Bản án số 06/2023/DS-ST ngày 10/03/2023 của TAND huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 06/2023/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 06/2023/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 06/2023/DS-ST ngày 10/03/2023 của TAND huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Yên Thế (TAND tỉnh Bắc Giang) |
| Số hiệu: | 06/2023/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 10/03/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | luận |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ
TỈNH BẮC GIANG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ
TỈNH BẮC GIANG
Bản án số: 06/2023/DS-ST
Ngày 10/3/2023
V/v: "tranh chấp hợp đồng đặt cọc”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên
- Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Hải Đăng.
2. Ông Dương Ngô Phiên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên
Ngày 10/3/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế mở phiên toà
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 104/2022/TLST- DS ngày 06
tháng 7 năm 2022 về việc “tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-DS ngày 10/02/2023, Quyết định tạm ngừng
hoãn phiên tòa số 12/2023/QĐST-DS ngày 22/02/2023 và Quyết định hoãn
phiên tòa số 22 ngyày 03/3/2023 giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1976 (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn Trại Đ, xã Đồng K, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền của anh Luận: Chị Nguyễn Thị Minh Th,
sinh năm 1988. (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn Luộc G, xã Tân H, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
+ Bị đơn: Anh Lê Văn Th, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1971 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn S, xã Tân S, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
+ Người đại diện theo ủy quyền của anh T, chị H:
- Anh Nguyễn Đức Kh, sinh năm 1968 (có mặt)
- Anh Lương Văn T, sinh năm 1973 (có mặt)
2
Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ 1, thị trấn K, Lạng Giang, Bắc Giang.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Th, chị H là ông Giáp
Quang K – Luật sư, Công ty Luật TNHH Nam Bạch Đ, thuộc Đoàn luật sư tỉnh
Bắc Giang. (có mặt)
Địa chỉ: Số 90. Đường Hùng V, phường Hoàng Văn T, thành phố Bắc
Giang, tỉnh Bắc Giang.
+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đỗ Ngọc C, sinh năm 1941(vắng mặt)
- Bà Ninh Thị H, sinh năm 1949(vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ 1, thị trấn K, Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông C, Bà H
- Anh Nguyễn Đức Kh, sinh năm 1968 (có mặt)
- Anh Lương Văn T, sinh năm 1973 (có mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ 1, thị trấn K, huyện Lạng Giang, Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong hồ sơ, tại phiên tòa, nguyên đơn và
người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Anh L và vợ chồng chị H, anh Th có thỏa thuận mua bán các thửa đất
gồm thửa số 211, 306, 210, 36, 22, 44, 34, 35 tờ bản đồ số 24, và 19 ở thôn Trại
Đ, xã Đồng K, huyện Yên Thế với giá 3.070.000.000đ (ba tỷ không trăm bẩy
mươi triệu đồng), tổng diện tích 14.800.50 m² đất. Các thửa đất đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng mang tên chủ sử dụng ông Đỗ Ngọc C, khi mua
đất anh L đã được anh Th, chị H nói rõ về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là
của ông C, vợ chồng chị H chỉ là người đứng ra bán hộ và cam kết đầy đủ giấy
tờ về pháp lý. Ngày 22/3/2022 anh L đã ký hợp đồng đặt cọc giao số tiền
200.000.000 đ (hai trăm triệu đồng) cho anh Th, chị H nhận đầy đủ. Khi ký hợp
đồng đặt cọc trong hợp đồng đã thỏa thuận thống nhất trong thời hạn 60 ngày kể
từ ngày ký hợp đồng đặt cọc, anh Th, chị H có trách nhiệm hoàn thiện đầy đủ
các thủ tục các giấy tờ về mặt pháp lý để cùng nhau qua phòng công chứng ký
giấy tờ hợp đồng chuyển nhượng sang tên, bên mua có trách nhiệm chuyển nốt
số tiền còn lại và nộp tiền lệ phí sang tên. Đến hẹn (ngày 22/5/2022) vợ chồng
anh L, vợ chồng chị Th có sang nhà anh Th, chị H để thực hiện hợp đồng chuyển
nhượng theo thỏa thuận nhưng khi sang đến nơi thì anh Th, chị H có nói là giấy
tờ chưa đầy đủ pháp lý nên chưa làm thủ tục công chứng sang tên được, còn việc
tại sao giấy tờ pháp lý chưa đầy đủ thì không rõ hơn nữa hôm đó vào ngày chủ
nhật ngày nghỉ nên phòng công chứng không làm việc. Anh L yêu cầu làm lại
hợp đồng đặt cọc đứng tên chính chủ là ông C nhưng phía anh Th, chị H không
3
đồng ý làm lại hợp đồng mà đề nghị gia hạn 15 ngày nhưng anh L không đồng ý
nên hai bên sảy ra mâu thuẫn. Do anh Th, chị H vi phạm thời hạn hợp đồng đặt
cọc nên anh đòi lại tiền cọc 200.000.000 đồng và tiền sửa đường 10.000.000
đồng nhưng anh chị Th, H không trả lại tiền. Nay anh L yêu cầu chị H, anh Th
phải trả lại số tiền 200.000.000 đồng tiền đặt cọc mua đất, số tiền phạt cọc
400.000.000 đồng và 10.000.000 đồng tiền sửa đường do vi phạm hợp đồng.
Tổng cộng là 610.000.000 đồng (sáu trăm mười triệu đồng). Quá trình giải quyết
vụ án thì anh L và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu
về số tiền phạt cọc và số tiền sửa đường đến nay chỉ yêu cầu anh Th chị H trả lại
tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
- Theo biên bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn và
người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Bố mẹ của anh Th, chị H là ông Đỗ Ngọc C và bà Ninh Thị H do tuổi cao
và không có nhu cầu sử dụng đất nên đã ủy quyền cho vợ chồng anh Th, chị H
bán 07 thửa đất gồm các thửa đất số 211, 210, 306, 22, 44, 34, 35 tờ bản đồ số
24, 19 ở Trại Đ, xã Đồng K, huyện Yên Thế. Vợ chồng anh giao bán đất thì anh
Nguyễn Văn L là hàng xóm có sang xem đất, sổ đỏ của 7 thửa đất và có nhu cầu
mua 7 thửa đất trên với số tiền là 3.070.000.000đ (ba tỷ không trăm bẩy mươi
triệu đồng), tổng diện tích 14.800.50 m² đất. Anh L đã đặt cọc trước
200.000.000đ (hai trăm triệu đồng), hẹn hai tháng sẽ chuyển nốt tiền và làm thủ
tục sang tên. Ngày 22/3/2022 anh L là người viết hợp đồng đặt cọc
200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) và giao tiền cọc đất cho vợ chồng anh chị đã
nhận tiền cọc. Trong hợp đồng đặt cọc anh L có ghi rõ trong thời gian 2 tháng
(60 ngày) nếu vợ chồng anh không bán đất thì vi phạm hợp đồng và bị phạt cọc
trả anh L số tiền là 600.000.000đ (sáu trăm triệu đồng). Trường hợp anh L
không mua đất thì sẽ bị mất số tiền đã đặt cọc 200.000.000đ (hai trăm triệu
đồng), anh L phải chịu trách nhiệm nộp thuế và chi phí anh L phải chịu. Sau khi
anh L đặt cọc được khoảng 5 đến 6 ngày anh L có san cổng làm đường vào cho
rộng. Gần đến ngày hẹn anh chị có gọi điện cho anh L nhắc nhở về việc sắp đến
ngày thực hiện việc giao dịch chuyển tiền, hoàn tất thủ tục mua bán đất và bảo
anh L là ngày 22/5/2022 là chủ nhật các cơ quan nhà nước không làm việc thì
chuyển ngày giao dịch lên trước. Anh L cũng nhất trí và nói đang tiến hành thu
xếp tiền. Đến ngày 19/5/2022 anh L có gọi điện nói là ngày 22/5 là chủ nhật thì
chuyển sang tuần sau để thực hiện giao dịch nhưng đến khoảng 15 giờ chiều
ngày 22/5/2022 anh L cùng vợ chồng chị Th là người đi cũng anh L từ khi đặt
tiền cọc cùng và một người phụ nữ lạ đến nhà anh và bảo vợ chồng anh là chị
làm việc với đứa kia (tức người phụ nữ lạ kia) đấy mới là chủ mua đất còn anh L
chỉ là cò thôi, sau đó anh L bỏ đi. Do không biết người phụ nữ này nên anh, chị
4
không đồng ý làm việc. Sau đó anh có đưa bố anh là ông C mang sổ đỏ sang đưa
cho anh L để thực hiện giao dịch mua bán. Khi mang giấy tờ sang thì anh có bảo
anh L là chuyển tiền để ký kết hợp đồng, anh Luận lúc này cứ nói là anh chỉ là
người môi giới chứ anh không có tiền mua đất, người phụ nữ kia cũng đã bỏ đi
nên anh chị và anh L cùng thỏa thuận miệng lùi thời gian giao dịch lại tuần sau
nhưng không nói rõ vào ngày cụ thể nào. Đến ngày 26/5/2022 anh chị có điện
thoại cho anh L mục đích để thống nhất ngày giao dịch nhưng anh L không nghe
máy, anh chị nhắn tin anh L cũng không thấy trả lời, cho đến ngày 27/5 anh chị
có điện cho anh L để hẹn ngày thực hiện giao dịch anh L có nói để tối trả lời,
nhưng sau đó anh L không gọi điện lại, nhiều lần anh chị gọi điện giục lúc thì
anh L nghe máy lúc thì không nghe máy nếu có nghe máy thì anh L cũng chỉ
khất là đang giục người ta chứ không quyết được. Đến nay gia đình anh chị vẫn
có thiện chí bán cho anh L chứ không phá cọc, anh L không mua do lỗi của anh
L chứ không phải do vợ chồng anh chị. Nay anh, chị khẳng định các thửa đất
trên là của bố mẹ anh, chị đã ủy quyền cho vợ chồng anh chị bán hộ, khi mua
bán anh L đã biết rất rõ về nguồn gốc đất. Nay anh L đòi lại tiền đặt cọc và phạt
cọc + tiền sửa đường là 610.000.000đ (sáu trăm mười triệu đồng) anh chị không
đồng ý trả vì vẫn đồng ý bán, anh L không mua là do lỗi của anh L nên anh L
phải mất số tiền đã đặt cọc như trong hợp đồng đã ghi.
Ngày 31-8-2022 anh Lê Văn Th và chị Đỗ Thị H đã nộp đơn yêu cầu phản
tố và nộp tạm ứng án phí và được Tòa án thụ lý yêu cầu phản tố ngày 05/9/2022
theo đó anh Th, chị H đề nghị Tòa án xử lý buộc bên mua phải chịu trách nhiệm
do vi phạm hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất và phải mất tiền cọc đã đặt theo hợp đồng đã ký kết. Quá trình giải
quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo uỷ quyền của anh Th chị H chỉ
đồng ý trả lại anh Lsố tiền 120.000.000 đồng.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Th, chị H là luật sư
Giáp Quang Kh trình bày:
Đối với các thửa đất trong hợp đồng có đủ điều kiện giao dịch theo khoản
1 Điều 188 luật đất đai, bị đơn vẫn đồng ý bán đất cho nguyên đơn và giữ
nguyên yêu cầu phản tố không đồng ý với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Đỗ Ngọc C và bà Ninh Thị
H và người đại diện theo uỷ quyền của ông C, bà H là anh Kh, anh T trình bày:
Ngày 22/2/2022 vợ chồng ông C, bà H có ủy quyền cho anh Th, chị H bán
hộ 07 thửa đất gồm 211, 306, 210, 36, 22, 44, 34, 35 tờ bản đồ số 24, và 19 ở
thôn Trại Đ, xã Đồng K, huyện Yên Thế với giá 3.070.000.000đ (ba tỷ không
trăm bẩy mươi triệu đồng), hai bên giao kết hợp đồng đặt cọc, sau khi nhận tiền
đặt cọc thì chị H đã chuyển đủ số tiền cọc cho ông bà, nay ông bà không đồng ý
5
trả lại số tiền cọc này.
- Đại diện VKSND huyện Yên Thế phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp
luật trong quá trình giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán,
Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ
theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Việc chấp hành pháp luật
của các đương sự đảm bảo.
Về nội dung:
- Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn L về
việc buộc anh Lê Văn Th, chị Nguyễn Thị H phải liên đới trả cho anh Nguyễn
Văn L số tiền đặt cọc 200.000.000đồng (hai trăm triệu đồng).
- Đình chỉ phần yêu cầu của anh Nguyễn Văn L về việc yêu cầu anh Th,
chị H phải trả số tiền phạt cọc là 400.000.000 đồng và số tiền sửa đường là
10.000.000 đồng.
- Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc nguyên đơn phải chịu
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
tài sản gắn liền với đất và phải mất tiền cọc đã đặt theo hợp đồng đã ký kết.
- Trả lại anh Lê Văn Th số tiền 5.000.000 đồng tạm ứng án phí do anh Th
đã nộp theo biên lai thu số 0008892 ngày 31/8/2022 tại Chi cục thi hành án
huyện Yên Thế.
- Về án phí: Buộc anh Lê Văn Th, chị Nguyễn Thị H phải chịu 10.000.000
đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Trả lại anh Nguyễn Văn L số tiền 10.200.000 đồng (do chị Nguyễn Thị
Minh Th nộp thay) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008842 ngày
05/6/2022 tại Chi cục thi hành án huyện Yên Thế.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào ý kiến đề nghị của các đương sự. Căn cứ vào kết quả thảo
luận nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ
án: Anh L khởi kiện anh Th, chị H có nơi cư trú tại Thôn S, xã Tân S, huyện
Yên Thế, tỉnh Bắc Giang yêu cầu trả số tiền đặt cọc nên đây là quan hệ pháp luật
về “tranh chấp hợp đồng đặt cọc” nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân huyện Yên Thế theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu khởi kiện đòi tiền đặt cọc của anh L:
[2.1] Về nội dung hợp đồng đặt cọc:
6
Ngày 22/3/2022, anh L với vợ chồng anh Th, chị H có lập “Hợp đồng đặt
cọc” có nội dung như sau: Anh Th, chị H đồng ý chuyển nhượng cho anh L 07
thửa đất gồm các thửa số 211, 306, 210, 36, 22, 44, 34, 35 tờ bản đồ số 24, và 19
ở thôn Trại Đ, xã Đồng K, huyện Yên Thế với giá 3.070.000.000đ (ba tỷ không
trăm bẩy mươi triệu đồng), tổng diện tích 14.800.50 m² đất. Anh L đặt cọc cho
anh Th, chị H số tiền 200.000.000 đồng. Nếu anh L không mua thửa đất trên thì
sẽ mất số tiền đặt cọc; anh Th, chị H không bán với bất kỳ lý do gì thì sẽ bị phạt
cọc gấp 03 lần số tiền đặt cọc; anh Th, chị H có trách nhiệm làm thủ tục giấy tờ
pháp lý, còn bên mua là anh, lệ phí công chứng.
[2.2]. Quá trình thực hiện hợp đồng:
Từ khi ký hợp đồng đặt cọc cho đến khi các bên xẩy ra tranh chấp và quá
trình tố tụng tại Tòa án, anh Th, chị H vẫn đồng ý bán đất với giá trị thỏa thuận
nhưng khi đến hạn theo thời hạn trong hợp đồng thì anh L đến nhà anh Th, chị H
thì phía anh Th chị H chưa thực hiện xong thủ tục giấy tờ nhân thân của ông Đỗ
Ngọc C về thay đổi địa chỉ cư trú giữa chứng minh nhân dân và căn cước công
dân để đăng ký biên động với địa chỉ cư trú theo quy định dẫn đến các bên mâu
thuẫn anh Lđề nghị làm lại hợp đồng với chính chủ là ông C nhưng anh Th, chị
H không đồng ý mà đề nghị gia hạn 15 ngày nhưng các bên không thống nhất
được nên không thực hiện được hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
như đã giao kết trong hợp đồng đặt cọc. Do đó anh L không mua đất mà yêu cầu
trả tiền cọc nhưng anh Th chị H không đồng ý cho đến nay , anh Th, chị H chỉ
đồng ý trả lại anh L số tiền 120.000.000 đồng đặt cọc nhưng anh L không đồng ý
mà yêu cầu anh Th, chị H phải trả lại số tiền 200.000.000 đồng đặt cọc.
[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1]. Trên cơ sở hợp đồng đặt cọc ngày 22/3/2022 và quá trình thực hiện
hợp đồng, Hội đồng xét xử thấy: Khi lập hợp đồng đặt cọc ông C, bà H không có
mặt, trong hợp đồng cũng không có chữ ký của ông C, bà H, mặc dù ông C, bà H
đã có giấy ủy quyền ngày 20/2/82022 cho vợ chồng anh Th, chị H bán đất nhưng
giấy ủy quyền chưa đúng theo trình tự thủ tục ủy quyền do đó hợp đồng đặt cọc
ký chưa đảm bảo về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, ông C, bà H
có trình bày là trước khi ký hợp đồng đặt cọc có ý chí ủy quyền cho anh Th, chị
H thực hiện các giao dịch giao kết hợp đồng. Anh L đã đặt cọc 200.000.000
đồng cho vợ chồng anh Th. Thời hạn đặt cọc là trong 60 ngày kể từ ngày
22/3/20220 đến 22/5/2022. Đến ngày 22/5/2022 anh Th, chị H chưa làm được
thủ tục giấy tờ liên quan của ông C để ký hợp chuyện nhượng sang tên cho anh
L và đề nghị gia hạn thêm 15 ngày nhưng anh L không đồng ý. Theo sự thừa
nhận của các bên đương sự, phù hợp với nội dung hợp đồng đặt cọc do anh L
giao nộp, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định được. Anh L có nhu cầu mua
7
07 thửa đất gồm các thửa số 211, 306, 210, 36, 22, 44, 34, 35 tờ bản đồ số 24, và
19 ở thôn Trại Đ, xã Đồng K, huyện Yên Thế với giá 3.070.000.000đ (ba tỷ
không trăm bẩy mươi triệu đồng), Trong hợp đồng đặt cọc ghi rõ số tiền
200.000.000 đồng đặt cọc. Sau khi ký kết đặt cọc thì để thành lập hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang tên thì phải làm thủ tục pháp lý hợp
pháp về giấy tờ của ông C (cụ thể thay đổi địa chỉ nơi cư trú giữa chứng minh
nhân dân với căn cước công dân và đăng ký biến động) nhưng khi đến hạn thì
các thủ tục, giấy tờ của ông C chưa đầy đủ mà thủ tục này theo thỏa thuận trong
hợp đồng là bên bán,( tức nhận đặt cọc là anh Th, chị H) phải có nghĩa vụ thực
hiện theo cam kết nhưng đã không thực hiện được là vi phạm. Việc các bên lập
hợp đồng đặt cọc ngày 22/3/2022 là để đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng không giao kết được. Bởi lẽ, sau khi
ký hợp đồng đặt cọc, thời hạn là 60 ngày để hoàn thiện thủ tục nhưng anh Th,
chị H không đảm bảo thủ tục là vi phạm Điều 3, Điều 4 của hợp đồng đặt cọc là
nguyên nhân dẫn đến không giao kết được. Mặc dù anh Thô, chị H phải biết
được khi tiến hành thủ tục giấy tờ pháp lý do chính mình đang quản lý đã cam
kết thực hiện trong thời hạn 60 ngày nhưng chưa làm được, ý thức được khó
khăn phức tạp nhưng vẫn cam kết thực hiện được trong thời hạn 60 ngày (từ
ngày 22/3/2022 - ngày 22/5/2022). Quá trình giải quyết vụ án chị H trình bày có
đề nghị gia hạn thêm 15 ngày và bên phía gia đình chị H có tự viết thêm phía
mặt sau của bản hợp đồng đặt cọc nhưng không có chữ ký của các bên. Sau đó
chị H có nhắn tin nhiều lần cho anh L để yêu cầu giao dịch hợp đồng chuyển
nhượng nhưng các tin nhắn đều thực hiện sau ngày 22/5/2022 (ngày cuối cùng
của thời hạn 60 ngày) và anh L không trả lời lại. Ngoài ra phía đại diện theo ủy
quyền của chị H, anh Th có cung cấp 02 bản ghi âm cuộc gọi giữa chị H và anh
L vào ngày 27/5/2022 và ngày 03/6/2022 đều là sau ngày sau ngày 22/5/2022
(ngày cuối cùng của thời hạn 60 ngày).
[3.2]. Từ những phân tích trên, cho thấy căn cứ các thỏa thuận của hợp
đồng đặt cọc thì đến thời hạn mà anh Th, chị H vẫn chưa làm xong thủ tục giấy
tờ pháp lý như đã thỏa thuận với anh L là vi phạm nghĩa vụ của bên nhận đặt cọc
theo quy định tại Điều 328 Bộ luật dân sự. Nay anh L khởi kiện yêu cầu anh Th,
chị H trả lại tiền cọc là có căn cứ, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh
L, buộc anh Th, chị H phải trả cho anh L 200.000.000đồng tiền đặt cọc như đề
nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế là phù hợp.
[3.3] Về yêu cầu khởi kiện đòi tiền phạt cọc và bồi thường của anh L:
Tại đơn khời kiện anh L yêu cầu chị H, anh Th phải trả lại số tiền
200.000.000 đồng đặt cọc mua đất, số tiền phạt cọc 400.000.000 đồng và
10.000.000 đồng tiền sửa đường do vi phạm hợp đồng. Tổng cộng là

8
610.000.000đ (sáu trăm mười triệu đồng) nhưng tại đơn xin rút một phần yêu
cầu khởi kiện ngày 11/01/2023, tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải
ngày 11/01/2023 cũng tại phiên tòa anh L và đại diện theo ủy quyền của anh L
là chị Th đã rút phần yêu cầu về số số tiền phạt cọc là 400.000.000 đồng và
10.000.000 đồng tiền sửa đường. HĐXX thấy việc rút một phần yêu cầu này là
tự nguyện nên cần đình chỉ phần yêu cầu về số số tiền phạt cọc là 400.000.000
đồng và 10.000.000 đồng tiền sửa đường theo khoản 2 Điều 244 BLTTDS là phù
hợp.
[4] Về yêu cầu phản tố của bị đơn:
Theo đơn phản tố ngày 29/8/2022 do anh Th, chị H nộp đã được Tòa án
thụ lý yêu cầu phản tố, tuy nhiên qua xem xét HĐXX thấy đây không phải là yêu
cầu phản tố theo Điều 200 BLTTDS mà chỉ là ý kiến của bị đơn đưa ra để phản
đối lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa HĐXX đã giải thích
nhưng L sư và người đại diện của bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến nên HĐXX
không xem xét yêu cầu này. Về số tiền 5.000.000 đồng tạm ứng án phí do anh
Th đã nộp theo biên lai thu số 0008892 ngày 31/8/2022 tại Chi cục thi hành án
huyện Yên Thế được hoàn trả lại anh Lê Văn Th số tiền 5.000.000 đồng tạm ứng
án phí do anh Th đã nộp theo biên lai thu số 0008892 ngày 31/8/2022 tại Chi cục
thi hành án huyện Yên Thế.
[5] Về nghĩa vụ trả nợ: Trong hợp đồng đặt cọc có cả anh Th và chị H đều
tham gia giao kết hợp đồng đặt cọc và nhận tiền đặt cọc nên anh Th, chị H phải
liên đới có trách nhiệm trả tiền cho anh L.
[6]. Theo quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự 2015 quy định về hậu quả
pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu: Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên
khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả nhau những gì đã nhận; trường hợp
không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền...bên có lỗi gây
thiệt hại thì phải bồi thường”. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại
phiên tòa Toà án đã giải thích cho các đương sự về quyền yêu cầu giải quyết hậu
quả, nhưng các đương sự đều không yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả. Vì vậy,
Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của anh L được chấp nhận nên anh Th,
chị H phải chịu 10.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản
2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ
ban thường vụ Quốc hội.
- Anh L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại anh Nguyễn
Văn L số tiền 10.200.000 đồng (do chị Nguyễn Thị Minh Th nộp thay) tạm ứng
án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008842 ngày 05/6/2022 tại Chi cục thi hành
án huyện Yên Thế.
9
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định
tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 144, Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 , khoản 2 Điều 244 Bộ luật
tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 122, Điều 328, Điều 428, khoản 2
Điều 468 của Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 26, khoản 4 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn L về việc buộc anh
Lê Văn Th, chị Đỗ Thị H phải trả cho anh Nguyễn Văn L số tiền đặt cọc
200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn
đề nghị thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành
không đầy đủ thì phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều
468 Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền chậm trả ở thời điểm thanh toán.
2. Đình chỉ phần yêu cầu của anh Nguyễn Văn L về việc yêu cầu anh Lê
Văn Th, chị Đỗ Thị H phải trả số tiền phạt cọc là 400.000.000 đồng và số tiền
sửa đường là 10.000.000 đồng.
3. Về án phí:
- Buộc anh Lê Văn Th, chị Đỗ Thị H phải chịu 10.000.000 đồng án phí
dân sự sơ thẩm.
- Trả lại anh Lê Văn Th số tiền 5.000.000 đồng tạm ứng án phí do anh Th
đã nộp theo biên lai thu số 0008892 ngày 31/8/2022 tại Chi cục thi hành án
huyện Yên Thế.
- Trả lại anh Nguyễn Văn L số tiền 10.200.000 đồng (do chị Nguyễn Thị
Minh Th nộp thay) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008842 ngày
05/6/2022 tại Chi cục thi hành án huyện Yên Thế.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết
bản án.
10
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tinh Bắc Giang;
- VKSND tỉnh Bắc Giang;
- VKSND huyện Yên Thế;
- CCTHA huyện Yên Thế;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Duyên
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng