Bản án số 07/2026/DS-PT ngày 26/03/2026 của TAND tỉnh Lai Châu về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 07/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 07/2026/DS-PT ngày 26/03/2026 của TAND tỉnh Lai Châu về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lai Châu
Số hiệu: 07/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án dân sự phúc thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LAI CHÂU
Bản án số: 07/2026/DSPT
Ngày: 26/3/2026.
V/v “ Tranh chấp bồi thường
thit hại do danh dự, nhân
phẩm, uy tín bị xâm phạm”.
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán: Chủ tọa phiên tòa: Bà: Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Thẩm phán: Bà: Phan Thị Phương
Bà: Giang Thị ng
- Thư phiên tòa: Trịnh Thị Huế Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tnh
Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: -
Nguyễn Thị Dịu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét x
công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ số:10/2026/TLPT-DS ngày 05 tháng 01 năm
2026 về vic “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm
phạm”. Do kháng cáo của nguyên đơn Thị H đối với bản án dân ssơ thẩm
số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vc 2- Lai Châu.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 10/QĐXX- PT ngày 26 tháng 02
năm 2026, giữa các đương sự:
1. Ngun đơn: Bà Th H, sinh năm 19XX; Địa ch: xã T, tỉnh Lai Châu;
Ch hiện nay: Bn M , T , tỉnh Lai Châu ( mt).
2. Bị đơn:
2.1. Anh: Văn V, sinh năm 20XX; Địa chỉ: Bản N, M, tỉnh Lai Châu
(vắng mặt).
2.2. Anh Văn T, sinh năm 20XX; Địa chỉ: Bản N, M, tỉnh Lai Châu
(vắng mặt).
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
2
3.1. Ông Trần n T1, sinh m 19XX; Địa ch: xã T, tỉnh Lai Châu; Chỗ hin
nay: Bản M, xã T, tỉnh Lai Châu (vắng mt).
3.2. Ông Nguyễn Xuân D, sinh năm 19XX; Địa ch: phố G, phường T, quận
L, thành phố H (vng mặt).
3.3. Bà Nguyễn Thị Như Q, sinh năm 19XX; Địa chỉ: phố N, phường M, quận
B, thành phố H (vắng mặt).
3.4. Nguyễn Thị T2, sinh năm 1986; Địa chỉ: phố N, phường M, quận B,
thành phố H (vng mặt).
3.5. Ông Bùi Hữu T3, sinh năm 1982; Địa chỉ: phố N, phường M, quận B,
thành phố H (vng mặt).
3.6. Ông Hoàng Văn H1, sinh năm 1988; Nơi công tác: K, tỉnh Lai Châu
(vắng mặt).
3.7. Ông Văn S, sinh năm 1981; Địa chỉ: Bản N, xã M, tỉnh Lai Châu (vắng
mặt).
3.8. Ông Văn B, sinh năm 1981; Địa chỉ: Bản L, xã M, tỉnh Lai Châu (vắng
mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm nguyên đơn là bà Vũ Thị H trình bày:
Ngày 28/11/2023, bà Vũ Thị H đưc lãnh đạo phòng Lao động thương binh xã
hội huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu (cũ) mời đến làm việc yêu cầu giải trình vụ
vic ngày 24/11/2023, Phòng Lao động thương binh hội nhận được 02 đơn
khiếu nại sai sự thật: 01 đơn của anh n T nội dung khẳng đnh ngày 12/8/2023,
Vũ Thị H đã thu tiền của gia đình anh T với số tiền 20.000.000 đồng học phí xuất
khẩu lao đng; 01 đơn của anh n V khẳng định ngày 04/8/2023, Thị H đã
thu tiền của gia đình anh V với số tin 60.000.000 đồng là học phí xuất khẩu lao động
lần 1 không đúng với quy định xuất khẩu lao động. Trong buổi m việc, đã giải
thích không được thu khoản tiền 20.000.000 đồng của Văn T 60.000.000
đồng của Lò Văn V.
Ngày 07/12/2023, bà được Công an huyện Than Uyên (cũ) mời đến làm việc
xác minh đối chất giữa lãnh đạo, cán bộ tuyển dụng cùng người lao động, Công
ty cổ phần phát triển giáo dục nhân lực quốc tế Bình Minh (EHD) (viết tắt Công ty
Bình Minh). Trước sự mặt của lãnh đạo phòng Lao động thương binh hi
huyện Than Uyên, Công ty Bình Minh; anh Lù Văn T, ông Lù Văn B (là bố đcủa
T) và anh Lò Văn V đã làm việc và xác minh: vào ngày 04/5/2023, ông Lò Văn S đã
chuyển khoản stiền 60.000.000 đồng ông Văn B chuyển 20.000.000 đồng
cho ông Trần Văn T1 - cán bộ tuyển dụng của Công ty Bình Minh. Trong buổi làm
3
việc các bên đã thống nhất: ông Trần Văn T1 trlại cho gia đình anh Văn T
20.000.000 đồng và gia đình anh Lò Văn V 60.000.000 đồng. Vì vậy, không được
nhận số tiền ca Văn V và Văn T nên việc khiếu nại của V và T đối với đến
Phòng Lao động Thương binh và hội huyện Than Uyên là không có căn cứ; gây
thiệt hại về uy tín, danh dự, nhân phẩm, đạo đức nghề nghiệp của bà, tâm ảnh
ởng nghiêm trọng dẫn đến tình trạng bệnh lý cao huyết áp, phải đi cấp cứu nhiều
lần, hiện tại phải dùng thuốc điều trị cho căn bệnh này; căng thẳng thần kinh, dn
đến bị thiệt hại vkinh tế, thu nhập, mất việc làm, phát sinh nhiều chi phí đi lại chữa
bệnh. Hành vi của Văn V, Văn T viết đơn đề nghị gửi Phòng Lao động thương
binh hội đồng thời những hành vi vu khống thu tiền trái phép m
phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của dẫn đến thiệt hại về tinh thần, sức khỏe, mất
thu nhập, cthể:
- Chi phí thuê văn phòng 1.700.000 đồng/tháng, từ tháng 01/2024 đến tháng
10/2025 (21 tháng): 35.700.000 đồng;
- Tổn thất tinh thần do bị xúc phạm: 23.400.000 đồng (10 tháng ơng cơ sở);
- Thiệt hại thu nhập do mất việc: 25.000.000 đồng/tháng x 21 tháng =
525.000.000 đồng;
Tổng cộng bà H yêu cầu bồi thường là 584.100.000 đồng, trong đó Lò Văn V
chịu trách nhiệm bồi thường 2/3 (tương ứng 389.400.000 đồng), Văn T chịu trách
nhiệm bồi thường 1/3 (tương ứng 194.000.000 đồng) trên tổng số tiền bà H yêu cầu.
Ngoài ra bà Thị H yêu cầu Lò Văn V và Lù Văn T cải chính thông tin, công khai
xin lỗi trên các trang mạng hội, các trang thông tin đại chúng. Bà H chứng minh
các chi phí thiệt hại gồm:
+ Về thiệt hại chi phí văn phòng: Bà H thuê văn phòng để làm công tác tuyển
sinh nguồn nhân lực cho hãng hàng không ACT; hỗ trvhộ chiếu, bán vé máy bay,
tuyển dụng lao động trong nước và xuất khẩu lao động nước ngoài cho một số công
ty, văn phòng của hợp tác du lịch, vận tải Ngọc Anh, trụ sở chính: Bản M, xã T,
tỉnh Lai Châu, địa điểm thuê tại Khu 5A, T, tỉnh Lai Châu. Trong thời gian từ
tháng 01/2024 đến tháng 10/2025 bà H không sử dng văn phòng nhưng chưa thanh
được hợp đồng thuê nhà với chủ nhà là bà Cao Thị L, lý do là còn ntiền thuê nhà
của bà L từ năm 2024 đến nay chưa có tiền trả, nếu phá hợp đồng sẽ b phạt vi phạm
một khoản tiền do còn thời hạn thuê nhà 05 năm từ 2022 – 2027.
+ Thiệt hại về sức khỏe: Sau khi xảy ra sự việc, bà H mắc bệnh cao huyết áp,
phải đi cấp cứu nhiều lần, phải dùng thuốc điều trị theo sự chỉ định của bác sĩ. Bà H
luôn cảm thấy áp lực tinh thần, mất uy tín, danh dự với người thân, hội, với các
công ty hợp tác, đối tác, bị mất thời gian làm việc tại các cơ quan...;
4
Tại phiên tòa sơ thẩm bà H thừa nhận trong năm 2022, 2023 có thực hiện việc
tư vấn tuyển sinh trên địa bản huyện Than Uyên cũ, trong những người được tư vấn
tuyển sinh có Lò Văn V và Lù Văn T.
Tại đơn đề nghị và tại phiên tòa bị đơn anh Lò Văn V trình bày:
Trong công tác tuyển sinh bà H đã xuống trường THPT Mường Kim tuyn
sinh để được vấn đi xuất khẩu lao động. Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông
anh đã trao đổi với bà H qua zalo tìm hiểu về việc xuất khẩu lao động. Sau đó anh đã
đến văn phòng của Thị H làm tkhai về thông tin bản thân để đi xuất khẩu lao
động. Vào ngày 04/7/2023 anh được đưa đi khám sức khỏe, mọi chi phí đều do anh
tự chi trả, sau đó anh được Thị H đưa xuống trung tâm xuất khẩu lao động
quốc tế Bình Minh. Tlúc văn phòng xuất khẩu lao động tiếp nhận đến Trung tâm
xuất khẩu lao động quốc tế Bình Minh chỉ được ký giấy khai yếu lịch của gia
đình, ngoài ra không H1 đồng nào c, Sau một thời gian học tại Trung tâm xut
khẩu lao động quốc tế Bình Minh thì ThH liên tục gọi điện cho bố anh để
nhắc nộp học phí xuống tận nđể yêu cầu nộp với số tiền 60.000.000 đồng.
Vào ngày 04/8/2023 bố anh là ông Lò Văn S có chuyển khoản cho ông Trần Văn T1
là chồng của bà Vũ Thị H với số tiền là 60 .000.000 đồng, tuy nhiên sau khi chuyển
khoản thành công anh không được nhận hóa đơn hay hóa đơn nào. Sau khi theo
học tại Trung tâm Bình Minh 03 tháng anh xin nghỉ tại trung tâm với do thấy mình
chưa đủ tuổi không đơn hàng đa dạng nH đã nói trong công tác tuyn
dụng. Sau đó, anh đã liên lạc với bà H và báo vviệc xin nghỉ bà H đã bảo anh đến
gặp ông T3 giám đốc Công ty Bình Minh để xin rút lại tiền nhưng khi anh đến thì
giám đốc nói rằng nếu muốn rút tiền thì công ty không liên quan, nộp tiền cho người
nào thì xin rút tiền từ người đó. Bà Thị H đã xuống Nội đgiải quyết bằng lời
nói và nhất quyết bảo do anh phá hợp đồng tuy nhiên không có hợp đồng nào trưc
đó. Sau khi giải quyết trên công ty anh có trao đổi tin nhắn zalo với H nhưng
H luôn khẳng định anh phợp đồng, trong lúc nhắn tin hành vi dọa nạt
chặn tin nhắn anh. Ngày 20/11/2023 Thị H chồng ông Trần Văn T1 đã
gọi điện cho bố anh Văn S bảo rằng 9 giờ xuống nhà anh làm việc để giải quyết
thtục và trả lại số tiền thừa. Họ đưa cho gia đình một tập giấy gồm bảng kê khai số
tiền khi anh học tại trung tâm sau 03 tháng và bảo gia đình ký vào rồi có thể nhận số
tiền thừa, tuy nhiên thấy trừ tiền vô lý, không chứng từ biên lai thu tiền, bng
các khoản phí không dấu đỏ chcủa giám đốc công ty kế toán công ty
nên anh và gia đình quyết định không ký. Anh đã nhờ công an huyện Than Uyên có
thẩm quyền giúp đỡ giải quyết. Trong quá trình giải quyết, Chủ tịch Giám đốc
Công ty Bình Minh nói rõ không có hợp đồng, không nhận được số tiền 60.000.000
đồng của gia đình chỉ nhận 10.000.000 đồng cọc, nếu đđơn hàng thì mới phải
nộp tiếp, không đtsẽ trả lại 10.000.000 đồng và yêu cầu ông Trần Văn T1,
ThH xin lỗi đồng thời trả lại số tiền 60.000.000 đồng cho gia đình. Ông Trần Văn
T1 và bà Vũ Thị H thống nhất với gia đình sẽ trả đủ 100% số tiền 60.000.000 đồng.
5
Tuy vậy, sau hôm đó ông T1 chtrlại cho gia đình 35.000.000 đồng hứa sẽ trả
đủ 100 % viết cam kết; đến hẹn thì gia đình không liên lạc được với bà H, ông T1,
từ đó 4-5 tháng mất liên lạc, anh đã viết đơn đnghị lên Tòa án nhân dân huyện Than
Uyên (cũ) để giải quyết và cũng đã được giải quyết xong. Tòa án buộc ông Trần Văn
T1 trlại số tiền nhưng gia đình chưa nhận được số tiền còn lại thì ngày 24/3/2025
bà Vũ Thị H gửi đơn yêu cầu anh bồi thường thiệt hại do hành vi làm đơn của anh
đến quan ớc làm ảnh hưởng đến bà H, anh không đồng ý sviệc gia đình
anh đưa tiền 60 triệu là sự tht.
Bị đơn anh Lù Văn T trình bày:
Năm 2023, khi đó anh học sinh lớp 12 trường THPT Mường Kim,
ThH đã xuống trường đtư vấn vxuất khẩu lao động, do nhu cầu nên anh đ
lại số điện thoại cho H. Sau đó Vũ Thị H gọi điện thoại cho anh qua zalo,
tin nhắn, xuống nhà gặp gia đình cụ thlà bố đẻ anh là ông Lù Văn B để tư vấn.
Vào khoảng tháng 8/2023, Thị H gọi điện cho bố anh yêu cầu nộp khoản
tiền 20.000.000 đồng phí ban đầu nhưng bố anh không nhà, bố anh nói xuống
nhà để lấy vì lúc đó ngân hàng mới giải ngân cho bố anh. Ti hôm đó, ông Trần Văn
T1 xuống nhà nhận trực tiếp 20.000.000 đồng ghi giấy để lại. Sau khi xuống
Hà Nội theo học Trung tâm của Công ty Bình Minh do bà H đưa xuống, dù đã hơn
02 tháng nhưng vẫn chưa nhận được đơn hàng điện tnH vấn nên anh đã
liên hệ với bà H để xin lại tiền nhưng không được giải quyết. Ngày 20/11/2023, ông
T1 H xuống n anh nói với gia đình phải bồi hoàn các khoản tiền liên quan
đến mấy tháng học tại trung tâm khoảng 4- 5 triệu đồng, gia đình anh không nhất trí
không có giấy tờ của trung tâm. Anh ng bố ông Lù Văn S ông Lò Văn
B (banh Lò Văn V) xuống Nội đgặp Giám đốc Công ty Bình Minh thì đưc
biết bà H chưa gửi khoản tiền nào cho Công ty nên việc giải quyết thì gặp bà H. Anh
gia đình anh V bàn bạc thống nhất làm đơn đngh lên Công an huyện Than Uyên
(cũ) yêu cầu giải quyết. Quá trình giải quyết mặt đầy đủ đại diện Công ty Bình
Minh, hai ông Trần Văn T1 Thị H, anh và anh Văn V. Tại quan Công
an, ông Trần Văn T1 nhất thoàn tr20.000.000 đồng đã nhận của gia đình nhưng
tr2 triệu đồng tiền hoa hồng anh nhận từ H trước đó do anh giới thiệu anh V
tham gia tuyển sinh cho bà H nhưng không thành nên bkhấu trừ, tổng số tiền hoàn
tr18.000.000 đồng ông T1 đã chuyển cho anh. Đối với yêu cầu của H cho rằng
việc làm đơn đnghgửi Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Than Uyên
(cũ) là xúc phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm, sức khỏe của bà H, anh không nhất t
anh chỉ thực hiện quyền công dân của mình, làm đơn đề nghđòi lại quyền lợi hợp
pháp gia đình anh bị vợ chồng ông T1, H vấn tuyển sinh thu tiền trái phép.
Vụ việc cũng đã được giải quyết giữa các bên vào ngày 07/12/2023 tại công an huyện
Than Uyên (cũ); trong đơn gửi cơ quan giải quyết anh không lời lẽ xúc phạm chửi
bới bà H hay nhằm mc đích xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của bà H.
6
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T1 trình bày: Ông Trần
Văn T1 và bà Vũ Thị H có mối quan hệ vợ chồng. Ông Trần Văn T1 là cán bộ tuyển
dụng của Công ty Bình Minh. Ông T1 thuê lại một phần địa điểm làm việc của
Thị H đtreo biển hiệu, làm việc, tiếp nhận hồ tuyển dụng lao động. Ngày
03/7/2023, ông T1 tiếp nhận hồ sơ của Lò Văn V và Lù Văn T cùng 11 học viên v
Hà Nội để bàn giao cho ông Bùi Hu T3Phó Giám đốc Công ty Bình Minh nhập
học đào tạo ngoại ngữ. Ngày 23/7/2023 ông T1 chuyển khoản cho ông Bùi Hu
T3 số tiền 50.000.000 đồng (bao gồm tiền của anh Lù Văn T, anh Văn V cùng 03
người khác mỗi người 10.000.000 đồng) Ngày 04/8/2023, ông Văn S banh
Lò Văn V chuyển khoản cho ông T1 60.000.000 đồng để hỗ trợ sinh hoạt trong quá
trình đào tạo. Ngày 08/8/2023, ông T1 chuyển cho Nguyễn Hữu T3 s tin
50.000.000 đồng. Ngày 12/8/2023, ông Lù Văn B bố anh Lù Văn T nộp tiền mặt
cho ông số tiền 20.000.000 đồng; ngày 28/8/2023 Văn V, Văn T hoàn thin
thtục tiếp tục đào tạo tiếng Nhật tại trung tâm; ngày 03/11/2023 ông T1 nhn
được quyết định dừng học của anh Lò Văn V. Ngày 07/12/2023, ông T1 được mời
lên làm việc tại Công an huyện Than Uyên (cũ) để xử lý đơn đề nghị của Lò Văn V
Lù Văn T về số tiền đã chuyển khoản cho ông Trần Văn T1. Tại đây, các bên đã
thống nhất ông Bùi Hữu T3 và ông Trần Văn T1 trả lại số tiền 60.000.000 đồng cho
gia đình Văn V 20.000.000 đồng cho gia đình Văn T (ông T1 đã chuyển trả
cho gia đình ông T 18.000.000 đồng trừ 2.000.000 đồng do giới thiệu người không
thành). Ngày 08/12/2023, Bùi Hu T3 chuyển khoản cho ông 35.000.000 đồng đ
trcho Văn V, ông T1 đã chuyển trả 25.000.000 đồng cho bố Văn V là ông
Văn S, còn 15.000.000 đồng còn lại tiền công tuyển dụng thuê văn phòng, địa
điểm vấn tiếp nhận hcủa Thị H. Ông T1 trcho bà H số tiền 10.000.000
đồng/người lao động khi tuyển dụng thành công, ông thuê địa điểm của bà H, không
thu tiền hay gitiền của người lao động, H không liên quan đến các khoản tiền
bị đơn Lò Văn V và Lù Văn T chuyển khoản cho ông. Về quan điểm Lò Văn V
Văn T đăng tham gia chương trình xuất khẩu lao động Nhật Bản tự
nguyện không bắt buộc và có nhu cầu đi làm việc tại nước ngoài nhưng bỏ học do vi
phạm nội quy, cam kết nên V và T phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi.
Sau khi quyết định xét xử, ngày 08/9/2025, ông T1 yêu cầu độc lập yêu cầu
Tòa án buộc công ty nh Minh phải thanh toán cho ông T1 tiền công tuyển dụng
đối với học viên Văn V Lù Văn T theo thỏa thuận mỗi người 25.000.000
đồng tổng là 50.000.000 đồng; buộc tài khoản cá nhân ông Bùi Hữu T3 liên đới chịu
trách nhiệm do việc sử dụng tài khoản cá nhân của ông T3 để nhận tiền người lao
động, dẫn đến thiệt hại cho ông T1. Buộc công ty Bình Minh phải bồi thường tổn
thất danh dự, nhân phẩm vì đã ban hành công văn 016 có nội dung sai sự thật, đổ lỗi
cho nhân ông T1 với số tiền 50.000.000 đồng. Kèm theo đó, ông T1 đơn đề
nghị Tòa án về việc thu thập xác minh các chứng cứ: Làm số tiền 60.000.000
đồng đã được chuyển vào tài khoản nhân của ông T3; Thu thập Giấy biên nhận
ngày 12/8/2023 giữa ông T1ông Lù Văn S chứng minh ông T1 chlà người trung
7
gian chuyển tiền và thỏa thuận với công ty; Yêu cầu Công ty Bình Minh cung cp hồ
cán bộ tuyển dụng Công văn 008/BINHMINHEHD làm mâu thuẫn vchc
danh và trách nhiệm của ôngi Hữu T3 vai trò thực tế của ông T1; Yêu cầu Tòa
án không công nhận hoặc hạn chế giá trị chứng cứ Công văn 016/BINHMINHEHD
ngày 05/6/2024 đây văn bản đơn phương, mâu thuẫn với hồ pháp của
quan n nước thẩm quyền; Xem xét T diện các chứng cứ khác Công văn
008/BINHMINHEHD, ng văn số 491/SLĐTBXH ngày 03/4/2023, biên bản ngày
07/12/2023, giấy biên nhận sao ngân hàng, xác định trách nhiệm pháp nhân
của công ty Bình Minh.
Ngày 27/10/2025, ông Trần Văn T1 nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời “Phong tỏa tài khoản” của công ty Cổ phần phát triển giáo dục và nhân
lực quốc tế Bình Minh tổng 175.000.000 đồng (bao gồm 50.000.000 ông T1 nộp thay
cho người lao động ngày 23/7/2023; 125.000.000 đồng tiền ng tuyển dụng hợp
pháp 05 người lao động) mà công ty còn nợ ông T1. Trường hợp công ty Bình Minh
dấu hiệu tẩu tán tài sản đnghị Tòa án áp dụng bổ sung biên pháp biên hoặc
cấm chuyển dịch quyền shữu tài sản của công ty trong phạm vi tương đương giá
trị 175.000.000 đồng.
Ông Văn B ông Văn S thống nhất ý kiến của anh Lù Văn T, anh
Văn V và khẳng định trong quá trình tư vấn xuất khẩu lao động cho T, V và gia đình
ông B, ông S thì người trực tiếp tư vấn và gọi điện yêu cầu nộp tiền là bà Vũ Thị H,
ông Trần Văn T1 chỉ là người thu tiền.
Ông Nguyễn Xuân D, bà Nguyễn Thị Như Q, bà Nguyễn Thị T2, ông Bùi Hữu
T3 công tác tại công ty Bình Minh gửi văn bản nêu ý kiến việc bà Vũ Thị H kin
T, V đòi bồi thường, các ông bà không có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan.
Ông Hoàng Văn H1 trình bày: ngày 28/11/2023 (khi đó ông công tác tại phòng
Lao động thương binh xã hội huyện Than Uyên cũ) phòng Lao động thương binh xã
hội nhận được 02 đơn đề nghị của công dân Lù Văn T và Lò Văn V, cùng xã ờng
Kim, tỉnh Lai Châu kiến nghị giải quyết nội dung bà Vũ Thị H (cán bộ công ty xuất
khẩu lao động, có trụ sở ở Hà nội và mở chi nhánh tại huyện Than Uyên) có hành vi
thu tiền môi giới đi làm việc ớc ngoài trái quy định của pháp luật và đề ngh
quan quản lý nhà nước hỗ trợ 02 công dân trên lấy lại tiền. Qua trao đổi và làm việc
với 02 công dân, phòng được biết 02 công dân còn đơn gửi quan công an huyện
Than Uyên, do vậy phòng đã trực tiếp trao đổi với 02 công dân chờ kết quả giải quyết
của công an.
Đến cuối tháng 2/2024, phòng Lao động Thương binh hội nhận được 02
văn bản do ông Bùi Hữu T3phó Giám đốc Công ty cổ phần phát triển giáo dục và
nhân lực quốc tế Bình Minh (Binh Minh EHD) trực tiếp chuyển đến gồm: Quyết định
số 006/2023/QĐ-EHD ngày 11/12/2023 của công ty Bình Minh vviệc dng hợp tác
tạo nguồn lao động, du học; Công văn số 025/2023/CV-BINHMINH EHD ngày
8
11/12/2023 vthông báo dừng hợp tác với ThH. Sau khi nhận hai văn bn
trên phòng đã trao đổi trực tiếp với lãnh đạo ng ty Bình Minh được Công ty
khẳng định bà Vũ Thị H có hoạt động giao dịch với đơn vị, là đơn vị thực hiện công
tác quản lý nhà nước về lĩnh vực lao động việc làm phòng đã ban hành Công văn số
106/TB-PLĐTBXH ngày 12/3/2024 vviệc thông tin trường hợp Vũ Thị H bị
đình chỉ thực hiện các hoạt động tuyển chọn đưa người lao động đi làm vic c
ngoài theo hợp đồng, du học trong đó khẳng định không để bà H lợi dung danh nghĩa
công ty cổ phần phát triển giáo dục và nhân lực quốc tế Bình Minh để thực hiện các
hoạt động tư vấn, tuyển dụng lao động đi làm việc ớc ngoài trên địa bàn huyện
Than Uyên. Phòng ban hành công văn với mục đích thông báo nội dung 02 văn bản
(Công văn số 006/2023/QĐ-EHD ngày 11/12/2023, Công văn số 025/2023/CV-
BINHMINH EHD ngày 11/12/2023) của công ty Bình Minh gửi đến UBND các
trên địa bàn huyện biết. Cá nhân ông làm công tác tham mưu trong quản lý nhà nước
về lĩnh vực lao động- việc làm theo đúng chức năng, thẩm quyền không hành vi
phát ngôn xâm phạm đến danh dự, uy tín của Thị H, việc H khởi kiện
không có căn cứ.
Tại bản án dân ssố: 02/2025/DS-ST ngày 28/11/2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 2- Lai Châu đã quyết định:
Căn cứ khon 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; đim d khoản 1 Điều 40;
Điều 91; Điu 93; khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điu 266; Điều 267; Điều 271; Điều
273 Bộ luật tố tụng dân sự (Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật pháp người
chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án); Các Điều 33,
34, 584, 568,590,592 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điểm d khoản 1 Điều 12, Điều
14, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Kng chấp nhận T bu cầu khởi kiện của nguyên đơn Vũ Th H.
2. Về án phí: miễn T bộ án phí sơ thẩm về bồi thường thiệt hại uy tín, danh d,
nhân phẩm cho bà Vũ Thị H.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 16/12/2025, bà Vũ Thị H kháng cáo đề nghị hủy T bộ bản án dân sự sơ
thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 28/11/2025 do vi phạm nghiệm trọng thủ tục tố tụng
không thể khắc phục được; đề ngh xét xlại theo đúng pháp luật, chấp nhận T bộ
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; kiến nghị xem xét trách nhiệm pháp đối với
hành vi vu khống với nhóm V- T- ờng Chí Lâm- Lò Văn Hổng.
Tại phiên tòa phúc thẩm: nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, nội dung
kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
9
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Toà án đã thực hiện đúng
nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sđã chấp
hành đúng nghĩa vụ được thực hiện đầy đquyền hạn của nh được quy định
trong Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không
chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Vũ Thị H; áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ
luật tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số: 02/2025/DS-ST ngày
28/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ ván được thẩm tra tại phiên
toà căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đng
xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:
Tòa án nhân dân khu vực 2- Lai Châu thlý giải quyết, xác định quan hệ pháp
luật tranh chấp khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị
xâm phạm đúng quy định pháp luật khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35;
đim d khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn Thị H kháng cáo T bộ Bản án dân sự thẩm số
02/2025/DS-ST ngày 28/11/2025 của Tòa án nhân n khu vực 2 - Lai Châu đề
nghhủy bản án sơ thẩm. Xét thấy đơn khángo của Thị H gửi trong thời hn
luật định, phù H1 với quy định tại các Điều 271, 272, 273 Blut Tố tụng dân sự nên
Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét T bộ nội dung vụ án trong phạm vi kháng cáo của
H theo quy định tại các Điều 293, 308 Bluật Tố tụng dân sự.
Đối với đơn kháng cáo của ông Trần Văn T1 gửi trong hạn luật định, Tòa án
cấp sơ thẩm đã thông báo cho ông T1 nộp tm ứng án phí phúc thẩm nhưng hết thời
hạn ông T1 không nộp án phí và không có lý do chính đáng. Ngày 05/01/2026, Tòa
án cấp phúc thẩm thụ vụ án, đến ngày 09/01/2026 Tòa án cấp phúc thẩm mới nhận
được đơn xin miễn, giảm án phí của ông T1, nvậy xác định ông T1 đã tbỏ quyn
kháng cáo theo khoản 2 Điều 276 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Đối với các bị đơn, những người quyền lợi nghĩa vliên đều đơn
xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 296 Bộ lut
Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt theo quy định chung.
[2] Về nội dung kháng cáo
[2.1] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi bồi thường thiệt hại:
10
Nguyên đơn khẳng định không phải cán bộ cộng tác của ng ty cổ phần phát
triển giáo dục nhân lực Quốc Tế Bình Minh (viết tắt Công ty Bình Minh),
không được tư vấn cho Lò Văn V, Lù Văn T, không thu tiền của V và T nhưng V
T đã làm đơn gửi phòng Lao động Thương binh hội huyện Than Uyên (cũ)
Công an huyện Than Uyên (cũ) trình bày bà là nời tư vấn, là người thu tiền, việc
thu tiền trái pháp luật, trong khi kết luận tại buổi làm việc ngày 07/12/2023 tại Công
an huyện kết luận ông Trần Văn T1- cán bộ tuyển dụng của Công ty Bình Minh thu
tiền 60.000.000 đồng của V, 20.000.000 đồng của T buộc ông T1 phải hoàn trả
cho V, T. Như vậy có căn cứ V, T gửi đơn kiến nghị đến các cơ quan là vu khống, sai
sự thật. Vì vậy bà yêu cầu V, T bồi thường cho những tổn thất về tinh thần, danh dự,
uy tín, đạo đức nghề nghiệp, thiệt hại mất việc làm, thiệt hại sức khỏe, buộc V, T
công khai xin lỗi, cải chính trên phương tiện thông tin đại chúng. Xem xét biên bản
làm việc ngày 07/12/2023 tại ng an huyện Than Uyên (BL số 67,68) mặt ông
Nguyễn Xuân D, ông Bùi Hữu T3 thuộc Công ty Bình Minh, ông Trần Văn T1,
Thị H, ông Hoàng Văn H1 thuộc phòng Lao động Thương binh hội huyện
Than Uyên, có nội dung các bên đối chất về chi phí đào tạo tại trung tâm “bà H cho
biết phí đào tạo ngoại ngữ trong 6 tháng là 17.500.000 đồng, tiền ký túc, tiền ở, sinh
hoạt, điện nước 2.000.000 đồng/tháng; ông D cho biết quy định pcủa công ty là
5.900.000 đồng, phí đào tạo như bà H nêu công ty không có, công ty không thu bt
kỳ khoản tiền nào của Lò Văn V; ngoài ra các bên còn đối chất về quyết định dừng
học tại trung tâm bảng thu tiền, trong đó bà H cho biết quyết định dừng học
của Lò Văn V và bảng kê thu tiền bà nhận tông T3, nhận qua zalo do ông T3 gi
in ra được ông T3 ủy quyền cho nhưng không đông T1 ký,
ông D cho biết bà H có cầm văn bản gốc của công ty, công ty Bình Minh không đt
trsở hay chi nhánh tại địa bàn huyện Than Uyên; bà H cho biết mvăn phòng
hợp tác du lịch vận tải Ngọc Anh treo biển mang tên công ty Bình Minh”; trong
biên bản tại mục thành phần làm việc “bà Vũ Thị H cán bộ tuyển dụng của Công
ty cổ phần phát triển giáo dục và nhân lực Bình Minh”.
Tại phiên tòa phúc thẩm H khẳng định năm 2023 bà xuống trường THPT
ờng Kim vấn du học cho học sinh nhưng với cách cộng tác viên của Công
ty cổ phần đầu Quốc tế cung ứng nguồn nhân lực Đức Minh (viết tắt Công ty
Đức Minh), không phải dùng cách của ng ty Bình Minh. Tuy nhiên kết quả điu
tra của Công an huyện Than Uyên cũ (tại phiếu trả lời chuyển đơn cho Toà án BL
số 223) lại thhiện tháng 5/2023 H vấn du học cho học sinh lớp 12 trường
THPT Mường Kim với tư cách là Giám đốc Văn phòng Ngọc Anh - Chi nhánh Lai
Châu thuộc Công ty Bình Minh không phải với cách công tác viên của Công ty
Đức Minh. Như vậy lời trình bày của bà H tại phiên tòa phúc thẩm có mâu thuẫn với
tài liệu, chứng cứ do Tòa án cấp thẩm thu thập, tuy nhiên H dùng cách
của Công ty nào đi chăng nữa thì đều thừa nhận năm 2023 đến trường THPT
ờng Kim để tư vấn du học cho học sinh và năm 2023 Lò Văn V, Lù Văn Thọc
sinh lớp 12 trường THPT Mường Kim, do đó khi bà H tư vấn thì Lò Văn V, Lù Văn
11
T cũng được nghe nên đã đến văn phòng của ông T1 (chính là địa điểm làm việc ca
bà H cho ông T1 thuê lại) nộp hồ sơ xin đi xuất khẩu lao động cho ông T1. Quá trình
Tòa án cấp thẩm giải quyết vụ án Lò Văn V, Lù Văn T đã cung cấp các đoạn tin
nhắn zalo giữa Lò Văn V, Lù Văn T thhin việc bà H đã trao đổi tư vấn du học cho
Lò Văn V, Lù Văn T, tuy nhiên H phản bác cho rằng các tin nhắn đó không phải
số điện thoại của số điện thoại của của hợp tác xã du lịch Ngọc Anh nhưng
hợp tác du lịch Ngọc Anh lại do bà là giám đốc còn ông T1 nhân viên, mặt khác
ông T1 trình bày ông đã thuê bà H tư vấn tuyển sinh với giá 10 triệu đồng/người lao
động khi tuyển dụng thành công, do đó trình bày của bà H là không có căn cứ. Như
vậy, skhẳng đnh việc năm 2023 H đã vấn du học cho Văn V,
Văn T tại trường THPT Mường Kim và thông qua tư vấn thì Lò Văn V, Lù Văn T đã
nộp hồ xin đi xuất khẩu lao động cho ông T1 (chồng H), sau đó H đưa
Văn V, Văn T xuống trung tâm đào tạo của Công ty Bình Minh hộ ông T1 đúng
sự thật.
Ngoài ra quan hgiữa H ông T1 vợ chồng trong thời khôn nhân;
ông T1bà H còn có quan hệ giám đốc và nhân viên của hợp tác xã vận tải du lịch
Ngọc Anh và bà H cho ông T1 thuê văn phòng làm việc, như vậy cùng mối quan hệ
vợ chồng việc không ràng về công việc giữa hai vợ chồng ông T1, H (vì
trong cùng năm 2023 cả hai vợ chồng ông T1, H cùng cán btuyển dụng của
hai công ty được phép vấn du học tuyển chọn đi Nhật Bản trên địa bàn huyện Than
Uyên), cùng với việc bà H thừa nhận có xung trường THPT Mường Kim tư vấn du
học cho nhiều người trong đó có T, V trong khi bà H khẳng định không có văn bản
nào thể hiện cộng tác viên của Công ty Bình Minh nhưng tại buổi làm việc của
Công an bà đã tham gia với tư cán bộ công ty Bình Minh (bà không phản đối).
Hơn nữa, xét vsự hiểu biết pháp luật: bà H người tư vấn nên sam hiu
pháp luật ràng, minh bạch, chính xác thì trong quá trình vấn phải trách nhiệm
giải thích ràng vấn cho công ty nào, còn anh Văn V, anh Văn T vừa
học sinh tốt nghiệp xong 12, ngay cbố mẹ gia đình hai anh người dân không hiểu
biết tư vấn du học nên canh V, anh T là người yếu thế hơn bà H; vì vậy anh V, anh T
không hiểu biết nên việc gia đình anh V, anh T nộp tiền cho ông T1 và chỉ biết có bà
H có tư vấn thì cũng không thể biết và buộc phải hiểu biết nộp tiền để dự tuyển cho
công ty Đức Minh hay Bình Minh; trong khi pháp luật dân sự còn quy định vợ chng
quyền, nghĩa vụ thừa kế của nhau. Do vậy, với những sự kiện, hành vi nêu trên,
cùng với lẽ công bằng của hội cần chấp nhận theo hướng lợi cho người yếu
thế, có căn cứ khẳng định anh V, anh T có được bà H tư vấn thông qua đó ông T1 thu
tiền là thực hiện công tác cho công ty Bình Minh.
vậy, việc anh Văn V, Văn T gửi đơn đến phong Lao động Thương
binh Xã hội và Công an Huyện Than Uyên yêu cầu giúp đỡ lấy lại số tin liên quan
đến vợ chồng H, ông T1 căn cứ, kết quả số tiền 20.000.000 đồng của Văn
T, số tiền 60.000.000 đồng của Lò Văn V ông T1 chồng bà H có trách nhiệm phải trả
12
nên trong đơn có nhắc đến việc H vấn thu tiền chỉ với mong muốn nhờ
quan nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đúng theo quy định của
pháp luật, không phải gửi đơn xúc phạm danh dự, nhân phẩm của H nên không
ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của bà H.
Về những thiệt hại: Bà H cho rằng tvic danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà
bị xâm phạm nên tâm bảnh hưởng nghiêm trọng dẫn đến tình trạng bệnh cao
huyết áp, phải đi cấp cứu nhiều lần, hiện tại đang phải dùng thuốc điều trị cho căn
bệnh này và bà H cung cấp cho Tòa án bản sao có chứng thực tóm tắt các h sơ bệnh
án vào viện ngày 28/12/2024 ra viện ngày 31/12/2024 (BL số 49, 50,51), vào viện
ngày 06/12/2024 ra viện ngày 09/12/2024 (57,58), các bảng kê chi phí nội trú, giấy
ra viện thể hin bà H có tiền stăng huyết áp, tuy nhiên anh V, anh T khiếu nại bà và
được cơ quan chức năng mời bà đến làm việc trong năm 2023 (ngày 28/11/2023
ngày 07/12/2023) không phải năm 2024, 2025 như vy thời gian bà H điều trị không
trùng với thời gian xảy ra sviệc. Hồ bệnh án H cung cấp không thể hin
nguyên nhân bệnh của H do chấn tâm do tác nhân bên ngoài hoặc liên
quan đến bệnh của bà H. H cho rằng việc xúc phạm danh dự, nhân phẩm của
anh V, anh T khiến cho bà bị căng thẳng thần kinh, dẫn đến bị thiệt hại về kinh tế,
thu nhập, mất việc làm, thiệt hại về chi phí do bà thuê văn phòng làm việc cho hãng
hàng không ACT ttháng 01/2024 đến nay không sử dụng văn phòng nhưng chưa
thanh lý được H1 đồng do từ năm 2024 đến nay chưa có tiền trả và bà cung cấp cho
Tòa án thỏa thuận thuê liên kết tìm kiếm và giới thiệu việc làm (BL 18 đến 20) giữa
bà H và Công ty cổ phần cung ứng nhân lực và quốc tế thương mại (SONA) (viết tt
Công ty SONA), thỏa thuận ký ngày 10/1/2024, có thời hạn 12 tháng kể từ ngày ký,
trong thỏa thuận chỉ H thực hiện các chương trình tìm kiếm, giới thiệu, tuyển
dụng; Hợp đồng ủy thác tuyển sinh giữa H và Công ty TNHH Trường Hàng Không
ACT (viết tắt Công ty ACT) (BL 71,72), hợp đồng ký ngày 27/12/2023, thời hạn 02
năm, H chịu trách nhiệm phát hành quản lý hồ sơ, thông báo tuyển sinh; H1
đồng nhà ngày 01/12/2022 (BL số 131 đến 133) giữa bà H và bà Cao Thị L thuê n
5 m, không mở n phòng của công ty nào. Các hợp đồng này không quy
định H thu tiền, không quy định H phi mở văn phòng; H không cung
cấp được quá trình bị chấm dứt hợp đồng, lý do chấm dứt. H còn cung cấp hợp
đồng thuê văn phòng của ông T1 với bà H (BL 44, 45), hợp đồng ngày 05/4/2023,
trong hợp đồng căn cứ vào công văn 491 ngày 03/4/2023 của phòng lao động thương
binh xã hội về việc phối hợp tuyển chọn lao động đi làm việc tại nước ngoài theo H1
đồng gửi UBND huyện để cho ông T1 kết làm văn phòng Công ty Bình Minh,
đây hợp đồng giữa các nhân thỏa thuận với nhau, phía công ty Bình Minh
ông T1 không hợp đồng cho phép ông T1 thuê văn phòng H thừa nhận ti
buổi làm việc công an huyện không có quyết định thành lập văn phòng công ty Bình
Minh. Mặt khác, như đã phân tích ở trên, hành vi của anh V, anh T thực hiện bảo vệ
quyền lợi của mình không sai trái, không xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,
13
uy tín, quyền lợi ích hợp pháp khác của H nên không căn cxem xét đến
thu nhập thực tế b mất của bà H.
Như vậy, những thiệt hại H kê khai yêu cầu anh V, anh T bồi thường như:
Tiền thuê địa điểm làm việc, chi phí thuốc men do bị ảnh hưởng sức khỏe, tổn tht
tinh thần, mất thu nhập với hành vi gửi đơn khiếu nại H của anh V, anh T không
mối quan hệ nhân quả với nhau. Tài liệu, chứng cứ H cung cấp không đủ căn
cứ xác định thiệt hại của do hành vi ca anh V, anh T gây ra cho H, do đó
anh V, anh T không trách nhiệm phải bồi thường cho H nên Tòa án cấp thẩm
giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thị H căn
cứ phù H1 các điều 91, điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự, điều 584, điều 590, điều 592
Bộ luật dân sự, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[2.2] Xét nội dung kháng cáo:
- Nguyên đơn ThH kháng cáo đnghị hy T bộ bản án sơ thẩm do vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, bà H cho rằng:
+ Tòa án thẩm chuyển đơn khởi kiện của sang Công an huyện Than Uyên
hành vi trái pháp luật: Ngày 12/3/2024, Tòa án cấp thẩm nhận được 02 đơn khởi
kiện của H đề ngày 11/3/2024, trong đó 1 đơn đối với Lường TL chủ tài
khoản Facebook “Hùng Con” phải chịu trách nhiệm hành vi tuyên truyền thông tin
H lừa đảo chiếm đoạt tài sản gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, danh dự của H, 01 đơn
kin V, T có nội dung yêu cầu làm rõ hành vi khiếu kiện và tuyên truyền thông tin sai
sự tht của V và T làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của bà H, như vậy 02 đơn của
H thuộc trường hợp tố giác tội phạm, không liên quan đến vụ án này nên không có
căn cxem xét.
+ Tòa án không ban hành quyết định phân công thẩm phán, thụ lý vụ án đúng
hạn, kéo dài vụ việc giải quyết gần 7 tháng không thụ lý mà không trlời cho bà, tuy
nhiên: Ngày 20/01/2025 và ngày 11/3/2025 Tòa án nhận được đơn khởi kiện và đơn
sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện của H, ngày 24/3/2025 Tòa án thlý, phân công
thẩm phán giải quyết và tống đạt cho H, như vậy đúng theo quy định tại Điu
191, Điều 193, Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự, không có việc kéo dài thời gian thụ
lý vụ án.
+ Bỏ sót yêu cầu khởi kiện, quan hệ tranh chấp pháp luật cần giải quyết: Bà H
cho rằng anh V, anh T đã gửi đơn khiếu nại bà không đúng, ảnh hưởng đến danh d,
nhân phẩm, uy tín của bà nên bà yêu cầu anh V, anh T bồi thường thiệt hại
584.100.000 đồng và công khai xin lỗi bà nên Tòa án sơ thẩm xác định đây là vụ án
dân sự “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”
cũng chính quan hệ pháp luật “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” nhưng việc
ghi theo đúng yêu cầu của nguyên đơn là đảm bảo chính xác, giải quyết đầy đủ theo
yêu cầu khởi kiện của bà H đảm bảo đúng khoản 6 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
14
+Tòa án không đối chất những lần tố cáo của anh V, anh T: Lời trình bày của
anh V, anh T không mâu thuẫn với nhau không mâu thuẫn với các đương sự khác,
tài liệu, chứng cứ khác, do vậy Tòa cấp thẩm không đối chất căn cứ, đúng
theo quy định tại Điều 100 Bộ lut tố tụng dân sự.
+ Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm trong việc chuyển hồ sơ trái pháp luật, kéo dài
thời gian giải quyết vụ án gấp 3 thời hạn luật định: Do tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ
án thì bị đơn anh V đã xuất khẩu sang Nhật Bản chưa biết địa chỉ cụ thđâu nên
ngày 12/5/2025 Tòa án đã chuyển hồ đến Tòa án tỉnh Lai Châu giải quyết theo
thẩm quyền. Quá trình thụ lý, nghiên cứu hồ sơ thấy chưa đủ căn cứ chứng minh có
mối quan hệ tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mối quan hnhân
qugiữa hậu quả, hành vi gây thiệt hại của anh V gây ra cho bà H theo quy định của
Bộ luật dân sự, do đó ngày 22/5/2025, Tòa án tỉnh Lai Châu đã trlại hồ vụ án
cho Tòa án cấp thẩm giải quyết; Ngày 26/5/2025 Tòa án cấp sơ thẩm thụ gii
quyết lại vụ án, ngày 25/8/2025 đưa vụ án ra xét xử là đúng theo quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự;
+ Bà H cho rằng anh V đang ớc ngoài nhưng Tòa án không ủy thác tống
đạt văn bản tố tụng cho anh V mà thực hiện niêm yết là vi phạm; Anh V không tham
gia phiên tòa để đối chất với H không đúng. Tuy nhiên do anh V đang c
ngoài, không địa chỉ cụ thể, anh V có bố, mẹ đang ở ờng Kinh, bản thân anh
V nơi cư trú cuối cùng tại Mường Kim – Than Uyên nên theo quy định của Luật
tương trợ pháp thông 12/2016 giữa Bộ pháp, Bộ ngoại giao Tòa án
nhân dân tối cao thì việc ủy thác tư pháp tống đạt văn bản tố tụng cho anh V không
thực hiện được, do đó Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện niêm yết là đúng theo Điều 176
Bộ luật tố tụng n sự. n việc anh V không than gia phiên tòa quyền lợi ca
người tham gia tố tụng, tại phiên tòa thẩm, phúc thẩm anh V đều đơn xin xét
xử vắng mặt, Hội đồng xét xử cũng đã hỏi quan điểm của bà H nhưng H đu
không có ý kiến gì nên Tòa án đã tiến hành xét xửđúng theo quy định tại các Điều
227, Điều 228, Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Tòa án cấp sơ thẩm đã bỏ qua chứng cứ quan trọng là kết luận của Công an
huyện Than Uyên, phòng Lao động TB&XH huyện Than Uyên; Các lần tcáo của
anh V, anh T đều chứng cứ, chứng minh nhưng Tòa án không thu thập đầy đủ,
không đánh giá, không đưa vào nhận định trong bản án; Vi phạm trong việc xác định
ch thể, bỏ lọt yếu tố gây hiểu lầm xuất phát từ nguyên nhân của công văn số
409/GGT PLDTBXH ngày 14/8/2023 của huyện Than Uyên ghi sai tên công ty,
sai chức danh của bà H, căn nguyên khiến Công ty Bình Minh ra văn bản sai sự thật,
căn nguyên khiến danh dự, nhân phẩm của H bảnh hưởng, blọt nguyên nhân
trực tiếp gây tranh chấp. Trên sở các tài liệu, chứng cứ do các đương scung cấp,
thu thập, xác minh, Tòa án cấp thẩm đã nhận định, đánh giá T diện trong bản án
và giải quyết vụ án theo đúng với yêu cầu khởi kiện của bà H và quan hệ tranh chấp,
do vậy ý kiến của H là không có căn cứ.
15
Như vậy Tòa án cấp thẩm không vi phạm thủ tục tố tụng trong qtrình
giải quyết vụ án nên kháng cáo của bà H về việc đề nghcấp phúc thẩm hủy bản án
sơ thẩm là không có căn cứ chấp nhận.
Nguyên đơn bà Vũ Thị H còn kháng cáo
nghcấp phúc thẩm xét xử theo hướng buộc anh V, anh T xin lỗi công khai,
bồi thường thiệt hại cho bà H tổng số tin bà u cầu là 584.100.000 đồng.
Như đã phân tích mục 2.1: Hành vi của gửi đơn đề nghquan nhà nước xem
xét số tin đã chuyển cho ông Trần Văn T1 từ việc tư vấn củaVũ Thị H là có căn
cứ không xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà H nên anh V, anh T không có trách
nhiệm phải bồi thường cho H, do đó nội dung kháng cáo này của H không
có căn cứ chấp nhận.
+Kiến nghị Tòa án xem xét trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vu khống của
nhóm V – T – Lương Chí L – Lò Văn H:
Tại cấp thẩm H không yêu cầu này, mặt khác c tài liệu chứng cứ
trong hồ sơ vụ án không có căn cứ xác định các bị đơn là anh V, anh T có hành vi vu
khống H; Hơn nữa hành vi vu khống thuộc dấu hiệu hình sự không giải quyết trong
vụ án dân sự, do vậy kháng cáo củaH không có căn cứ chp nhận.
Sau khi nhận được bản án sơ thẩm, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Trần Văn T1 kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy T bộ bản án, giao hồ sơ
cho Tòa án cấp thẩm giải quyết lại từ đầu để đảm bảo đầy đquyền lợi ích cho
H và ông T1.
Tại mục 1 đã nhận định ông T1 từ bquyền kháng cáo. Tuy nhiên qua nghiên
cứu đơn kháng cáo của ông T1, xem xét T bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ
vụ án thấy Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết đánh giá đầy đủ ý kiến của ông T1 đối với
công ty Bình Minh gồm:
+ Yêu cầu công ty Bình Minh trả tin ng tuyển dụng đối với học viên Lò n
V, Văn T theo thỏa thuận mỗi người 25.000.000 đồng cho ông T1;
+ Yêu cầu Công ty Bình Minh bồi thường thiệt hại 50.000.000 đồng cho ông
T1 vì ban hành công văn số 016 sai sự tht;
+ Yêu cầu xử lý tiền của người lao động thiếu minh bạch,
+ Yêu cầu công khai số tài khoản của Công ty,
+ Yêu cầu phong tỏa số tiền 25.000.000 đồng thuộc quyền quản , sỡ hữu ca
ông Bùi Hữu T3;
+ Buộc ông Bùi Hữu T3 công ty nh Minh không được tẩu tán, chuyển
dịch tài sản che giấu tài sản liên quan đến khoản tiền trên;
16
Ông Trần Văn T1 còn yêu cầu xác định rõ hành vi vi phạm của anh Lò Văn V
Lù Văn T tổ chức nhiều lần cố tình vu khống tố cáo, khiếu nại, kiến nghị
phản ánh sai sthật, cố ý cung cấp thông tin gian dối trước quan quản n
ớc, không tuân thủ pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự nhân phẩm,
đạo đức nghề nghiệp của H gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài chính, tinh thần,
sức khỏe, mất thu nhập, tổn thất tinh thần, chi phí đi lại làm việc với quan chức
năng, đề nghị công nhận biên bản làm việc ngày 07/12/2023 tại công an huyện Than
Uyên là chứng cgốc để bảo vệ quyền lợi cho H, bác bỏ T bộ tài liệu, tin nhắn
Zalo.
Ông Trần Văn T1người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án của bà
Vũ Thị H kiện đòi bồi thường thiệt hại do hành vi đơn thư khiếu nại của hai bị đơn
V, T nên các yêu cầu nêu trên của ông T1 đối với công ty Bình Minh ông Bùi Hữu
T3 không liên quan vụ án; yêu cầu công nhận biên bản làm việc ngày 07/12/2023 tại
công an Than Uyên là văn bản của quan nhà nước, được đánh giá đầy đủ trong v
án; ông T1 không đưa được căn cứ nào chứng minh cho các tin nhắn zalo sai; hành
vi thu tiền của ông T1, ông T3 và anh V đã được đánh giá, giải quyết bằng bản án đã
có hiệu lực pháp luật (bản án số 01/2024/DS-PT, ngày 27/12/2024); việc xác định rõ
hành vi của hai bị đơn V, T đối với H chính yêu cầu của H đang giải quyết
trong vụ án. vậy, cấp thẩm đánh giá đầy đủ các yêu cầu y không chp
nhận là phù hợp.
Như vậy, đánh giá của cấp thẩm đã đảm bảo đúng theo quy định của pháp
luật, quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự, do vậy kháng cáo của ông T1
không có căn cứ.
Từ những nhận định, phân tích trên yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên
đơn không căn cứ. vậy cấp thẩm giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện ca nguyên đơn s. Tại phiên tòa phúc thẩm, H không xuất trình
thêm chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án. Do vậy, đnghcủa Viện kiểm sát
không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà H, giữ nguyên Bản án số
02/2025/DS- ST ngày 28/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2- Lai Châu là phù
H1 với nhận định của Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của nguyên đơn
Thị H không được chấp nhập phải chịu án phí. Tuy nhiên bà H khởi kiện yêu cầu bồi
thường thiệt hại thuộc trường H1 được miễn tiền án phí, H đã đơn xin min
tiền án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà H theo điểm d
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm d khoản 1 Điều
12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y
17
ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Vũ Thị H.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2025/DS-ST ngày 28 tháng 11 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2- Lai Châu.
2. Về án phí n sphúc thẩm: Nguyên đơn Vũ ThH được miễn án phí
dân sự phúc thẩm.
3. Các Quyết định khác của bản án dân sự thẩm số: 02/2025/DS-ST ngày
28/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2- Lai Châu không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhn:
- Các đương sự;
- VKSND tỉnh Lai Châu;
- TAND khu vực 2,
- VKSND khu vực 2 ;
- THADS tỉnh Lai Châu;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHTỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thu Hà
18
Tải về
Bản án số 07/2026/DS-PT Bản án số 07/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 07/2026/DS-PT Bản án số 07/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất