Bản án số 08/2021/DS-ST ngày 03/02/2021 của TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 08/2021/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 08/2021/DS-ST ngày 03/02/2021 của TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Phan Thiết (TAND tỉnh Bình Thuận)
Số hiệu: 08/2021/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/02/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 08/2021/DS-ST
Ngày: 03-02-2021
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Văn Hòa
2. Bà Lê Thị Kiều Thu
Thư ký phiên tòa: Ông Biện Việt Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Việt kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên
tòa: Trương Thị Mỹ Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan
Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số
162/2020/TLST-DS ngày 19/8/2020 về việc“Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”, theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 535/2020/QĐXXST-DS ngày 31/12/2020
Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2021/QĐST-DS ngày 18/01/2021 giữa các đương
sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Thị Y, sinh năm 1974
Nơi cư trú: Khu phố A, phường Đ, Tp P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Y: Ông Văn T, sinh năm 1966; Nơi
cư trú: Khu phố B, phường Đ, Tp P, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1978
Nơi cư trú: Số S đường T, Tp P, tỉnh Bình Thuận.
Ngƣời có quyền lợi, N vụ liên quan: Ông Lý Văn T, sinh năm 1966; Nơi cư
trú: Khu phố B, phường Đ, Tp P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt ông T, vắng mặt bà N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án
tại phiên tòa ông Lý Văn T đại diện cho nguyên đơn trình bày:
Vào năm 2018 vợ chồng ông Văn T Nguyễn Thị Y mua lại diện
tích đất của một người quen tên Tuyết đất trồng lúa nước với diện tích 2.214
m
2
tại thôn Thắng Thuận, xã Hàm Thắng, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Vì có nhu cầu muốn chuyển đổi mục đích sử dụng thửa đất nêu trên từ đất trồng lúa
lên đất ở nông thôn nhưng do không am hiểu về các quy định của pháp luật nên vợ
chồng ông có liên hệ với bà Lê Thị N nhờ bà N thực hiện việc chuyển đổi mục đích
2
sử dụng ông sẽ trả thù lao cho N. Sau khi gặp, N vấn cho ông
nên ch thửa đất diện tích 2.214m
2
thành 12 thửa nhỏ để việc chuyển đổi được
thực hiện dễ dàng.
Sau đó ông T để một mình Y cùng với N đã lập một Giấy xác nhận
vào ngày 30/5/2018 với nội dung cụ thể như sau: Bà Lê Thị N sẽ nhận làm trọn gói
hồ sơ chuyển nhượng đất đai (bao gồm việc chuyển nhượng, vẽ lại bản đồ, cập nhật
biến động, chuyển từ đất nông nghiệp lên đất thổ cư, tách sổ từ Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà tài sản gắn liền với đất số BO 744670,
với diện tích 2.214 m
2
thành 12 sổ với số tiền 360.000.000 đồng cho Nguyễn
Thị Y, sinh năm 1974.
Theo giấy xác nhận nêu trên, các bên thống nhất chi phí để N lo liệu việc
đăng chuyển đổi tại các quan thẩm quyền cả thù lao cho N sau khi
hoàn thành công việc tổng cộng là 360.000.000 đồng, trong đó tiền chuyển mục
đích quyền sử dụng đất 200.000.000 đồng tiền thù lao cho N
160.000.000 đồng. cũng tại giấy xác nhận này, N cam đoan kể từ ngày
30/5/2018 cho đến hết tháng 6 năm 2019 hoặc trễ hơn 01 tháng, bà N sẽ hoàn tất hồ
nói trên Y sẽ phụ trách việc cung cấp giấy tờ cần thiết phục vụ cho việc
làm hồ chuyển nhượng. Để đảm bảo cho việc thực hiện đúng tiến độ, vợ chồng
ông T, bà Y đã đưa cho bà N 100.000.000 đồng để lo thủ tục giấy tờ. Bà N đã nhận
số tiền này và ký tên vào giấy xác nhận. Sau đó bà N liên hệ vợ chồng ông T
Y nhận thêm số tiền 60.000.000 đồng và bà N đã viết giấy ký tên đưa cho vợ chồng
ông. Như vậy tổng cộng vợ chồng ông T Y đã đưa cho N 160.000.000 đồng
tiền thù lao đlo công việc giấy tờ chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Từ khi
nhận tiền N chỉ làm được mỗi việc chuyển tên chủ sử dụng diện tích đất u
trên từ Tuyết sang cho bốn người do vợ chồng ông T, Y nhờ đứng tên là:
Nguyễn Thanh Dũng, Hồ Văn Nhựt, Ngô Văn Thái Nguyễn Thị Xinh đã
được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền s hữu nhà tài sản gắn liền với đất số CN 126155 ngày
17/7/2018, thửa đất số 173, tờ bản đồ số 37, diện tích 2.279,6m
2
tọa lạc tại thôn
Thắng Thuận, Hàm Thắng, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Sau đó
N chưa thực hiện và dừng lại không làm gì nữa.
Hết thời hạn, vchồng ông T Y liên hệ với N hỏi xem tình hình
việc chuyển đổi, tách thửa diện tích đất như thế nào thì N lấy cớ đang làm việc
với quan chức năng hẹn lần hẹn lượt với vợ chồng ông. Cuối cùng, đợi
không được cảm thấy việc N dấu hiệu lừa dối nên đến giữa tháng 10 năm
2019, vợ chồng ông T Y đã nhờ ông Nguyễn Thanh Dũng, hiện là đại diện đồng
sử dụng thửa đất nêu trên nộp hồ vào Phòng tài nguyên môi trường huyện
Hàm Thuận Bắc đ xin được chuyển đổi mục đích s dụng đất thì Phòng tài
nguyên môi trường huyện Hàm Thuận Bắc đã Công văn số 1069/PTNMT
ngày 15/11/2019 xác định: Vị trí thửa đất xin chuyển mục đích sử dụng đất của ông
Nguyễn Thanh Dũng không đủ điều kiện để xem xét giải quyết. do: Vị trí thửa
đất xin chuyển mục đích sử dụng đất không phù hợp với quy hoạch đất nông
thôn.
Sau khi biết được sự việc ông T Y đã liên hệ với N yêu cầu chấm dứt
hợp đồng dịch vụ và yêu cầu trả lại số tiền 160.000.000 đồng đã nhận. N đã trả
3
cho vchồng ông T Y được 20.000.000 đồng vợ chồng ông T Y hứa sẽ
hỗ trợ N 10.000.000 đồng chi phí đi lại khi N đã hoàn trả số tiền còn lại
nhưng đến nay N vẫn chưa trả.
Tại phiên tòa ông T yêu cầu chấm dứt hợp đồng dịch vụ, cụ thể giấy xác
nhận ngày 30/5/2018 giữa Y với N yêu cầu N trả lại 108.000.000 đồng
sau khi trừ tiền công được tính theo phần cho N tương ứng với một phần năm
của công việc là 32.000.000 đồng (160.000.000 đồng chia 5 bằng 32.000.000 đồng)
N đã trả cho vợ chồng ông được 20.000.000 đồng. Tại đơn khởi kiện và quá
trình giải quyết vụ án bà Y, ông T đồng ý hỗ trợ cho N 10.000.000 đồng nhưng
do bà N chưa hoàn trả cho ông số tiền còn lại nên không đồng ý hỗ trợ nữa.
Theo Bản tự khai ngày 05/9/2020 bị đơn bà Lê Thị N trình bày:
Nguyễn Thị Y đến nhà N nhờ làm giấy tờ đúng nhận
đúng số tiền 160.000.000 đồng như Y trình bày để làm trọn gói hồ chuyển
nhượng. Do không làm được nên N đồng ý trả lại số tiền 100.000.000 đồng cho
Y, sau khi trừ đi 20.0000.000 đồng bà N đã trả.
Vụ án không tiến hành hòa giải được do N vắng mặt.
Sau khi những người tham gia tố tụng trình bày ý kiến, vị đại diện Viện kiểm
sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến về việc tuân thủ theo pháp luật
tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký,
của nguyên đơn, người có quyền lợi, N vụ liên quan; kể từ khi thụ lý vụ án cho đến
trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng
dân sự quy định. Bị đơn chấp hành chưa đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự.
Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử, xử theo hướng chấp nhận yêu
cầu của Nguyễn Thị Y, ông Lý Văn T.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cu các tài liu trong h vụ án được thm tra ti phiên
toà và căn cứ vào kết qu tranh tng ti phiên toà, Hội đồng xét x nhận định:
[1] V quan h pháp lut tranh chp thm quyn gii quyết: Nguyn
Th Y yêu cu chm dt hợp đồng dch v gia Nguyn Th Y vi Th N
và yêu cu bà Lê Th N tr li cho v chng bà Y, ông T s tin 108.000.000 đồng.
Th N nơi trú ti thành ph Phan Thiết, tnh Bình Thun. vy, hi
đồng xét x xác định quan h pháp lut tranh chp tranh chp hợp đồng dân s,
c th Tranh chp hp đồng dch v được quy định ti khon 3 Điu 26 B
lut t tng dân s thuc thm quyn gii quyết ca Tòa án nhân dân thành ph
Phan Thiết theo quy đnh tại điểm a khon 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điu 39 B
lut t tng dân s.
[2] V th tc t tng: Th N đã được Tòa án triu tp hp l ln th
hai để tham gia phiên tòa nhưng vn vng mặt không do; Căn c đim b
khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 ca B lut t tng dân s. Hội đồng xét x
x vng mt bà N.
[3] Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày
31/12/2020 ông Văn T bổ sung yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu chấm dứt hợp
4
đồng dịch vụ tại phiên tòa ông T vẫn giữ ý kiến yêu cầu chấm dứt hợp đồng
dịch vụ cụ thể là giấy xác nhận ngày 30/5/2018. Việc nguyên đơn yêu cầu chấm dứt
hợp đồng dịch vụ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện nên hội đồng xét x
chấp nhận.
[4] Qúa trình giải quyết ván Nguyễn Thị Y yêu cầu Thị N trả lại
số tiền 130.000.000 đồng nhưng tại phiên tòa người đại diện hợp pháp cho Y
thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu Thị N trả lại cho vợ chồng Y, ông T
số tiền 108.000.000 đồng. Xét đây stự nguyện thuộc phạm vi yêu cầu khởi
kiện nên hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về nội dung vụ án:
[5.1] Y cho rằng bà N đã vi phạm hợp đồng nên về yêu cầu chấm dứt hợp
đồng dịch vụ giữa bà với N, cụ thể giấy xác nhận ngày 30/5/2018. Hội đồng
xét xử xét thấy: Căn cứ Giấy xác nhận ngày 30/5/2018 lời khai của N
trong hồ vụ án nên đủ sở xác định giữa Nguyễn Thị Y Thị N
đã giao kết hợp đồng dịch vụ. Bên sử dụng dịch vụ Nguyễn Thị Y, còn bên
cung ứng dịch vụ Thị N. Nội dung của hợp đồng N làm thủ tục trọn
gói hồ chuyển nhượng đất đai đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sử dụng nhà tài sản gắn liền với đất sBO 744670, với diện tích 2.214
m
2
tọa lạc tại thôn Thắng Thuận, xã Hàm Thắng, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình
Thuận; thời hạn thực hiện hợp đồng đến hết tháng 6 năm 2019 hoặc chậm hơn 01
tháng; tức ngày hết hạn hợp đồng ngày 31/7/2019 nhưng bà N mới chỉ làm được
một phần công việc.
Tại Điều 517 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định N vụ của bên cung ứng dịch
vụ như sau: “1. Thực hiện công việc đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm
và thỏa thuận khác.”
Tính từ ngày hết hạn hợp đồng đến ngày 13/8/2020 nguyên đơn nộp đơn
khởi kiện 01 năm 13 ngày, sau khi hết hạn nhưng công việc chưa hoàn thành
bên cung ứng dịch vụ N không tiếp tục thực hiện công việc. Như vậy bên
cung ứng dịch vụ là N đã vi phạm nghiêm trọng N vụ nên bên sử dụng dịch vụ
có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định tại khoản 2 Điều
516 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn về việc chấp dứt hợp đồng dịch vụ giấy xác nhận được lập ngày
30/5/2018.
[5.2] Nguyễn Thị Y căn cứ vào giấy nhận tiền đối với số tiền 60.000.000
đồng (không ghi ngày tháng năm) giấy xác nhận ngày 30/5/2018 để yêu cầu
Lê Thị N trả lại tiền do bà N nhận. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào giấy nhận
tiền đối với số tiền 60.000.000 đồng (không ghi ngày tháng năm) giấy xác nhận
ngày 30/5/2018 do Y cung cấp thì thể hiện Thị N nhận của Nguyễn
Thị Y tổng số tiền 160.000.000 đồng để làm trọn gói hồ chuyển nhượng đất đai,
N không có ý kiến phản đối đối với hai giấy này. Đồng thời tại bản tự khai bà N
cũng thừa nhận có nhận của bà Y số tiền 160.000.000 đồng nhưng chỉ đồng ý trả lại
cho Y, ông T 100.000.000 đồng sau khi trừ đi số tiền 20.000.000 đồng đã trả.
Như vậy chứng tỏ N có nhận của Y ông T số tiền 160.000.000 đồng để làm
5
trọn gói hồ chuyển nhượng đất đai cho Y. Do đó Y, ông T yêu cầu N
trả tiền là có căn cứ.
[5.3] Nguyễn Thị Y yêu cầu Thị N trả lại 108.000.000 đồng tiền
làm dịch vụ trọn gói hồ chuyển nhượng đất đai. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại
phiên tòa ông T đại diện hợp pháp cho nguyên đơn, đồng thời người quyền
lợi, N vụ liên quan trong vụ án cho rằng vợ chồng ông và Y nhờ N làm
dịch vụ trọn hồ chuyển nhượng đất đai, bao gồm 05 việc là: Chuyển nhượng; vẽ
lại bản đồ; cập nhật biến động; chuyển từ đất nông nghiệp lên đất thổ sau đó
tách T bộ diện ch đất thành 12 sổ. Y, ông T trả tiền dịch vụ cho N với số
tiền 160.000.000 đồng. Nhưng N mới chỉ làm được việc chuyển nhượng, còn
lại vẫn chưa làm nên mới hoàn thành được một phần năm của công việc. Do đó ông
T đồng ý trả tiền công theo phần cho N tương ứng một phần năm của công việc
32.000.000 đồng (160.000.000 đồng chia 5 bằng 32.000.000 đồng). N đã trả
cho vchồng ông được 20.000.000 đồng, cộng với 32.000.000 đồng tiền công của
N, thành 52.000.000 đồng nên ông T chỉ yêu cầu bà N trả lại 108.000.000 đồng,
còn tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án bà Y, ông T đồng ý hỗ trợ N
10.000.000 đồng nay ông T không đồng ý. Tại giấy xác nhận ngày 30/5/2018 thể
hiện N nhận làm trọn gói hồ chuyển nhượng đất đai, gồm 05 công đoạn:
Chuyển nhượng; vẽ lại bản đồ; cập nhật biến động; chuyển từ đất nông nghiệp lên
đất thổ sau đó tách T bdiện tích đất thành 12 sổ. Sau khi mới làm xong
phần chuyển nhượng, còn lại bà N chưa hoàn thành công việc; các bên không thỏa
thuận rõ số tiền công trong từng công việc, cho nên số tiền N đã nhận cũng chia
thành 05 phần tương ứng với số công việc, N đã thực hiện được một công đoạn
tương ứng số tiền 32.000.000 đồng. Ông T, bà Y ng đồng ý trả công cho N
theo phần công việc tương ứng số tiền nêu trên, thể hiện sự tự nguyện của ông T
Y, đảm bảo quyền lợi cho bà N, phù hợp với quy định của pháp luật. N đã trả
cho vợ chồng ông T, bà Y được 20.000.000 đồng, cộng với 32.000.000 đồng tiền
công, thành 52.000.000 đồng, còn lại 108.000.000 đồng ông T, bà Y yêu cầu trả lại
hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Bà Lê Thị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228,
Điều 235, Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 357, khoản 4 Điều 422, Điều 423, Điều 427, Điều 428, Điều 513,
Điều 514, Điều 516, Điều 517, Điều 518 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Y:
1. Chấm dứt hợp đồng dịch vụ làm thủ tục trọn gói hồ chuyển nhượng đất
đai theo giấy xác nhận ngày 30/5/2018 giữa bà Nguyễn Thị Y và bà Lê Thị N.
6
2. Buộc Thị N trả lại cho Nguyễn Thị Y, ông Văn T số tiền
108.000.000 đồng;
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án nếu người bị thi hành án chậm trả tiền thì bên đó phải trả
lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do
chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt
quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; nếu
không có thỏa thuận thì được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật dân sự năm 2015.
Về án phí: Lê Thị N phải chịu 5.400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Số
tiền 3.250.000 đồng tạm ứng án phí do nguyên đơn Nguyễn Thị Y đã nộp theo
biên lai thu tiền số 0007837 ngày 19/8/2020 do Chi cục Thi hành án dân sthành
phố Phan Thiết thu được trả lại cho bà Y.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Nguyễn Thị Y, ông Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án. Bà Lê Thị N quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
- Các đương sư;
- VKSND Tp PT;
- CCTHADS Tp PT;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
ĐÃ KÝ
QUÁCH VĂN HOÀNG
Tải về
Bản án số 08/2021/DS-ST Bản án số 08/2021/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất