Bản án số 08/2023/HS-ST ngày 31/03/2023 của TAND huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 08/2023/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 08/2023/HS-ST ngày 31/03/2023 của TAND huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
Tội danh: 285.Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Phước Sơn (TAND tỉnh Quảng Nam)
Số hiệu: 08/2023/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/03/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN PHƯỚC SƠN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 08/2023/HS-ST
Ngày: 31 - 3 - 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Bàng
Ông Lưu Thành Tuấn
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ng Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam
tham gia phiên toà: Ông Hồ Văn Đờ - Kiểm sát V.
Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Sơn,
tỉnh Quảng Nam xét xử thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 04/2023/HS-ST
ngày 16/02/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xsố: 06/QĐXXST - HS ngày
17/3/2023 đối với bị cáo:
Trần Thị Tích Đ; sinh ngày 07 tháng 02 năm 1958; tại: thành phố T, tỉnh Q;
Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Khối phố K, phường H, thành phố T, tỉnh Q; nghề
nghiệp: Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại dịch vụ Đ (Viết tắt
Công ty Đ); trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn
giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Trọng N (SN: 1933, chết) và
Nguyễn Thị Quế H (SN: 1931); chồng Hồ Văn H (SN: 1958) 02 con, con lớn
sinh năm 1981, con nhỏ sinh năm 1984; tiền án, tiền sự: Không; bcáo đang bị áp
dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Nguyên đơn dân sự:
Ban Qun K
Địa chỉ trụ sở: Tổ dân phố số 1, thtrấn K, huyn P, tỉnh Q
2
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự: Ông Nguyễn Tấn B -
Chức vụ: Phó Giám đốc, theo văn bản ủy quyền ngày 30/3/2023, mặt tại phiên
tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Trần Trọng V, sinh năm: 1997; Nơi cư trú: Khối phố K, phường H, thành phố
T, tỉnh Q, vắng mt.
Nguyễn Quốc T, sinh năm: 1958, Nơi cư trú: Tổ 9, phường T, quận H, thành
phố Đg, có mặt tại phiên tòa.
Dương Văn N1, sinh năm: 1973; Nơi cư trú: Thôn M, xã Đ, huyện L, tỉnh Q,
vắng mt.
Phùng Trung C, sinh năm: 1983; Nơi trú: 33 đường L, thành phố T, tỉnh
Q, vắng mt.
A Lăng Ng, sinh năm: 1977; Nơi trú: Tổ dân phố số 5, thị trấn K, huyện P,
tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.
Nguyễn M, sinh năm: 1978; Nơi cư trú: Tổ dân phố số 5, thị trấn K, huyn P,
tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Ngày 19/01/2021, UBND tỉnh Q ban hành Quyết định số 186/QĐ-UBND
phê duyệt Báo cáo kinh tế kthuật Công trình trồng rừng thay thế diện tích rừng
chuyển mục đích sử dụng sang mục đích khác do Ban Quản K thực hiện tại
khoảnh 3, 4, 5 tiểu khu 689 K, huyện P, tỉnh Q. Dự toán kinh phí đầu
2.192.900.000 đồng (Hai tỷ, một trăm chín mươi hai triệu, chín trăm nghìn đồng).
Ngày 16/3/2021, Ban Quản K (gọi tắt chủ đầu tư) kết hợp đồng số
01/2021/HĐ-XD với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T (Viết tắt Công
ty T) (Địa chỉ tại 526/7 đường T, phường T, quận H, TP. Đ; người đại diện hợp
pháp là ông Nguyễn Quốc T; chức vụ: Giám đốc - gọi tắt là đơn vị thi công) về việc
giao cho Công ty T thi công công trình: “Trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển
mục đích sử dụng sang mục đích khác do Ban Quản K thực hiện 20 hét ta
(ha)” theo Báo cáo kinh tế kỹ thuật đã được UBND tỉnh Q phê duyệt nêu trên.
Ngày 18/3/2021, chủ đầu tư, đơn vị thi công tiến hành bàn giao hiện trường
và bắt đầu tiến hành thi công, giai đoạn xử lý thực bì (phát, dọn) của công trình.
Cuối tháng 4/2021, Ban Quản lý K kết hợp đồng số 02/2021/HĐ-TVGS
đề ngày 17/3/2021 với Công ty Đ (Địa chỉ tại 725/3 đường P, thành phố T, tỉnh Q;
người đại diện hợp pháp Trần Thị Tích Đ, chức vụ: Giám đốc - gọi tắt đơn
vị giám sát) về việc giao cho Công ty Đ thực hiện việc tư vấn giám sát thi công đối
với công trình nêu trên.
3
Theo hồ thiết kế kỹ thuật đã đưc phê duyt trong dự án t phương pháp x
thc pt theo ng; ng chặt 05 m (năm mét), ng cha 01 m (một mét);
trên băng chặt phát dn sạch thực bì, cha lại toàn bộ y gỗ tái sinh (cây bản địa) có
tiêu chí phòng hộ u i trên thiết kế trồng rừng”. Quá trình xử thực bì, ông
Nguyễn Quốc T đã giao cho ông Dương Văn N1 (là nhân viên hợp đồng của Công
ty T) làm chỉ huy trưởng công trình, thuê nhân công lao động. Đồng thời, ông T ch
đạo ông N1 cho nhân công phát thực bì theo phương pháp phát trắng (là phát toàn
bộ diện tích rừng đã được bàn giao, chỉ chừa lại những cây có mục đích tái sinh) và
phát ra ngoài diện tích đã được phê duyệt trong dự án để vào diện tích đất tranh
chấp. Đến ngày 08 ngày 09/5/2021, ông N1 cùng nhân công tiến hành đốt toàn
bộ diện tích rừng đã được phát thực bì. Tuy nhiên, quá trình đốt do ông N1 không
thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn phòng cháy (làm biên cản lửa nhỏ, không
dọn sạch biên, không kiểm tra biên cản lửa trước khi đốt) nên đã gây cháy lan ra
bên ngoài diện tích rừng được phê duyệt trong dự án.
Theo bn bản khám nghiệm hiện trường ngày 28/5/2021 của liên ngành Hạt
Kiểm lâm - Cơ quan CSĐT - VKSND huyện Phước Sơn xác định:
- Tổng diện tích cháy 164.500 m
2
, trong đó nằm trong thiết kế của công trình
133.900 m
2
c y gỗ mục đích i sinh (Trong toàn bộ diện ch rừng của dự
án). Nằm ngoài thiết kế 30.600 m
2
(Trong đó 600 m
2
ngoài quy hoạch lâm
nghiệp, 30.000m
2
là K).
- Tổng số lâm sản bị thiệt hại: 2.465 cây với tổng khối lượng 245,575 m
3
gỗ
các loại, trong đó:
+ Số cây bị chặt hạ: 557 cây, tổng khối lượng: 17,466 m
3
, trong khu vực
trồng rừng thay thế: 419 cây khối lượng 12,646 m
3
, nằm ngoài khu vực trồng
rừng thay thế: 138 cây có khối lượng 4,820 m
3
.
+ Số cây bị cháy chết: 1.908 cây, tổng khối lượng: 228,109 m
3
, trong khu
vực trồng rừng thay thế: 1.551 cây, tổng khối lượng 167,126 m
3
, nằm ngoài khu
vực trồng rừng thay thế: 357 cây, tổng khối lượng 60,983 m
3
.
Kết luận định giá số 02/KL-ĐG ngày 01 tháng 3 năm 2022 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phước Sơn xác định:
- Giá trị thiệt hại của khối lượng gỗ là 479.026.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi
chín triệu, không trăm hai mươi sáu ngn đồng);
- Giá trị thiệt hại về môi trường 958.052.000 đồng (Chín trăm năm mươi
tám triệu, không trăm năm mươi hai nghìn đồng).
Ngày 23/7/2021 Hạt Kiểm m huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam khởi tố
vụ án về tội “Hủy hoại rừng” quy định tại Điều 243 Bộ luật Hình sự; ngày
05/7/2022 quan CSĐT Công an huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam ra Quyết
định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu
quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 360 Bộ luật Hình sự. Ngày 21/7/2022
quan CSĐT Công an huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam ra Quyết định tách vụ
án hình sự.
4
Đối với Trần Thị Tích Đ sau khi kết Hợp đồng số 02/2021/HĐ-TVGS đề
ngày 17/3/2021, Trần Thị Tích Đ không thực hiện nhiệm vụ giám sát như đã thỏa
thuận ghi trong Hợp đồng (Từ cuối tháng 4/2021 đến khi xảy ra sviệc cháy rừng
vào ngày 08 09/5/2021) nên không kịp phát hiện những sai phạm của đơn vị thi
công (nxử thực đốt không đúng với phương án đã pduyệt) ngăn
chặn hậu quả xảy ra, gây thiệt hại 228,109 m
3
gỗ các loại (Cây gỗ bị chết cháy), giá
trị thiệt hại 429.226.500 đồng (Bốn trăm hai mươi chín triệu hai trăm hai mươi
sáu nghìn năm trăm đồng), (Căn cứ vào biên bản kết luận định giá số 02 ngày
01/3/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện Phước Sơn).
Tại quan CSĐT Công an huyện Phước Sơn, sau khi sự việc cháy rừng
Trần Thị Tích Đ đã trao đổi với ông Trần Trọng V (nhân V kỹ thuật Công ty Đ)
để khai báo gian dối với quan điều tra về việc thực hiện việc giám sát không
thường xuyên. Đồng thời Đ cũng ký, ban hành Quyết định phân công ông Trần
Trọng V làm giám sát công trình từ ngày 17/3/2021 để hợp thức hóa hồ sơ.
Ngày 22/7/2022, Trần Thị Tích Đ làm đơn kêu oan và cung cấp một số dữ
liệu điện tử (tin nhắn, Zalo, Gmail) liên quan đến hợp đồng vấn giám sát số
02/2021/HĐ-TVGS ngày 17/3/2021 giữa Công ty Đ và Ban Quản K về việc
giám sát Công trình trồng rừng thay thế tại Khoảnh 3, 4, 5 Tiểu khu 689 K,
huyện P, đến ngày 25/10/2022, Trần Thị Tích Đ tự nguyện làm đơn rút lại đơn kêu
oan ngày 22/7/2022 đồng ý với các quyết định trước đây của quan tố tụng
huyện Phước Sơn.
Tại bản Cáo trạng số: 05/CT-VKSPS-HS ngày 14 tháng 02 năm 2023 của
Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Trần
Thị Tích Đ tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọngtheo điểm d khoản 1
Điều 360 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Thị Tích Đ khai nhận: Cuối tháng 4/2021, Công ty
Đ ký kết hợp đồng số 02/2021/HĐ-TVGS đề ngày 17/3/2021 với Ban Quản lý K về
việc giao cho Công ty Đ thực hiện việc vấn giám sát thi công đối với Công trình
trồng rừng thay thế tại Khoảnh 3, 4, 5 Tiểu khu 689 K, huyện P với số tiền
27.153.000 đồng. Sau khi kết Hợp đồng số 02/2021/HĐ-TVGS đề ngày
17/3/2021, do tình hình dịch bệnh, do hoàn cảnh, do qui trình không đảm bảo, nên
Công ty Đ không thường xuyên kiểm tra việc thực hiện công trình. Đối với tỉnh Q
việc trồng rừng thì phải phát trắng đốt mới thực hiện được, nhưng do rủi ro nên
khi Công ty T tiến hành đốt không thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn phòng
cháy thì Trần Thị Tích Đ chủ quan không kiểm tra nên không kịp phát hiện những
sai phạm của đơn vị thi ng và ngăn chặn hậu quả xảy ra, gây thiệt hại 228,109 m
3
gỗ các loại (Cây gỗ bị chết cháy), giá trị thiệt hại số tiền 429.226.500 đồng.
Tại phiên tòa nguyên đơn dân sự khai: Ban quản K hợp đồng vấn
giám sát với Công ty Đ. Tuy nhiên, Công ty Đ chưa thực hiện đúng hợp đồng nên
để xảy ra cháy rừng gây thiệt hại cho Ban quản lý K số tiền 429.226.500 đồng. Ông
Nguyễn Quốc T đã bồi thường, nên Ban quản K không yêu cầu bị cáo Trần Thị
Tích Đ phải bồi thường.
5
Tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khai:
Ông A Lăng Ng khai: Trước ngày 17/3/2021 khoảng 1- 2 ngày, ông Ng, ông
T chĐ đi khảo sát hiện trường sau đó, ông Ng về hợp đồng thực hiện
vấn giám sát công trình trồng rừng thay thế với Công ty Đ. Nhưng, sau đó nghe
ngày 19/4/2021 bên Công ty Đ mới ký. Việc kết hợp đồng giữa Ban quản K
Công ty Đ tự nguyện, phía chị Đ chưa thực hiện công việc theo hợp đồng,
không kiểm tra hiện trường, để biện pháp khắc phục những sai sót của bên thi
công. Còn về trách nhiệm của ông Ng thiếu sót đbên thi công chặt hạ cây gỗ gây
thiệt hại như Cáo trạng đã nêu ông Ng xin chịu trách nhiệm vcông tác quản lý
lãnh đạo của mình. Về thiệt hại dân sự đã được ông T khắc phục.
Ông Nguyễn M khai: Ông M được lãnh đạo Ban quản giao soạn thảo hợp
đồng giám sát công trình giữa Ban quản với Công ty Đ, Hợp đồng soạn thảo
ngày 19/4/2021, nhưng đngày 17/3/2021 trước đó hai bên đã gặp bàn bạc
thống nhất nội dung nên đề ngày 17/3/2021 cho phù hợp, ông tự nguyện đề như vậy
chứ không bị ép buộc.
Ông Nguyễn Quốc T khai: Công ty T Hợp đồng với Ban quản K về thi
công công trình: Trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển mục đích sử dụng
sang mục đích khác do Ban Quản K thực hiện 20 hét ta (ha). Quá trình thực
hiện hợp đồng thi công công trình phía công ty của ông không thực hiện đúng việc
phát và đốt rừng theo thiết kế đã phê duyệt nếu làm như thiết kế thì thực tế
không thể thực hiện được việc rồng rừng, nên việc xảy ra cháy rừng do rủi ro
ngoài ý muốn. Ông đã chịu trách nhiệm hình sự về tội “Hủy hoại rừng. Còn về
phần dân sự ông đã bồi thường cho Ban quản K không yêu cầu bị cáo Trần
Thị Tích Đ và ông A Lăng Ng phải bồi hoàn lại.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối
với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo đã
thành khẩn khai o, ăn n hối cải, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa tin
án, tiền sự, tuổi đã cao 65 tuổi, nơi trú ng. Đề nghị Hội đồng xét x áp
dụng điểm d khoản 1 Điều 360; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự
xử phạt bị cáo Trần Thị Tích Đ từ 06 tháng đến 09 tháng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.
Về phần trách nhiệm dân sự: Thiệt hại bị cáo gây ra có giá trị là 429.226.500
đồng (Bốn trăm hai mươi chín triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm đồng).
Tuy nhiên, Nguyễn Quốc T đã bồi thưng theo Bản án số 24/2022/HS-ST ngày
30/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam không yêu
cầu bị cáo Trần Thị Tích Đ bồi hoàn lại nên không đề cập đến.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình
sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại cho Ban Quản K 02 cuốn sổ
họp Chi bộ và họp Cơ quan do không phải là vật chứng của vụ án.
Bị cáo đồng ý luận tội của Viện kiểm sát và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
6
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở ni dung v án, căn cứ vào các tài liu trong h vụ án đã được
tranh tng ti phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định như sau:
[1] V hành vi, quyết định t tng của quan điều tra Công an huyn
Phước Sơn, tnh Quảng Nam, Điều tra viên, Vin kim sát nhân dân huyn Phước
Sơn, tnh Qung Nam, Kim sát viên trong quá trình điều tra, truy t đã thực hin
đúng về thm quyn, trình t, th tục quy đnh ca B lut t tng hình s. Quá
trình điều tra ti phiên tòa, b cáo khai nhn hành vi phm ti ca mình php
với quy định ca pháp lut; b cáo không có ý kiến hoc khiếu ni v hành vi, quyết
định của quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi,
quyết định t tng của quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực
hiện đều hp pháp.
[2] Tại phiên tòa bcáo Trần Thị Tích Đ khai nhận hành vi phạm tội của
mình, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại quan
điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường phù hợp với các tài liệu, chứng cứ
khác trong hsơ vụ án, thể hiện: Ngày 16/3/2021, Ban Quản K kết hợp
đồng số 01/2021/HĐ-XD với Công ty T về việc giao cho Công ty T thi công công
trình: Trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển mục đích sử dụng sang mục đích
khác do Ban Quản lý K thực hiện là 20 hét ta (ha)”.
Ngày 18/3/2021, chủ đầu tư, đơn vị thi công tiến hành bàn giao hiện trường
và bắt đầu tiến hành thi công, giai đoạn xử lý thực bì.
Cuối tháng 4/2021, Ban Quản K kết hợp đồng số 02/2021/HĐ-TVGS
đề ngày 17/3/2021 với Công ty Đ về việc giao cho Công ty Đ thực hiện việc tư vấn
giám sát thi công đối với công trình nêu trên. Sau khi kết Hợp đồng Trần Thị
Tích Đ không thực hiện nhiệm vụ giám sát như đã thỏa thuận ghi trong Hợp đồng
nên không kịp phát hiện những sai phạm của đơn vị thi công về xử lý thực bì và đốt
không đúng với phương án đã phê duyệt để ngăn chặn hậu quả xảy ra, gây thiệt hại
228,109 m
3
gỗ các loại, giá trị thiệt hại 429.226.500 đồng (Bốn trăm hai mươi
chín triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm đồng). Như vậy, đủ sở để
khẳng định hành vi của bị cáo Trần Thị Tích Đ phạm tội Thiếu trách nhiệm gây
hậu quả nghiêm trọngtheo điểm d khoản 1 Điều 360 Bộ luật Hình sự như Cáo
trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn truy tố căn cứ đúng
người, đúng tội.
[3] Xét tính chất vụ án hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Trần
Thị Tích Đ Giám đốc của Công ty, đáng lẽ ra khi Công ty Hợp đồng giám sát
thi công công trình Trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển mục đích sử dụng
sang mục đích khác do Ban Quản K thực hiện 20 hét ta (ha)”. Bị cáo phải
trực tiếp hoặc phân công nhiệm vụ cho nhân viên của Công ty thực hiện công việc
theo Hợp đồng đã kết với Ban quản K. Tuy nhiên, bị cáo đã không thực hiện
7
nhiệm vụ giám sát như đã thỏa thuận ghi trong Hợp đồng nên không kịp thời phát
hiện những sai phạm của đơn vị thi công gây thiệt hại về tài sản với số tiền
429.226.500 đồng. Hành vi phạm tội ca b cáo đã xâm phạm hoạt động đúng đắn
của công ty làm nh hưởng đến tình hình trt t an toàn tn đa bàn huyn.
vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo
để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
[4] Xét luận tội của đại diện Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị
Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo qui định tại
điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có cơ sở cần được chấp nhận.
[5] Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo phạm tội qui định tại điểm d khoản 1 Điều 360 Bộ luật Hình sự để x
phạt bị cáo.
[6] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không vi phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Trần Thị Tích Đ phạm tội chưa tiền án, tiền
sự; khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, tuổi đã cao, nhân thân
tốt, nơi trú ràng, nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật
Hình sự để xử phạt bị cáo hình phạt cho hưởng án treo cũng đã đủ tác dụng giáo
dục đối với bị cáo.
[7] Không xử phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Thị Tích Đ.
[8] Đối với Ban quản K (đơn vị chủ đầu tư). Sau khi hợp đồng bàn
giao hiện trường cho đơn vị thi công để tiến hành phát dọn thực bì từ ngày
18/3/2021 đến cuối tháng 4/2021 thì đơn vị chủ đầu đã không hợp đồng đơn vị
vấn giám sát, không phân công lực lượng giám sát quá trình thi công (mc
ban hành Quyết định thành lập Ban quản dự án xây dựng công trình nhưng
không phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên trong Ban quản lý dự án). Từ
đó, dẫn đến việc đơn vị thi công tiến hành xử lý thực bì không đúng thiết kế đã phê
duyệt trong phương án, không phát hiện ngăn chặn kịp thời hậu quả xảy ra, gây
thiệt hại 17,466 m
3
gỗ các loại, trị giá 49.799.500 đồng, đây trách nhiệm của
người đứng đầu chủ đầu (tại thời điểm xảy ra vviệc ông A Lăng Ng Phó
giám đốc phụ trách). Tuy nhiên, giá trị khối lượng gỗ thiệt hại nêu trên dưới
100.000.000 đồng nên hành vi không thực hiện trách nhiệm được giao của ông A
Lăng Ng chưa đủ yếu tố cấu thành tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm
trọngqui định tại Điều 360 Bộ luật Hình sự.
8
Đối với hành vi Trần Thị Tích Đ và Trần Trọng V đã trao đổi với nhau để khai
báo gian dối với quan điều tra về việc thực hiện việc giám t không thường
xuyên. Đồng thời ban hành Quyết định phân công ông Trần Trọng V làm giám
sát công trình từ ngày 17/3/2021 để hợp thức hóa hồ sơ. Tuy nhiên, hành vi u
trên của Đ và V không cấu thành tội Khai báo gian dối” quy định tại Điều 282 Bộ
luật Hình sự (do không phải chủ thể của tội phạm này) và tội Mua chuộc hoặc
cưỡng ép người khác khai báo, cung cấp tài liệuquy định tại Điều 384 Bộ luật
Hình sự (Do việc khai báo gian dối tự nguyện không hành vi mua chuộc,
cưỡng ép).
Đối với hành vi “Hủy hoại rừng” của Nguyễn Quốc T Dương Văn N1 đã
được Tòa án nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử theo Bản án số:
24/2022/HS-ST ngày 30/9/2022, nên không đề cập đến.
[9] Về phần trách nhiệm dân sự: Thiệt hại bị cáo gây ra có giá trị là
429.226.500 đồng (Bốn trăm hai mươi chín triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn năm
trăm đồng). Tuy nhiên, Nguyễn Quốc T đã bi tng theo Bản án số: 24/2022/HS-
ST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam
không yêu cầu bị cáo Trần Thị Tích Đ bồi hoàn lại nên không đề cập đến.
Đối với phần thiệt hại về môi trường, do chưa văn bản hướng dẫn thực
hiện Quyết định số: 02/2022/QĐ-UBND ngày 12/01/2022 của Ủy ban nhân dân
tỉnh Quảng Nam về qui định khung giá rừng đối với những vụ việc xảy ra trước khi
Quyết định này hiệu lực nên không thể áp dụng để xác định trách nhiệm dân sự
đối với bị cáo.
[10] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại
cho Ban Quản K 02 cuốn sổ họp Chi bộ và họp quan do không phải vật
chứng của vụ án.
[11] Về án phí hình sự thẩm: Bị cáo người cao tuổi, đơn xin miễn
nộp tiền án phí, nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án thì bị
cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bbị cáo Trần Thị Tích Đ phạm tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả
nghiêm trọng”.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 360; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật
Hình sự xử phạt bị cáo:
9
Trần Thị Tích Đ: 09 (chín) tháng cho ng án treo, thi gian th thách
18 (i tám) tháng k t ngày tuyên án sơ thẩm (31/3/2023).
Giao bị cáo Trần Thị Tích Đ cho UBND phường H, thành phố T, tỉnh Q giám
sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với
chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
“Trong thi gian th thách, người được hưởng án treo c ý vi phm nghĩa
v 02 ln tr lên thì Tòa án th quyết định buộc người được hưởng án treo phi
chp hành hình pht tù ca bản án đã cho hưởng án treo”.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi trú thì được thực hiện theo qui định tại
Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại
cho Ban Quản K 02 cuốn sổ họp Chi bộ họp quan do không phải vật
chứng của vụ án.
Vt chng hin Chi Cc thi hành ánn s huyện Phướcn đang tạm gi theo
Biên bn giao, nhn vt chng ngày 14/02/2023.
- Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; nguyên đơn dân sự; người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền
kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt quyền kháng cáo trong
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc được niêm yết.
Nơi nhận:
- Cơ quan tiến hành tố tụng
- Những người tham gia tố tụng
- Sở tư pháp Q.Nam
- Lưu hồ sơ
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký và đóng dấu)
Phan Thị Lan
10
Tải về
Bản án số 08/2023/HS-ST Bản án số 08/2023/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất