Bản án số 08/2021/DS-ST ngày 03/02/2021 của TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 08/2021/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 08/2021/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 08/2021/DS-ST ngày 03/02/2021 của TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về tranh chấp hợp đồng dịch vụ |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng dịch vụ |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Phan Thiết (TAND tỉnh Bình Thuận) |
| Số hiệu: | 08/2021/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 03/02/2021 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 08/2021/DS-ST
Ngày: 03-02-2021
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Văn Hòa
2. Bà Lê Thị Kiều Thu
Thư ký phiên tòa: Ông Biện Việt Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Việt kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên
tòa: Bà Trương Thị Mỹ Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan
Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
162/2020/TLST-DS ngày 19/8/2020 về việc“Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”, theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 535/2020/QĐXXST-DS ngày 31/12/2020 và
Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2021/QĐST-DS ngày 18/01/2021 giữa các đương
sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1974
Nơi cư trú: Khu phố A, phường Đ, Tp P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Y: Ông Lý Văn T, sinh năm 1966; Nơi
cư trú: Khu phố B, phường Đ, Tp P, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1978
Nơi cư trú: Số S đường T, Tp P, tỉnh Bình Thuận.
Ngƣời có quyền lợi, N vụ liên quan: Ông Lý Văn T, sinh năm 1966; Nơi cư
trú: Khu phố B, phường Đ, Tp P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt ông T, vắng mặt bà N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án và
tại phiên tòa ông Lý Văn T đại diện cho nguyên đơn trình bày:
Vào năm 2018 vợ chồng ông Lý Văn T và bà Nguyễn Thị Y có mua lại diện
tích đất của một người quen tên Tuyết là đất trồng lúa nước với diện tích là 2.214
m
2
tại thôn Thắng Thuận, xã Hàm Thắng, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Vì có nhu cầu muốn chuyển đổi mục đích sử dụng thửa đất nêu trên từ đất trồng lúa
lên đất ở nông thôn nhưng do không am hiểu về các quy định của pháp luật nên vợ
chồng ông có liên hệ với bà Lê Thị N nhờ bà N thực hiện việc chuyển đổi mục đích
2
sử dụng và ông bà sẽ trả thù lao cho bà N. Sau khi gặp, bà N có tư vấn cho ông bà
nên tách thửa đất diện tích 2.214m
2
thành 12 thửa nhỏ để việc chuyển đổi được
thực hiện dễ dàng.
Sau đó ông T để một mình bà Y cùng với bà N đã lập một Giấy xác nhận
vào ngày 30/5/2018 với nội dung cụ thể như sau: Bà Lê Thị N sẽ nhận làm trọn gói
hồ sơ chuyển nhượng đất đai (bao gồm việc chuyển nhượng, vẽ lại bản đồ, cập nhật
biến động, chuyển từ đất nông nghiệp lên đất thổ cư, tách sổ từ Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BO 744670,
với diện tích 2.214 m
2
thành 12 sổ với số tiền 360.000.000 đồng cho bà Nguyễn
Thị Y, sinh năm 1974.
Theo giấy xác nhận nêu trên, các bên thống nhất chi phí để bà N lo liệu việc
đăng ký chuyển đổi tại các cơ quan có thẩm quyền và cả thù lao cho bà N sau khi
hoàn thành công việc tổng cộng là 360.000.000 đồng, trong đó tiền chuyển mục
đích quyền sử dụng đất là 200.000.000 đồng và tiền thù lao cho bà N là
160.000.000 đồng. cũng tại giấy xác nhận này, bà N cam đoan kể từ ngày
30/5/2018 cho đến hết tháng 6 năm 2019 hoặc trễ hơn 01 tháng, bà N sẽ hoàn tất hồ
sơ nói trên và bà Y sẽ phụ trách việc cung cấp giấy tờ cần thiết phục vụ cho việc
làm hồ sơ chuyển nhượng. Để đảm bảo cho việc thực hiện đúng tiến độ, vợ chồng
ông T, bà Y đã đưa cho bà N 100.000.000 đồng để lo thủ tục giấy tờ. Bà N đã nhận
số tiền này và ký tên vào giấy xác nhận. Sau đó bà N có liên hệ vợ chồng ông T bà
Y nhận thêm số tiền 60.000.000 đồng và bà N đã viết giấy ký tên đưa cho vợ chồng
ông. Như vậy tổng cộng vợ chồng ông T bà Y đã đưa cho bà N 160.000.000 đồng
là tiền thù lao để lo công việc giấy tờ chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Từ khi
nhận tiền bà N chỉ làm được mỗi việc là chuyển tên chủ sử dụng diện tích đất nêu
trên từ bà Tuyết sang cho bốn người do vợ chồng ông T, bà Y nhờ đứng tên là:
Nguyễn Thanh Dũng, Hồ Văn Nhựt, Ngô Văn Thái và Nguyễn Thị Xinh và đã
được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CN 126155 ngày
17/7/2018, thửa đất số 173, tờ bản đồ số 37, diện tích 2.279,6m
2
tọa lạc tại thôn
Thắng Thuận, xã Hàm Thắng, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Sau đó bà
N chưa thực hiện và dừng lại không làm gì nữa.
Hết thời hạn, vợ chồng ông T bà Y có liên hệ với bà N hỏi xem tình hình
việc chuyển đổi, tách thửa diện tích đất như thế nào thì bà N lấy cớ đang làm việc
với cơ quan chức năng và hẹn lần hẹn lượt với vợ chồng ông. Cuối cùng, vì đợi
không được và cảm thấy việc bà N có dấu hiệu lừa dối nên đến giữa tháng 10 năm
2019, vợ chồng ông T bà Y đã nhờ ông Nguyễn Thanh Dũng, hiện là đại diện đồng
sử dụng thửa đất nêu trên nộp hồ sơ vào Phòng tài nguyên và môi trường huyện
Hàm Thuận Bắc để xin được chuyển đổi mục đích sử dụng đất thì Phòng tài
nguyên và môi trường huyện Hàm Thuận Bắc đã có Công văn số 1069/PTNMT
ngày 15/11/2019 xác định: Vị trí thửa đất xin chuyển mục đích sử dụng đất của ông
Nguyễn Thanh Dũng không đủ điều kiện để xem xét giải quyết. Lý do: Vị trí thửa
đất xin chuyển mục đích sử dụng đất không phù hợp với quy hoạch đất ở nông
thôn.
Sau khi biết được sự việc ông T bà Y đã liên hệ với bà N yêu cầu chấm dứt
hợp đồng dịch vụ và yêu cầu trả lại số tiền 160.000.000 đồng đã nhận. Bà N đã trả
3
cho vợ chồng ông T bà Y được 20.000.000 đồng và vợ chồng ông T bà Y hứa sẽ
hỗ trợ bà N 10.000.000 đồng chi phí đi lại khi bà N đã hoàn trả số tiền còn lại
nhưng đến nay bà N vẫn chưa trả.
Tại phiên tòa ông T yêu cầu chấm dứt hợp đồng dịch vụ, cụ thể là giấy xác
nhận ngày 30/5/2018 giữa bà Y với bà N và yêu cầu bà N trả lại 108.000.000 đồng
sau khi trừ tiền công được tính theo phần cho bà N tương ứng với một phần năm
của công việc là 32.000.000 đồng (160.000.000 đồng chia 5 bằng 32.000.000 đồng)
và bà N đã trả cho vợ chồng ông được 20.000.000 đồng. Tại đơn khởi kiện và quá
trình giải quyết vụ án bà Y, ông T đồng ý hỗ trợ cho bà N 10.000.000 đồng nhưng
do bà N chưa hoàn trả cho ông bà số tiền còn lại nên không đồng ý hỗ trợ nữa.
Theo Bản tự khai ngày 05/9/2020 bị đơn bà Lê Thị N trình bày:
Bà Nguyễn Thị Y có đến nhà bà N và nhờ làm giấy tờ là đúng và có nhận
đúng số tiền 160.000.000 đồng như bà Y trình bày để làm trọn gói hồ sơ chuyển
nhượng. Do không làm được nên bà N đồng ý trả lại số tiền 100.000.000 đồng cho
bà Y, sau khi trừ đi 20.0000.000 đồng bà N đã trả.
Vụ án không tiến hành hòa giải được do bà N vắng mặt.
Sau khi những người tham gia tố tụng trình bày ý kiến, vị đại diện Viện kiểm
sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến về việc tuân thủ theo pháp luật
tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký,
của nguyên đơn, người có quyền lợi, N vụ liên quan; kể từ khi thụ lý vụ án cho đến
trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng
dân sự quy định. Bị đơn chấp hành chưa đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự.
Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử, xử theo hướng chấp nhận yêu
cầu của bà Nguyễn Thị Y, ông Lý Văn T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn
Thị Y yêu cầu chấm dứt hợp đồng dịch vụ giữa bà Nguyễn Thị Y với bà Lê Thị N
và yêu cầu bà Lê Thị N trả lại cho vợ chồng bà Y, ông T số tiền 108.000.000 đồng.
Bà Lê Thị N có nơi cư trú tại thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, hội
đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng dân sự,
cụ thể là “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ
luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố
Phan Thiết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ
luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ
hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; Căn cứ điểm b
khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử
xử vắng mặt bà N.
[3] Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày
31/12/2020 ông Lý Văn T bổ sung yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu chấm dứt hợp
4
đồng dịch vụ và tại phiên tòa ông T vẫn giữ ý kiến yêu cầu chấm dứt hợp đồng
dịch vụ cụ thể là giấy xác nhận ngày 30/5/2018. Việc nguyên đơn yêu cầu chấm dứt
hợp đồng dịch vụ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện nên hội đồng xét xử
chấp nhận.
[4] Qúa trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Y yêu cầu bà Lê Thị N trả lại
số tiền 130.000.000 đồng nhưng tại phiên tòa người đại diện hợp pháp cho bà Y
thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị N trả lại cho vợ chồng bà Y, ông T
số tiền 108.000.000 đồng. Xét đây là sự tự nguyện và thuộc phạm vi yêu cầu khởi
kiện nên hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về nội dung vụ án:
[5.1] Bà Y cho rằng bà N đã vi phạm hợp đồng nên về yêu cầu chấm dứt hợp
đồng dịch vụ giữa bà với bà N, cụ thể là giấy xác nhận ngày 30/5/2018. Hội đồng
xét xử xét thấy: Căn cứ Giấy xác nhận ngày 30/5/2018 và lời khai của bà N có
trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định giữa bà Nguyễn Thị Y và bà Lê Thị N
đã giao kết hợp đồng dịch vụ. Bên sử dụng dịch vụ là bà Nguyễn Thị Y, còn bên
cung ứng dịch vụ là bà Lê Thị N. Nội dung của hợp đồng là bà N làm thủ tục trọn
gói hồ sơ chuyển nhượng đất đai đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sử dụng nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BO 744670, với diện tích 2.214
m
2
tọa lạc tại thôn Thắng Thuận, xã Hàm Thắng, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình
Thuận; thời hạn thực hiện hợp đồng đến hết tháng 6 năm 2019 hoặc chậm hơn 01
tháng; tức ngày hết hạn hợp đồng là ngày 31/7/2019 nhưng bà N mới chỉ làm được
một phần công việc.
Tại Điều 517 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định N vụ của bên cung ứng dịch
vụ như sau: “1. Thực hiện công việc đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm
và thỏa thuận khác.”
Tính từ ngày hết hạn hợp đồng đến ngày 13/8/2020 nguyên đơn nộp đơn
khởi kiện là 01 năm 13 ngày, sau khi hết hạn nhưng công việc chưa hoàn thành và
bên cung ứng dịch vụ là bà N không tiếp tục thực hiện công việc. Như vậy bên
cung ứng dịch vụ là bà N đã vi phạm nghiêm trọng N vụ nên bên sử dụng dịch vụ
có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định tại khoản 2 Điều
516 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn về việc chấp dứt hợp đồng dịch vụ là giấy xác nhận được lập ngày
30/5/2018.
[5.2] Bà Nguyễn Thị Y căn cứ vào giấy nhận tiền đối với số tiền 60.000.000
đồng (không ghi ngày tháng năm) và giấy xác nhận ngày 30/5/2018 để yêu cầu bà
Lê Thị N trả lại tiền do bà N nhận. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào giấy nhận
tiền đối với số tiền 60.000.000 đồng (không ghi ngày tháng năm) và giấy xác nhận
ngày 30/5/2018 do bà Y cung cấp thì thể hiện bà Lê Thị N có nhận của bà Nguyễn
Thị Y tổng số tiền 160.000.000 đồng để làm trọn gói hồ sơ chuyển nhượng đất đai,
bà N không có ý kiến phản đối đối với hai giấy này. Đồng thời tại bản tự khai bà N
cũng thừa nhận có nhận của bà Y số tiền 160.000.000 đồng nhưng chỉ đồng ý trả lại
cho bà Y, ông T 100.000.000 đồng sau khi trừ đi số tiền 20.000.000 đồng đã trả.
Như vậy chứng tỏ bà N có nhận của bà Y ông T số tiền 160.000.000 đồng để làm
5
trọn gói hồ sơ chuyển nhượng đất đai cho bà Y. Do đó bà Y, ông T yêu cầu bà N
trả tiền là có căn cứ.
[5.3] Bà Nguyễn Thị Y yêu cầu bà Lê Thị N trả lại 108.000.000 đồng tiền
làm dịch vụ trọn gói hồ sơ chuyển nhượng đất đai. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại
phiên tòa ông T đại diện hợp pháp cho nguyên đơn, đồng thời là người có quyền
lợi, N vụ liên quan trong vụ án cho rằng vợ chồng ông và bà Y có nhờ bà N làm
dịch vụ trọn hồ sơ chuyển nhượng đất đai, bao gồm 05 việc là: Chuyển nhượng; vẽ
lại bản đồ; cập nhật biến động; chuyển từ đất nông nghiệp lên đất thổ cư và sau đó
tách T bộ diện tích đất thành 12 sổ. Bà Y, ông T trả tiền dịch vụ cho bà N với số
tiền là 160.000.000 đồng. Nhưng bà N mới chỉ làm được việc chuyển nhượng, còn
lại vẫn chưa làm nên mới hoàn thành được một phần năm của công việc. Do đó ông
T đồng ý trả tiền công theo phần cho bà N tương ứng một phần năm của công việc
là 32.000.000 đồng (160.000.000 đồng chia 5 bằng 32.000.000 đồng). Bà N đã trả
cho vợ chồng ông được 20.000.000 đồng, cộng với 32.000.000 đồng tiền công của
bà N, thành 52.000.000 đồng nên ông T chỉ yêu cầu bà N trả lại 108.000.000 đồng,
còn tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án bà Y, ông T đồng ý hỗ trợ bà N
10.000.000 đồng nay ông T không đồng ý. Tại giấy xác nhận ngày 30/5/2018 thể
hiện bà N nhận làm trọn gói hồ sơ chuyển nhượng đất đai, gồm 05 công đoạn:
Chuyển nhượng; vẽ lại bản đồ; cập nhật biến động; chuyển từ đất nông nghiệp lên
đất thổ cư và sau đó tách T bộ diện tích đất thành 12 sổ. Sau khi mới làm xong
phần chuyển nhượng, còn lại bà N chưa hoàn thành công việc; các bên không thỏa
thuận rõ số tiền công trong từng công việc, cho nên số tiền bà N đã nhận cũng chia
thành 05 phần tương ứng với số công việc, bà N đã thực hiện được một công đoạn
tương ứng số tiền 32.000.000 đồng. Ông T, bà Y cũng đồng ý trả công cho bà N
theo phần công việc tương ứng số tiền nêu trên, thể hiện sự tự nguyện của ông T
bà Y, đảm bảo quyền lợi cho bà N, phù hợp với quy định của pháp luật. Bà N đã trả
cho vợ chồng ông T, bà Y được 20.000.000 đồng, cộng với 32.000.000 đồng tiền
công, thành 52.000.000 đồng, còn lại 108.000.000 đồng ông T, bà Y yêu cầu trả lại
hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Bà Lê Thị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228,
Điều 235, Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 357, khoản 4 Điều 422, Điều 423, Điều 427, Điều 428, Điều 513,
Điều 514, Điều 516, Điều 517, Điều 518 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Y:
1. Chấm dứt hợp đồng dịch vụ làm thủ tục trọn gói hồ sơ chuyển nhượng đất
đai theo giấy xác nhận ngày 30/5/2018 giữa bà Nguyễn Thị Y và bà Lê Thị N.
6
2. Buộc bà Lê Thị N trả lại cho bà Nguyễn Thị Y, ông Lý Văn T số tiền
108.000.000 đồng;
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án nếu người bị thi hành án chậm trả tiền thì bên đó phải trả
lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do
chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt
quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; nếu
không có thỏa thuận thì được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật dân sự năm 2015.
Về án phí: Bà Lê Thị N phải chịu 5.400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Số
tiền 3.250.000 đồng tạm ứng án phí do nguyên đơn bà Nguyễn Thị Y đã nộp theo
biên lai thu tiền số 0007837 ngày 19/8/2020 do Chi cục Thi hành án dân sự thành
phố Phan Thiết thu được trả lại cho bà Y.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Bà Nguyễn Thị Y, ông Lý Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án. Bà Lê Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
- Các đương sư;
- VKSND Tp PT;
- CCTHADS Tp PT;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
ĐÃ KÝ
QUÁCH VĂN HOÀNG
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm