hành: 10/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 09/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 07/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 06/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm